Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN YÊN MÔ – TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HSST

Ngày 16/4/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ – TỈNH NINH BÌNH

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoa

Các Hội thẩm nhân dân: - Ông Vũ Đức Tuấn

- Ông Lê Văn Bình

Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Mô.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô tham gia phiên tòa: Bà Trịnh Thị Loan - Kiểm sát viên.

Ngày 16/4/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Mô xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 10/2024/TLST - HS ngày 20 tháng 3 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST - HS ngày 04 tháng 4 năm 2024 đối với:

* Các bị cáo:

1. Mai Thế A, sinh năm 1978 tại huyện Y, tỉnh Hòa Bình; nơi cư trú: Xóm Y, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Mai Đình H và bà Đinh Thị H1; vợ: Nguyễn Thị Đ (đã ly hôn) và 01 con sinh năm 2007; tiền án: Ngày 12/12/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xử phạt 7 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Ngày 22/11/2022, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù; tiền sự: không. Lịch sử bản thân:

+ Tại bản án số 78/HSST ngày 27/9/2000 của Tòa án nhân dân tỉnh Hòa Bình xử phạt Mai Thế A 7 năm tù về tội “Hiếp dâm”. Ngày 15/12/2005 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

+ Tại bản án số 32/HSST ngày 18/08/2008 của Tòa án nhân dân huyện Nho Quan, tỉnh Ninh Bình xử phạt Mai Thế A 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Ngày 11/12/2009, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 13/9/2023 đến ngày 21/09/2023 chuyển tạm giam, hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

1

2. Tống Duy Tuấn A1, sinh năm 2002 tại xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: Thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tống Duy T và bà Đoàn Thị H2; vợ: Lê Thị H3 và 02 con, con lớn sinh năm 2022; con nhỏ sinh tháng 2/2024; tiền án: không; tiền sự: Ngày 21/10/2020, bị Công an huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác". Bị cáo chưa chấp hành nộp tiền phạt. Lịch sử bản thân: Ngày 16/10/2022, bị Chủ tịch UBND xã Y, huyện Y áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, thời hạn 3 tháng. Ngày 16/01/2023, bị cáo chấp hành xong quyết định xử lý hành chính.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/9/2023 đến ngày 21/09/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N. Có mặt.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Ông Vũ Công Đ1, sinh năm 1973; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Huy T1, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Văn L, sinh năm 1999; nơi cư trú: Xóm B, T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

- Bà Phạm Thị T2– sinh năm 1958; nơi cư trú: SN I, đường P, phố B, Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị N - sinh năm 1989; nơi cư trú: Tổ dân phố H, Thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì vụ án có nội dung như sau:

Hành vi mua bán ma tuý của Mai Thế A và Tống Duy Tuấn A1:

Lần thứ nhất: Chiều ngày 11/7/2023, Tuấn A1 sử dụng tài khoản zalo "Tống Duy Tuấn A1" đăng ký bằng số điện thoại 0338.820.xxx lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone X để liên lạc với Mai Thế A qua tài khoản zalo "M.r Thế A" đăng ký bằng số điện thoại 0976.851.xxx lắp trong chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus hỏi mua ma tuý Methamphetamine với mục đích sử dụng và bán lại cho người khác để kiếm lời. Khoảng 15 giờ 30 phút cùng ngày, Tuấn A1 gọi cho Nguyễn Văn L, sinh năm 1999 trú tại xóm B T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình nói "Anh có rảnh không, lên nhà ông chú ở Hòa Bình thử đồ với em" thì L đồng ý. Sau đó cả hai bắt xe taxi không rõ biển kiểm soát đi từ thị trấn Y, huyện Y đến khoảng 17 giờ cùng ngày thì đến nhà Mai Thế A. Thế A chỉ cho Tuấn A1 vào trong nhà, còn L ngồi xe taxi đợi. Thế A dẫn Tuấn A1

2

vào gian phòng ngủ để trao đổi mua bán ma tuý. Tuấn A1 nói “cháu còn 1 triệu tiền mặt lấy đồ, chú lấy cho cháu” đồng thời để lên mặt bàn 2 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng. Sau đó, Thế A cũng để 01 túi nilon trong suốt được dán kín bên ngoài bằng băng dính màu đen, bên trong đựng ma tuý đá lên mặt bàn, Tuấn A1 cầm túi ma tuý đá trên tay đi ra xe ô tô taxi gặp L và nói với L “em lấy được ít đồ về chơi”. Do trước đây L từng sử dụng ma tuý đá nên mới biết Tuấn A1 vừa mua ma tuý. Sau đó cả hai đi về nhà Tuấn A1. Đến khoảng 1 giờ ngày 12/7/2023 thì về đến nhà ở của Tuấn A1, lúc này Tuấn A1 lấy một phần ma tuý vừa mua cho vào cóng tự chế để sử dụng, số ma túy còn lại Tuấn A1 để trong túi nilon cất giấu mục đích để bán kiếm lời. Khi thấy Tuấn A1 phê ma tuý nên L đã tự sử dụng ma tuý còn lại trong cóng rồi đi ngủ.

Lần thứ hai: Chiều ngày 06/9/2023, Tuấn A1 tiếp tục sử dụng tài khoản Zalo "Tống Duy Tuấn A1" để liên lạc với Mai Thế A qua tài khoản zalo "M.r Thế A" để mua ma tuý với giá tiền 2.000.000đ thì Thế A đồng ý. Khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Tuấn A1 rủ Nguyễn Văn L nói “có lên Hoà Bình tiếp không” thì L đồng ý. Sau đó cả hai tiếp tục đi xe ô tô taxi không rõ biển kiểm soát đi từ thị trấn Y đến nhà của Mai Thế A. Khoảng hơn 20 giờ cùng ngày Tuấn A1 và L tới nhà Thế A. Lần này cả Tuấn A1 và L đi vào nhà Thế A, khi vào trong phòng ngủ, để không cho L biết hành vi mua bán trái phép chất ma tuý nên Thế A yêu cầu L ra ngoài lấy nước uống. Thế A sử dụng cân điện tử cân cho Tuấn A1 1,8 gam ma tuý đá sau đó để trong 01 túi nilon trong suốt được dán kín bên ngoài bằng băng dính màu đen và đưa cho Tuấn A1. Do Tuấn A1 mang theo 500.000 đồng nên nói với Thế A “cháu còn mỗi 500.000 đồng chú cho cháu xin để trả tiền taxi, còn lại tiền 1.500.000 đồng cháu về trả sau” thì Thế A đồng ý. Tuấn A1 cầm túi nilon đựng ma túy đi cùng L về nhà ở của Tuấn A1. Đến khoảng 4 giờ sáng ngày 7/9/2023, Tuấn A1 lấy một phần ma tuý vừa mua để sử dụng. L biết Tuấn A1 mua ma tuý về sử dụng nên L chờ Tuấn A1 phê ma tuý, L tự sử dụng ma tuý còn lại trong cóng sau đó L đi về nhà. Đến 00 giờ 34 phút ngày 12/9/2023, Tuấn A1 sử dụng tài khoản ngân hàng M số 0512200288888 mang tên Tống Duy Tuấn A1 chuyển khoản số tiền 1.500.000₫ đến tài khoản ngân hàng T4 số 2156658668 mang tên Mai Thế A để thanh toán tiền mua ma tuý ngày 6/9/2023 với nội dung “Tong Duy Tuan A2 chuyen khoan".

Hành vi bán ma tuý của Tống Duy Tuấn A1

Sau hai lần mua ma tuý của Mai Thế A, Tuấn A1 chia nhỏ số ma tuý thành nhiều túi nilon rồi cất giấu tại chỗ ở thuộc thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình với mục đích sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời. Khoảng tháng 8/2023 Thế A nói với Nguyễn Huy T1, sinh năm 1994, trú tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình: “lúc nào anh cần lấy đồ gọi em”, T1 hiểu là Tuấn A1 bán ma tuý đá.

T1 sử dụng điện thoại có tài khoản zalo "Cò" được đăng ký bằng số 0373.928.814 liên lạc với Tuấn A1 sử dụng tài khoản zalo "Tống Duy Tuấn

3

A1" đăng ký bằng số điện thoại 0338.820.xxx để liên lạc và lưu giữ số tài khoản 0512200288888 của Tuấn A1 mở tại Ngân hàng M.

Ngày 08/9/2023, Vũ Công Đ1, sinh năm 1973, trú tại tổ dân phố L, phường Y, thành phố T, tỉnh Ninh Bình là đối tượng sử dụng ma tuý, biết Tuấn A1 bán ma tuý nên tìm gặp Nguyễn Huy T1 để hỏi số điện thoại và tài khoản ngân hàng của Tuấn A1 để liên lạc mua ma tuý.

Hành vi mua bán ma tuý giữa Tuấn A1 với Nguyễn Huy T1 và Vũ Công Đ1 cụ thể như sau:

Lần thứ nhất: Vào khoảng 11 giờ ngày 8/9/2023, Vũ Công Đ1 sử dụng điện thoại số 0988.108.xxx liên lạc với số điện thoại 0338.820.xxx của Tống Duy Tuấn A1 để mua ma túy. Vũ Công Đ1 giới thiệu tên là V và hỏi “em có đồ không, để cho anh 2 túi năm” ý của Đ1 là hỏi mua 2 túi ma tuý đá của Tuấn A1 với số tiền 1.000.000đ, Tuấn A1 đồng ý nói “Ok, anh cứ chuyển tiền cho em thì em chỉ chỗ đến lấy”. Sau đó, Đ1 đến cửa hàng kinh doanh dịch vụ chuyển tiền tại thị trấn Y (Đoàn không nhớ địa chỉ cụ thể) chuyển 1.000.000₫ đến tài khoản ngân hàng M số 0512200288888 mang tên Tống Duy Tuấn A1 với nội dung “Vu 2 cai 5” rồi chụp ảnh lịch sử giao dịch gửi qua zalo cho Tuấn A1. Sau khi nhận được tiền, Tuấn A1 đã dán 02 túi ma tuý bằng băng dính màu đen trên thành cầu bên trái (hướng từ xã Y sang xã Y) hẹn Đ1 đến để lấy ma tuý. Khoảng 10 phút sau Đ1 đến cầu lấy 02 túi ma tuý mang đến khu vực nghĩa trang Y thuộc thị trấn Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình sử dụng hết.

Lần thứ hai: Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 10/9/2023, Nguyễn Huy T1 liên lạc qua zalo với Tuấn A1 hỏi “Có đồ không bán cho anh túi 5”, ý của T1 là hỏi mua ma túy đá của Tuấn A1 với giá tiền 500.000đ, Tuấn A1 nói với T1 chuyển khoản tiền trước rồi giao ma tuý sau. Khoảng 16 giờ 55 phút cùng ngày, T1 nhờ chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1989, trú tại tổ dân phố H, thị trấn Y, huyện Y sử dụng tài khoản ngân hàng V1 số 0914652983 chuyển số tiền 500.000 đồng đến tài khoản ngân hàng M1 của Tuấn A1 chụp lại hình ảnh giao dịch chuyển tiền gửi zalo cho Tuấn A1. Sau khi nhận được tiền, Tuấn A1 yêu cầu T1 đến nhà ông Tống Duy T (là bố đẻ của Tống Duy Tuấn A1) tại xóm D, xã Y, huyện Y để giao ma tuý. Khoảng 17 giờ 30 Tuấn A1 đưa cho T1 01 túi ni lon trong suốt bên trong đựng ma tuý. T1 sau khi lấy được ma tuý đến khu vực sông T thuộc thôn T, xã Y, huyện Y để sử dụng. Khi vừa đổ hết ma túy từ túi nilon vào cóng thủy tinh thì làm rơi cả bình nước và cóng thủy tinh chứa ma tuý xuống sông. T1 đã giữ lại 01 vỏ túi nilon đựng ma tuý đá mua của Tuấn A1 mang về nhà.

Lần thứ ba: Khoảng 16 giờ 30 ngày 12/9/2023, Vũ Công Đ1 sử dụng điện thoại liên lạc với Tống Duy Tuấn A1 nói “lấy cho anh 1 túi năm”, ý của Đ1 là mua củaTuấn Anh 01 túi ma tuý đá 500.000 đồng, Tuấn A1 trả lời “anh đưa thêm cho em 50.000đ tiền ship đồ, anh chuyển tiền trước rồi đến chỗ cầu lần trước đợi em” Đ1 đồng ý. Sau đó Đ1 nhờ bà Phạm Thị T2, sinh năm 1958, trú tại số I, đường P, phố B, thị trấn Y, huyện Y sử dụng tài khoản ngân hàng M số 0976622358 mang tên bà Phạm Thị T2 chuyển khoản số tiền 550.000 đồng với nội dung “Vu chuyen”

4

đến tài khoản ngân hàng MB số 0512200288888 của Tuấn A1 rồi chụp ảnh lịch sử chuyển tiền gửi qua zalo cho Tuấn A1. Sau đó Đ1 đi đến khu vực cầu thuộc thôn T, xã Y, huyện Y đợi Tuấn A1. Sau khi nhận được tiền, Tuấn A1 mang 01 túi ma tuý đá dùng băng dính xanh dán kín đến khu vực cầu X, khi đi qua thấy Đ1 đang đợi ở giữa cầu thì Tuấn A1 dùng tay trái thả túi ma tuý xuống mặt cầu trước mặt vị trí Đ1 rồi đi luôn. Đoàn mang ma tuý vừa mua về khu vực nghĩa trang Y thuộc thị trấn Y, huyện Y để sử dụng. Khi đang sử dụng thì bị lực lượng Công an huyện Y phát hiện. Quá trình làm việc, cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã thu giữ của Vũ Công Đ1 01 túi nilon trong suốt có bám dính chất tinh thể màu trắng được niêm phong trong 01 phong bì (ký hiệu D). Ngoài ra còn thu giữ 01 chai nhựa trong suốt nhãn hiệu Lavie loại 500ml, 01 cóng thủy tinh trong suốt hình chữ L, 01 ống hút nhựa màu hồng, 01 chiếc bật lửa gas vỏ nhựa màu đen, 01 miếng băng dính KT(2,5x4) cm mặt ngoài màu xanh mặt dính màu đen, 01 miếng băng dính màu đen KT(3,5x2,2) cm, 01 miếng băng dính KT(3,5x2,3) cm mặt ngoài màu xanh mặt dính màu đen. Ngày 13/9/2023, Vũ Công Đ1 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 01 túi nilon trong suốt có bám dính chất tinh thể màu trắng (ký hiệu E).

Lần thứ 4: Khoảng 18 giờ ngày 12/9/2023, T1 liên lạc qua zalo với Tuấn A1 hỏi “Còn không lấy cho anh túi 5”, ý của T1 hỏi mua ma túy đá của Tuấn A1 với số tiền 500.000 đồng, Tuấn A1 trả lời “Anh chuyển khoản cho em rồi đến nhà em”, “anh đưa thêm em 100.000 đồng tiền ship” và hẹn T1 đến nhà bố đẻ là ông Tống Duy T tại xóm D, xã Y, huyện Y để lấy ma tuý. Sau đó T1 nhờ bà Phạm Thị T2 sử dụng tài khoản ngân hàng M số 0976622358 chuyển khoản số tiền 600.000 đồng đến tài khoản ngân hàng của Tuấn A1 với nội dung “THANG CK” rồi chụp ảnh lịch sử chuyển tiền gửi qua zalo cho Tuấn A1. Sau khi nhận được tiền, Tuấn A1 lấy 01 túi ma tuý được dán bên ngoài băng dính màu xanh, kẹp ở cạp quần phía trước hông trái và đi đến nhà ông T. Tuấn A1 đang ngồi ở bàn uống nước ngoài sân thì T1 đến, Tuấn A1 lấy từ trong người 01 túi ma tuý đưa trực tiếp cho T1. Sau khi lấy được ma tuý, T1 đến khu vực bờ sông cạnh cầu chợ C thuộc xã Y, huyện Y để sử dụng ma túy, T1 đổ hết ma túy đá trong túi nilon vào cóng thủy tinh để sử dụng thì có nhiều xe ô tô, xe máy đi qua ánh đèn chiếu vào vị trí đang ngồi, T1 cho rằng có Cơ quan Công an đến kiểm tra nên vứt luôn bộ dụng cụ sử dụng ma túy xuống sông khi chưa kịp sử dụng ma túy.

Cơ quan điều tra Công an huyện Y đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Tống Duy Tuấn A1, tại thôn H, xã Y, huyện Y, tỉnh Ninh Bình. Quá trình khám xét khẩn cấp đã thu giữ 01 cân điện tử màu xám có KT(6x12)cm, 20 túi nilon trong suốt có cùng đặc điểm KT(4x7) cm, 01 cuộn băng dính màu xanh đen, 02 túi nilon trong suốt KT (1,5x2) cm; 01 cóng thuỷ tinh dạng hình chữ L dài 16cm, 01 kéo kim loại màu đen dài 15,5cm, 01 bật lửa ga vỏ nhựa màu đỏ; 01 điện thoại di động được niêm phong trong 01 phong bì giấy theo quy định; 01 (một) túi nilon trong suốt kích thước (4x7,5)cm, bên trong có 07 (bẩy) túi nilon trong suốt có cùng đặc điểm, có kích thước mỗi túi là (1,5x2)cm, bên trong mỗi túi đều có chất dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu 07 túi nilon chứa chất dạng

5

tinh thể màu trắng từ A1 đến A7); 01 (một) túi nilon trong suốt kích thước (4x7) cm, bên trong có chất dạng tinh thể màu trắng và 01 (một) ống hút nhựa màu trắng, dài 5,5cm, đường kính 0,6cm, một đầu ống hình tròn, một đầu cắt vát (ký hiệu là B).

Tổ công tác tiến hành thu giữ và niêm phong mẫu chất ký hiệu từ A1 đến A7 và mẫu ký hiệu B trong 01 phong bì theo quy định. Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng mẫu chất ký hiệu từ A1 đến A7 và mẫu ký hiệu B nêu trên. Kết quả cân xác định:

1. Đối với mẫu A1: Chất dạng tinh thể màu trắng ký hiệu A1 có khối lượng là: 0,15 gam (không phẩy mười lăm) gam. Ký hiệu là M1

2. Đối với mẫu A2: Chất dạng tinh thể màu trắng ký hiệu A2 có khối lượng là: 0,13 gam (không phẩy mười ba) gam. Ký hiệu là M2

3. Đối với mẫu A3: Chất dạng tinh thể màu trắng ký hiệu A3 có khối lượng là: 0,13 gam (không phẩy mười ba) gam. Ký hiệu là M3

4. Đối với mẫu A4: Chất dạng tinh thể màu trắng ký hiệu A4 có khối lượng là: 0,14 gam (không phẩy mười bốn) gam. Ký hiệu là M4

5. Đối với mẫu A5:Chất dạng tinh thể màu trắng ký hiệu A5 có khối lượng là: 0,12 gam (không phẩy mười hai) gam. Ký hiệu là M5

6. Đối với mẫu A6: Chất dạng tinh thể màu trắng ký hiệu A6 có khối lượng là: 0,13 gam (không phẩy mười ba) gam. Ký hiệu là M6

7. Đối với mẫu A7: Chất dạng tinh thể màu trắng ký hiệu A7 có khối lượng là: 0,09 gam (không phẩy không chín) gam. Ký hiệu là M7

8. Đối với mẫu B: Chất dạng tinh thể màu trắng ký hiệu B có khối lượng là: 0,81 gam (không phẩy tám mươi mốt) gam. Ký hiệu là M8.

Tổng khối lượng chất dạng tinh thể màu trắng của mẫu ký hiệu từ A1 đến A7 và B là: 1,7 gam (một phẩy bẩy) gam.

Sau khi cân xác định khối lượng, mẫu chất dạng tinh thể màu trắng được cho vào 08 túi nilon được ký hiệu từ M1 đến M8 và được niêm phong theo quy định để gửi giám định. Toàn bộ vỏ bao gói niêm phong ban đầu được niêm phong trong 01 phong bì giấy theo quy định, trên phong bì ghi "Vỏ bao gói niêm phong ban đầu, ống hút, túi nilon thu giữa của Tống Duy Tuấn A1 ngày 12/9/2023".

Ngày 13/9/2023 cơ quan CSĐT Công an huyện Y ra Quyết định trưng cầu giám định số 84 ngày 13/9/2023, trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định Mẫu vật ký hiệu từ M1 đến M8 gửi giám định có phải là Ma tuý không.

Tại bản kết luận giám định số: 753/KL-KTHS-MT ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Mẫu gửi giám định ký hiệu M1 đến M8 có khối lượng như sau:

6

Ký hiệu mẫu M1 M2 M3 M4 M5 M6 M7 M8
Khối lượng (gam) 0,1320 0,1230 0,1205 0,1350 0,1202 0,1303 0,0904 0,8109

- Tổng khối lượng chất dạng tinh thể màu trắng trong các mẫu ký hiệu từ M1 đến M8 gửi giám định là 1,6623 gam.

- Mẫu gửi giám định ký hiệu từ M1 đến M8 đều là ma tuý, loại Methamphetamine.

- Methamphetamine là chất ma tuý thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”

H4 lại đối tượng giám định gồm:

- Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng còn lại trong các mẫu gửi giám định ký hiệu từ M1 đến M8 đều là ma tuý, loại Methamphetamine có khối lượng như sau:

Ký hiệu mẫu M1 M2 M3 M4 M5 M6 M7 M8
Khối lượng (gam) 0,0914 0,0848 0,0923 0,0901 0,0794 0,0879 0,0694 0,7298

- Toàn bộ vỏ bao gói niêm phong. Tất cả được niêm phong trong 01 phong bì ghi "mẫu vật hoàn trả sau giám định có ghi số 753/KL-KTHS-MT

Quá trình làm việc, Tống Duy Tuấn A1 khai nhận ngoài bán ma tuý 02 lần cho Đ1; Tuấn A1 còn bán ma tuý 02 lần cho T1 vào các ngày 10 và ngày 12/9/2023 như trên. Ngày 13/9/2023, Cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã tiến hành triệu tập T1 để xác minh làm rõ. Tại Cơ quan CSĐT Công an huyện Y, T1 đã khai nhận hành vi mua ma tuý của Tuấn A1 để sử dụng, tuy nhiên chưa kịp sử dụng thì bị rơi ma tuý xuống sông, quá trình làm việc T1 tự nguyện giao nộp 02 túi nilon trong suốt có bám dính chất tinh thể màu trắng (ký hiệu lần lượt là T1 và T2 mua của Tống Duy Tuấn A1 nhưng bám dính ít, không xác định được khối lượng.

Ngày 13/9/2023 Cơ quan CSĐT Công an huyện Y thi hành Lệnh khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Mai Thế A, tại xóm Y, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình. Quá trình khám xét khẩn cấp đã thu giữ nhiều vật chứng liên quan đến việc mua, bán trái phép chất ma túy gồm: 04 cuộn băng dính màu xanh đen; 01 túi nilon trong suốt KT (1,5x1,8)cm miệng túi có khóa kẹp nhựa trong suốt; 01 ống hút nhựa màu trắng dài 7cm; 01 hộp kim loại hình trụ tròn, màu xanh bên trong rỗng; 01 chiếc hộp kim loại màu đỏ dạng hình hộp chữ nhật; 01 bật lửa ga vỏ nhựa nhãn hiệu Hoa Việt; 01 túi nilon màu đen mở ra có KT(40x43)cm; 01 túi nilon trong

7

suốt kích thước (10x15,5)cm; 14 túi nilon trong suốt có cùng đặc điểm KT (1,5x1,7)cm; 01 đầu ghi nhãn hiệu KB VISION màu trắng, KT (20x20x4)cm; 01 (một) cân điện tử KT (2x6,5x12)cm, mặt bàn cân màu xám, kích thước (5x5,5)cm, phần màn hình điện tử KT (1,5x4)cm, cân có 05 nút bấm điều khiển; 01 chai dung dịch tự chế được niêm phong cho vào 01 chiếc hộp giấy KT(30x17x08)cm; 01 túi nilon trong suốt KT (5x8) cm, miệng túi có khóa kẹp nhựa trong suốt, có đường kẻ chỉ màu đỏ bên trong có chất dạng tinh thể màu trắng, túi nilon KT(5x8) cm bên trong chứa chất dạng tinh thể màu trắng (Ký hiệu Y). Ngoài ra quá trình điều tra cơ quan CSDDT Công an huyện Y đã thu giữ của Mai Thế A 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A5s bên trong lắp sim số 0349188450; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S plus bên trong lắp sim số 0976851222 và số tiền 4.860.000 đồng.

Ngày 13/9/2023 cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã tiến hành mở niêm phong, cân xác định khối lượng mẫu ký hiệu Y nêu trên. Kết quả cân xác định: Chất dạng tinh thể màu trắng (ký hiệu Y) có khối lượng là: 1,09 gam. Sau khi cân xác định khối lượng, mẫu chất dạng tinh thể màu trắng được cho vào 01 túi nilon trong suốt, kích thước (4x7)cm (ký hiệu M) và được niêm phong theo quy định để gửi giám định, toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong ban đầu được niêm phong trong 01 phong bì giấy theo quy định.

Ngày 14/9/2023 cơ quan CSĐT Công an huyện Y trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định mẫu vật ký hiệu M có phải là ma túy không. Tại bản kết luận giám định số: 754/KLGĐ- PC09-MT ngày 20/9/2023 của Phòng K Công an T kết luận:

“Mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 1,0850 gam, là ma tuý, loại Methamphetamine.

Methamphetamine là chất ma tuý thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”

H4 lại đối tượng giám định gồm: Mẫu vật ký hiệu M còn lại có khối lượng 0,8515 gam là ma tuý, loại Methamphetamine cùng toàn bộ vỏ bao gói niêm phong được niêm phong trong 01 phong bì "mẫu vật hoàn trả sau giám định có ghi số 754/KL-KTHS-MT".

Ngày 15/9/2023, cơ quan CSĐT Công an huyện Y đã ra Quyết định trưng cầu Phòng K Công an tỉnh N giám định (Mẫu vật ký hiệu là D; E; T1; T2) thu giữ của Vũ Công Đ1Nguyễn Huy T1.

Tại bản kết luận giám định số: 756/KL-KTHS-MT ngày 20 tháng 9 năm 2023 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

Mẫu chất dạng tinh thể màu trắng bám dính trong các túi nilon ký hiệu D, E, T1, T2 đều là ma tuý, loại Methamphetamine. Lượng Methamphetamine bám dính đều ít, không xác định được khối lượng.

8

Methamphetamine là chất ma tuý thuộc bảng Danh mục IIC, số thứ tự 247; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.”

H4 lại đối tượng giám định gồm:

- Toàn bộ vỏ bao gói niêm phong của các mẫu ký hiệu T1, T2 được niêm phong trong 01 phong bì "mẫu vật hoàn trả sau giám định ghi số 756/KL-KTHS-MT".

- Toàn bộ vỏ bao gói niêm phong của các mẫu ký hiệu D, E được niêm phong trong 02 phong bì "mẫu vật hoàn trả sau giám định đều ghi số 756/KL-KTHS-MT".

Tại bản Cáo trạng số 12/CT- VKS ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã truy tố: bị cáo Mai Thế A để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 2 Điều 251 của Bộ luật Hình sự; bị cáo Tống Duy Tuấn A1 để xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b, c khoản 2 Điều 251của Bộ luật Hình sự;

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố các bị cáo Mai Thế ATống Duy Tuấn A1 phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Áp dụng: điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Mai Thế A. Điểm b, c khoản 2, khoản 3 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Tống Duy Tuấn A1.

Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 5 - Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử phạt: bị cáo Mai Thế A từ 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù đến 8 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/9/2023.

Phạt bổ sung: Bị cáo Mai Thế A từ 5.000.000đ (năm triệu đồng) đến 10.000.000đ (mười triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.

Xử phạt: bị cáo Tống Duy Tuấn A1 từ 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù đến 8 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ 12/9/2023.

Phạt bổ sung: Bị cáo Tống Duy Tuấn A1 từ 5.000.000đ (năm triệu đồng) đến 10.000.000đ (mười triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.

-Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

+ Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước:

01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon X thu của Tống Duy Tuấn A1.

01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus; thu của Mai Thế A.

9

+ Truy thu của Tống Duy Tuấn A1 số tiền 2.650.000đ (hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) và của Mai Thế A số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng).

+ Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng :

0,8515 gam Methamphetamine thu của Mai Thế A được niêm phong trong phong bì “mẫu hoàn trả sau giám định” có ghi số 754KL-KTHS.

1,3251 gam Methamphetamine thu của Tống Duy Tuấn A1 được niêm phong trong phong bì “mẫu hoàn trả sau giám định” có ghi số 753KL-KTHS.

01 chai nhựa nhãn hiệu Lavie, 01 cóng thuỷ tinh; 01 ống hút nhựa màu hồng; 01 chiếc bật lửa gas; 03 miếng băng dính, 20 túi nilon trong suốt kích thước mỗi túi là (4x7)cm, 02 túi nilon trong suốt kích thước mỗi túi (1,5x2)cm; 01 cuộn băng dính màu xanh đen; 01 cân điện tử màu xám; 01 kéo kim loại màu đen, 01 bật lửa ga; Vỏ bao gói niêm phong ban đầu, ống hút, túi nilon, 01 sim điện thoại thu của Tống Duy Tuấn A1.

04 cuộn băng dính màu xanh đen, 01 bật lửa ga vỏ nhựa, 01 túi nilon trong suốt kích thước (1,5x1,8)cm, 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 hộp kim loại hình trụ tròn; 01 chai dung dịch tự chế niêm phong trong hộp giấy, 01 hộp kim loại hình chữ nhật màu đỏ, 01 túi nilon màu đen KT(40x43) cm, 01 cân điện tử KT (2x6,5x12)cm, 01 túi nilon trong suốt kích thước (10x15,5)cm, 14 túi nilon trong suốt KT (1,5x1,7)cm; 01 sim điện thoại; 01 vỏ bao gói niêm phong ban đầu được niêm phong trong một phong bì thu của Mai Thế A.

01 cóng thuỷ tinh, 02 vỏ túi nilon kích thước mỗi túi (1,5x2)cm niêm phong trong 2 phong bì “Mẫu hoàn trả sau giám định” có ghi số 756/KL-KTHS-MT và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong thu của Vũ Công Đ1.

02 vỏ túi ni lông kích thước mỗi túi (1,5x2)cm niêm phong trong 1 phong bì “Mẫu hoàn trả sau giám định” có ghi số 756/KL-KTHS-MT và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong thu của Nguyễn Huy T1.

+ Trả lại cho Mai Thê A3 01 đầu ghi nhãn hiệu KB VISION; 01 điện thoại Oppo A5s bên trong có lắp 01 sim điện thoại và số tiền 4.860.000đ (bốn triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng) nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

( Chi tiết như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/3/2024 và ủy nhiệm chi ngày 21/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô).

- Án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Quá trình điều tra và tại phiên toà bị cáo Mai Thế ATống Duy Tuấn A1 đều khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Mai Thế A thừa nhận đã bán hai lần ma tuý cho Tống Duy Tuấn A1 vào ngày 11/7/2023 với số tiền 1.000.000đ và ngày 6/9/2023 với số tiền

10

1.500.000đ và thừa nhận số ma tuý cơ quan điều tra thu giữ tại nhà là của bị cáo cất giữ nhằm mục đích sử dụng và bán lại cho người khác để kiếm lời.

Bị cáo Tống Duy Tuấn A1 tại phiên toà thừa nhận hai lần bắt taxi cùng với Nguyễn Văn L đến nhà ở Mai Thế A tại Xóm Y, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình để mua ma tuý vào ngày 11/7/2023 và ngày 6/9/2023 để sử dụng và bán lại cho người khác kiếm lời. Bị cáo đã hai lần bán ma tuý cho Vũ Công Đ1 vào ngày 8/9/2023 và ngày 12/9/2023 với tổng số tiền là 1.550.000đ và hai lần bán ma tuý cho Nguyễn Huy T1 với tổng số tiền là 1.100.000đ và Tuấn A1 thừa nhận số ma tuý cơ quan điều tra thu giữ tại nhà là của bị cáo cất giữ nhằm mục đích sử dụng và bán lại cho người khác để kiếm lời.

Lời nói sau cùng của bị cáo Mai Thế A và bị cáo Tống Duy Tuấn A1, các bị cáo nhận thấy hành vi của mình là vi phạm pháp luật mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về làm người lương thiện.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện Y, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Y, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi của các bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và các bản kết luận giám định số 753/KL_KTHS - MT; số 754/KL_KTHS - MT; số 756/KL_KTHS -MT đều cùng ngày 20/9/2023 của Phòng K Công an tỉnh N đã kết luận: mẫu chất dạng tinh thể mầu trắng thu của Mai Thế A, Tống Duy Tuấn A1 và mẫu chất dang tinh thể mầu trắng bám dính trong các túi ni long thu của Vũ Công Đ1, Nguyễn Huy T1 đều là ma tuý loại Methamphetamine. Methamphetamine là chất ma tuý thuộc bảng Danh mục IIC số thứ tự 247 Nghị định 57/2022/NĐ- CP ngày 25/8/2022 của Chính Phủ. Như vậy có đủ căn cứ kết luận: Trong thời gian từ ngày 11/7/2023 đến ngày 6/9/2023 tại nhà ở của Mai Thế A ở xóm Y, xã N, huyện Y, tỉnh Hòa Bình, Mai Thế A đã có hành vi 02 lần bán trái phép chất ma túy loại Methamphetamine cho Tống Duy Tuấn A1 vào các ngày 11/7/2023 với số tiền 1.000.000đ và ngày 6/9/2023 với số tiền 1.500.000đ; đồng thời cất giấu trái phép 1,0850 gam Methamphetamine tại nhà ở nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời.

11

Tống Duy Tuấn A1 đã sử dụng số ma túy loại Methamphetamine mua của Mai Thế A để bán trái phép 02 lần cho Vũ Công Đ1 vào ngày 08/9/2023 và 12/9/2023 với tổng số tiền 1.550.000đ và 02 lần bán trái phép chất ma túy Methamphetamine cho Nguyễn Huy T1 ngày 10/9/2023 và 12/9/2023 với tổng số tiền 1.100.000đ, đồng thời cất giấu trái phép 1,6623 gam Methamphetamine tại nhà ở nhằm mục đích bán cho người khác kiếm lời.

Hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chính sách của Nhà nước về độc quyền quản lý chất ma túy, gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự của xã hội, làm phát sinh nhiều loại tội phạm khác, gây khó khăn trong công tác phòng chống tội phạm của Nhà nước. Các bị cáo đều là người trưởng thành có đầy đủ năng lực hành vi để nhận thức được mua bán ma túy là trái phép, là hành vi bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo Mai Thế A đã 02 lần bán ma túy cho Tống Duy Tuấn A1 là thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 BLHS. Hành vi của bị cáo Tống Duy Tuấn A1 đã 02 lần bán ma túy cho Vũ Công Đ1 và 02 lần bán ma túy cho Nguyễn Huy T1 là thuộc trường hợp "phạm tội 02 lần trở lên" và "đối với 02 người trở lên", quy định tại điểm b, c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Điều 251: Tội mua bán trái phép chất ma túy.

1. Người nào mua bán trái phép chất ma tuý thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm;

2. Phạm tội trong các trường hợp sau đây thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm:

  • a) ...
  • b) Phạm tội 02 lần trở lên;
  • c) Đối với 02 người trở lên;

...

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc bị tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Do vậy bản Cáo trạng số 12/CT– VKS ngày 19 tháng 3 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mô đã truy tố bị cáo Mai Thế ATống Duy Tuấn A1 với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ đúng pháp luật.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

- Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Tống Duy Tuấn A1 không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Mai Thế A, năm 2017 bị Tòa án nhân dân huyện Yên Thủy, tỉnh Hòa Bình xử phạt 7 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” chưa được xóa án nên bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

12

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Mai Thế ATống Duy Tuấn A1 đều thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo Mai Thế A có bố đẻ tham gia kháng chiến chống Mỹ được Nhà nước tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhì nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Bị cáo Mai Thế A và bị cáo Tống Duy T3 Anh đều có nhân thân xấu. Bị cáo Mai Thế A năm 2000 đã bị Toà án nhân dân tỉnh Hoà Bình xử phạt 7 năm tù về tội “Hiếp dâm” và năm 2008 bị Toà án nhân dân huyện Nho Quan xử phạt 30 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” bị cáo đã chấp hành xong bản án và tính đến ngày thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã được đương nhiên xoá án tích. Bị cáo Tống Duy Tuấn A1 có một tiền sự ngày 21/10/2020, bị Công an huyện Y ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác", bị cáo chưa chấp hành nộp tiền phạt. Ngày 16/10/2022, bị Chủ tịch UBND xã Y, huyện Y áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, thời hạn 3 tháng. Ngày 16/01/2023 bị cáo chấp hành xong quyết định xử lý hành chính.

[4] Về hình phạt: Các bị cáo thực hiện hành vi độc lập, đều là người nghiện ma tuý mua trái phép chất ma tuý để sử dụng và bán kiếm lời do vậy căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ và nhân thân của các bị cáo để quyết định hình phạt tương xứng đối với các bị cáo. Hội đồng xét xử thấy hành vi của các bị cáo là rất nghiêm trọng nên cần phải xử phạt bị cáo mức hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo một thời gian mới có tác dụng răn đe, phòng ngừa chung. Bị cáo Mai Thế A đã 2 lần bán ma tuý cho Tống Duy Tuấn A1 đồng thời cất giữ 1,0850g Methamphetamine nhằm mục đích sử dụng và bán cho người khác, bị cáo có nhân thân xấu đang có một tiền án về tội ma tuý. Tống Duy Tuần A4 có hành vi 2 lần bán ma tuý cho Vũ Công Đ1 và 2 lần bán ma tuý cho Nguyễn Huy T1 và cất giữ 1.6623g Methamphetamine để sử dụng cho bản thân và bán để kiếm lời; nhân thân xấu đang có một tiền sự về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác" do vậy mức hình phạt của Mai Thế ATống Duy Tuấn A1 ngang nhau.

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội vì mục đích vụ lợi nên căn cứ khoản 5 – Điều 251 Bộ luật hình sự cần áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[5] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

- Đối với 0.8515g Methamphetamine thu của Mai Thế A còn lại sau giám định và 1,3251 gam Methamphetamine thu của Tống Duy Tuấn A1 còn lại sau giám định đây là chất ma tuý nhà nước cấm tàng trữ, cấm lưu hành nên căn cứ điểm c – khoản 1 - Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a, khoản 2 - Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.

13

- Đối với 01 điện thoại Iphon X thu của Tống Duy Tuấn A1 và 01 điện thoại Iphone 6S Plus thu của Mai Thế A đây là công cụ phương tiện các bị cáo sử dụng để mua bán chất ma túy căn cứ điểm a khoản 1- Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 - Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu sung Ngân sách nhà nước.

Đối với 01 chai nhựa nhãn hiệu Lavie, 01 cóng thuỷ tinh; 01 ống hút nhựa màu hồng; 01 chiếc bật lửa gas; 03 miếng băng dính, 20 túi nilon trong suốt kích thước mỗi túi là (4x7)cm, 02 túi nilon trong suốt kích thước mỗi túi (1,5x2)cm; 01 cuộn băng dính màu xanh đen ; 01 cân điện tử màu xám; 01 kéo kim loại màu đen, 01 bật lửa ga; Vỏ bao gói niêm phong ban đầu, ống hút, túi nilon, 01 sim điện thoại thu của Tống Duy Tuấn A1; 04 cuộn băng dính màu xanh đen, 01 bật lửa ga vỏ nhựa, 01 túi nilon trong suốt kích thước (1,5x1,8) cm, 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 hộp kim loại hình trụ tròn; 01 hộp kim loại hình chữ nhật màu đỏ, 01 túi nilon màu đen KT(40x43)cm, 01 cân điện tử KT (2x6,5x12)cm, 01 túi nilon trong suốt kích thước (10x15,5)cm, 14 túi nilon trong suốt KT(1,5x1,7) cm; 01 chai dung dịch tự chế niêm phong trong hộp giấy; 01 túi nilon trong suốt KT(5x8)cm (túi dựng ma tuý), 01 vỏ bao gói niêm phong ban đầu, 01 sim điện thoại thu của Mai Thế A. 01 cóng thuỷ tinh, 02 vỏ túi nilon kích thước mỗi túi (1,5x2)cm thu của Vũ Công Đ1; 02 vỏ túi ni lông kích thước mỗi túi (1,5x2)cm thu của Nguyễn Huy T1. Đây là công cụ các bị cáo, người liên quan sử dụng làm phương tiện phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên căn cứ điểm a khoản 1 – Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm a khoản 2 – Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 điện thoại Oppo A5s bên trong có lắp 01 sim điện thoại thu của Mai Thế A, 01 đầu ghi nhãn hiệu KB VISION màu trắng, KT (20x20x4)cm, cũ đã qua sử dụng thu giữ của Mai Thế A đây là tài sản của Mai Thế A không liên quan đến hành vi phạm tội nên căn cứ điểm a khoản 3 – Điều 106 Bộ luật hình sự trả lại cho bị cáo Mai Thế A.

- Đối với số tiền 2.500.000 đồng Mai Thế A thu được do bán ma tuý cho Tống Duy Tuấn A1 và số tiền 2.650.000 đồng mà Tống Duy Tuấn A1 thu được do 4 lần bán ma tuý cho Vũ Công Đ1Nguyễn Huy T1. Đây là tiền do các bị cáo phạm tội mà có. Căn cứ điểm b khoản 1 – Điều 47 Bộ luật hình sự. Điểm b khoản 2 – Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tịch thu xung Ngân sách Nhà nước số tiền 2.650.000đ của Tống Duy Tuấn A1 và số tiền 2.500.000đ của Mai Thế A.

Đối với số tiền 4.860.000 đồng Mai Thế A đã tự nguyện giao nộp là tài sản của Mai Thế A không liên quan đến vụ án nên căn cứ điểm a khoản 3 - Điều 106 Bộ luật hình sự trả lại cho bị cáo nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

( Chi tiết như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/3/2024 và ủy nhiệm chi ngày 21/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô).

14

[4] Trong vụ án còn có Nguyễn Văn L là người đi cùng Tống Duy Tuấn A1 đi mua ma túy tại nhà Mai Thế A, tuy nhiên L không trực tiếp nhìn thấy Tuấn A1 mua ma túy của Thế A, không biết Tuấn A1 mua ma túy về để bán kiếm lời và không được hưởng lợi từ việc mua bán ma túy của Tuấn A1. Do đó Nguyễn Văn L không đồng phạm với Tuấn A1 về hành vi mua bán trái phép chất ma túy.

Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn L tại nhà của Tống Duy Tuấn A1 ngày 12/7/2023 và 7/9/2023 là hành vi vi phạm hành chính, cơ quan Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Nguyễn Văn L là đúng theo quy định của pháp luật.

Vũ Công Đ1 02 lần mua ma túy của Tống Duy Tuấn A1 và đã sử dụng hết không xác định được khối lượng, không có cơ sở để xử lý đối với Đ1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Ngày 12/9/2023 Vũ Công Đ1 đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì bị cơ quan Công an phát hiện. Công an huyện Y đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Đ1 là đúng theo quy định.

Nguyễn Huy T1 02 lần mua ma túy của Tống Duy Tuấn A1 để sử dụng nhưng chưa kịp sử dụng thì bị rơi xuống sông hết, số ma túy còn lại bám dính trong vỏ túi nilon thu giữ của T1 ít, không xác định được khối lượng do đó không có cơ sở để xử lý đối với T1 về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.

Đối với bà Phạm Thị T2 và Nguyễn Thị N là người chuyển tiền giúp Vũ Công Đ1Nguyễn Huy T1 đến số tài khoản của Tống Duy Tuấn A1 để mua ma túy. Tuy nhiên quá trình chuyển tiền bà T2, bà N không biết T1 và Đ1 chuyển tiền để mua ma túy của Tuấn A1 do đó bà Phạm Thị T2 và Nguyễn Thị N không vi phạm pháp luật.

[6] Về nguồn gốc Methamphetamine Mai Thế A bán cho Tống Duy Tuấn A1: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Thế A khai mua của người đàn ông không quen biết tại thành phố Hải Phòng, bản thân Thế Anh không biết tên tuổi, địa chỉ của những người bán ma túy cho mình nên không có cơ sở để điều tra xử lý.

[7] Án phí hình sự: Do các bị cáo bị kết án nên bị cáo phải nộp số tiền án phí Hình sự sơ thẩm theo qui định.

[8] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ điểm b khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Mai Thế A.

Căn cứ điểm b, c khoản 2, khoản 5 Điều 251; Điều 38; điểm s khoản 1, Điều 51 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Tống Duy Tuấn A1.

15

Căn cứ điểm a, b, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b, c khoản 2, khoản 3 - Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2. Tuyên bố: Các bị cáo Mai Thế ATống Duy Tuấn A1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”

3. Hình phạt:

- Xử phạt: bị cáo Mai Thế A 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 13/9/2023.

Phạt bổ sung: Bị cáo Mai Thế A 10.000.000đ (mười triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước

- Xử phạt: bị cáo Tống Duy Tuấn A1 7 (bảy) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 12/9/2023.

Phạt bổ sung: Bị cáo Tống Duy Tuấn A1 10.000.000đ (mười triệu đồng) để sung Ngân sách Nhà nước.

4.Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

- Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước

+ 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphon X thu của Tống Duy Tuấn A1.

+ 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6S Plus thu của Mai Thế A.

+ Số tiền 2.650.000đ (hai triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng) của Tống Duy Tuấn A1.

+ Số tiền 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng) thu của Mai Thế A.

- Tịch thu tiêu huỷ các vật chứng :

+ 0,8515 gam Methamphetamine thu của Mai Thế A được niêm phong trong phong bì “mẫu hoàn trả sau giám định” có ghi số 754KL-KTHS.

+1,3251 gam Methamphetamine thu của Tống Duy Tuấn A1 được niêm phong trong phong bì “mẫu hoàn trả sau giám định” có ghi số 753KL-KTHS.

+ 01 chai nhựa nhãn hiệu Lavie, 01 cóng thuỷ tinh; 01 ống hút nhựa màu hồng; 01 chiếc bật lửa gas; 03 miếng băng dính, 20 túi nilon trong suốt kích thước mỗi túi là (4x7) cm, 02 túi nilon trong suốt kích thước mỗi túi (1,5x2) cm; 01 cuộn băng dính màu xanh đen; 01 cân điện tử màu xám; 01 kéo kim loại màu

16

đen, 01 bật lửa ga; Vỏ bao gói niêm phong ban đầu, ống hút, túi nilon, 01 sim điện thoại thu của Tống Duy Tuấn A1.

+ 04 cuộn băng dính màu xanh đen, 01 bật lửa ga vỏ nhựa, 01 túi nilon trong suốt kích thước (1,5x1,8) cm, 01 ống hút nhựa màu trắng, 01 hộp kim loại hình trụ tròn; 01 chai dung dịch tự chế niêm phong trong hộp giấy, 01 hộp kim loại hình chữ nhật màu đỏ, 01 túi nilon màu đen KT (40x43) cm, 01 cân điện tử KT (2x6,5x12) cm, 01 túi nilon trong suốt kích thước (10x15,5) cm, 14 túi nilon trong suốt KT (1,5x1,7) cm; 01 vỏ bao gói niêm phong ban đầu được niêm phong trong một phong bì, 01 sim điện thoại thu của Mai Thế A.

+ 01 cóng thuỷ tinh, 02 vỏ túi nilon kích thước mỗi túi (1,5x2) cm niêm phong trong 2 phong bì “Mẫu hoàn trả sau giám định” có ghi số 756/KL-KTHS-MT và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong thu của Vũ Công Đ1.

+ 02 vỏ túi ni lông kích thước mỗi túi (1,5x2) cm niêm phong trong 1 phong bì “Mẫu hoàn trả sau giám định” có ghi số 756/KL-KTHS-MT và toàn bộ vỏ, bao gói niêm phong thu của Nguyễn Huy T1.

- Trả lại cho Mai Thế A 01 điện thoại nhãn hiệu Oppo A5s, 01 sim điện thoại, 01 đầu ghi nhãn hiệu KB VISION và số tiền 4.860.000đ (bốn triệu tám trăm sáu mươi nghìn đồng) nhưng tiếp tục quản lý để đảm bảo thi hành án.

( Chi tiết như biên bản giao nhận vật chứng ngày 19/3/2024 và ủy nhiệm chi ngày 21/3/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y với Chi Cục thi hành án dân sự huyện Yên Mô).

3. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Mai Thế ATống Duy Tuấn A1 mỗi bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo qui định.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

17

Lê Văn Bình Vũ Đức Tuấn Nguyễn Thị H5

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình (1)
  • - VKSND huyện Yên Mô(1)
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình (1)
  • - Công an huyện Yên Mô (2)
  • - Chi cục THA huyện Yên Mô (1)
  • - Bị cáo(2);
  • - Người có QLNVLQ (5);
  • - Lưu HS, VP.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Hoa

18

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Văn Bình Vũ Đức Tuấn

Nguyễn Thị Hoa

19

20

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HSST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ – TỈNH NINH BÌNH về mua bán trái phép chất ma túy (vụ án hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 12/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy (Vụ án hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MÔ – TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Mai Thế A pham tội mua bán ma tuý
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger