Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GIA VIỄN

TỈNH NINH BÌNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HS-ST

Ngày 02 tháng 05 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Đinh Xuân Tưởng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đinh Duy Quyết.

2. Ông Hoàng Quốc Trị.

Thư ký phiên toà: ông Đoàn Thanh Minh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên toà: bà Vũ Như Trang - Kiểm sát viên.

Ngày 02/05/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Gia Viễn, tỉnh Ninh Bình, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 12/2024/TLST- HS ngày 26/03/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST- HS ngày 17/04/2024, đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Thái S, tên gọi khác: không, sinh năm 1986 tại xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nơi cư trú: xóm F, thôn Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: công nhân; trình độ văn hóa: lớp 9/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn N (đã chết) và bà Bùi Thị S1 (đã chết); vợ là Quách Thị T; con: có 02 con, con lớn sinh năm 2012, con nhỏ sinh năm 2019; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: (1) tại Bản án số 15 ngày 02/3/2017 của Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn, xử phạt 18 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. chấp hành xong bản án ngày 10/4/2018; (2) ngày 13/9/2018 của Công an huyện G, xử phạt 500.000 đồng về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy”, chấp hành xong ngày 17/9/2018. Bị cáo S bị tạm giữ từ ngày 15/01/2024, chuyển tạm giam ngày 24/01/2024 tại Trại tạm giam Công an tỉnh N cho đến nay. (có mặt).

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: chị Quách Thị T, sinh năm 1993; nơi cư trú: xóm F thôn Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình. (có mặt).

Người làm chứng: ông Đinh Văn S2 và anh Vũ Tuấn A. (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Phạm Thái S sử dụng trái phép chất ma túy từ năm 2013 đến nay. Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 15/01/2024, do có nhu cầu sử dụng ma túy, S điều khiển xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-165.79 từ chỗ làm ở Công ty D1 - Cụm khu công nghiệp G, xã G đi đến đường đê thuộc địa phận xã N, huyện H để mua ma túy về sử dụng. Khi đến khu vực trên, S nhìn thấy một người đàn ông không quen biết đang đứng một mình nên điều khiển xe mô tô đến gần và nói: “Cho em một trăm trắng”, đồng thời lấy ra số tiền 100.000 đồng đưa cho người đàn ông. Người này cầm tiền và đưa lại S 01 gói nhỏ được gói ngoài bằng giấy bạc màu trắng, mở ra kiểm tra thấy bên trong chứa chất bột dạng cục màu trắng. Xác định là ma túy, loại H, S bỏ vào túi áo đang mặc rồi điều khiển xe mô tô đi tìm nơi sử dụng ma túy. Khoảng 12 giờ 10 phút cùng ngày, khi S điều khiển xe mô tô đi đến khu vực trục đường thôn P, xã G, huyện G, thì gặp Tổ công tác Đồn Công an khu công nghiệp Gián Khẩu phối hợp với Công an xã G làm nhiệm vụ yêu cầu kiểm tra. Biết không thể che giấu hành vi phạm tội của mình, S tự nguyện giao nộp cho lực lượng Công an 01 gói ma túy và khai nhận đó là H, S mua về nhằm mục đích sử dụng. Lực lượng Công an thu giữ và niêm phong 01 gói ma túy có đặc điểm nêu trên của S. Ngoài ra, còn thu giữ 01 xe mô tô Biển kiểm soát 35N1-165.79. Sau đó, Tổ công tác đưa Phạm Thái S cùng vật chứng về trụ sở UBND xã G lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã tiến hành cân xác định khối lượng chất bột dạng cục màu trắng trong 01 gói thu giữ của Phạm Thái S có khối lượng là 0,162 gam, lấy mẫu giám định ký hiệu M, để gửi đi xác định khối lượng và giám định chất ma túy.

Tại Kết luận giám định số 175/KL-KTHS-MT ngày 22/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N, kết luận:

Mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1625 gam, là ma túy, loại Heroine (H).

Heroine (H1) có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và là chất ma túy được quy định tại Danh mục IA, số thứ tự 9; Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Tại Bản cáo trạng số 14/CT-VKS-GV ngày 25/03/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đã truy tố Phạm Thái S ra trước Tòa án nhân dân huyện Gia Viễn để xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, theo điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị HĐXX: tuyên bố bị cáo Phạm Thái S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Phạm Thái S từ 18 tháng đến 21 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ ngày 15/01/2024.

Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 175/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất cục màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1080 gam, là ma túy, loại Heronie, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

Về án phí: áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Thái S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, như cáo trạng đã truy tố. Bị cáo cho rằng việc truy tố của Viện kiểm sát là đúng người đúng tội, đồng ý với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn tại phiên toà về việc giải quyết vụ án. Nói lời sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự người phạm tội thành khẩn khai báo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời nhận tội của bị cáo Phạm Thái S tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố, phù hợp với lời khai của người làm chứng và người chứng kiến, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, Kết luận giám định số 175/KL-KTHS-MT ngày 22/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh N và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy có đủ cơ sở kết luận: Hồi 12 giờ 10 phút ngày 15/01/2024, tại khu vực thôn P, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình, Phạm Thái S có hành vi tàng trữ trái phép 0,1625 gam heroine với mục đích sử dụng, bị bắt quả tang.

[2] Bị cáo Phạm Thái S là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi tàng trữ ma túy trong người để sử dụng cho bản thân là trái phép, là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý của Nhà nước đối với chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trị an trên địa phương.

Điều 249 của Bộ luật hình sự quy định về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

  1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma tuý mà không nhằm mục đích mua bán vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma tuý thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.
    1. ......
    2. Heroine, C, Methamphetamine, Amphetamine, ADMA hoặc XLR-11 có khối lượng 0,1 gam đến dưới 05gam.

Như vậy, khối lượng ma tuý loại Heroine, mà bị cáo S tàng trữ được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự, do đó hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, Viện kiểm sát nhân dân huyện G truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân:

Về tình tiết tăng nặng: bị cáo S không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: bị cáo có nhân thân xấu, bị xử phạt hành chính về hành vi: “Sử dụng trái phép chất ma túy” và bị xét xử về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[4] Về hình phạt: xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, khối lượng, loại chất ma túy bị cáo đã tàng trữ. Hội đồng xét xử xét thấy mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gia Viễn đề nghị xử phạt bị cáo là phù hợp đối hành vi phạm tội của bị cáo, đủ nghiêm khắc giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho bản thân, đồng thời bảo đảm tác dụng răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ xung: bị cáo S mua ma tuý với mục đích để sử dụng cho bản thân không mang tính chất vụ lợi. Vì vậy không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung phạt tiền đối với bị cáo.

[6] Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp:

Đối với 01 phong bì ghi số 175/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: Chất dạng cục màu trắng còn lại trong mẫu gửi giám định ký hiệu M có khối lượng 0,1080 gam, là ma túy, loại Heroine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc màu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu. Đây là vật chứng của vụ án bị cấm lưu hành, sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius Biển kiểm soát 35N-165.79, quá trình điều tra xác định là tài sản của chị Quách Thị T, sinh năm 1993, trú tại: xóm F thôn Đ, xã G, huyện G, tỉnh Ninh Bình (là vợ của bị cáo S). Ngày 15/01/2024, bị cáo S sử dụng xe mô tô để đi mua ma túy, chị T không biết, vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện G đã trả lại xe mô tô trên cho chị T là phù hợp.

[7] Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo S khai nhận sáng ngày 15/01/2024 tại khu vực đường đê thuộc địa phận xã N, huyện H, tỉnh Ninh Bình, bị cáo đã mua ma tuý của người đàn ông không quen biết, không rõ tên tuổi, địa chỉ. Do vậy không đủ cơ sở để xác minh làm rõ.

[8] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G, điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện G, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, Quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và những người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

[9] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH

  • - Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
  • - Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; các điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
  • - Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
  1. Tuyên bố bị cáo Phạm Thái S phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

    Xử phạt: bị cáo Phạm Thái S 18 (mười tám) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 15/01/2024.

  2. Về xử lý vật chứng và áp dụng biện pháp tư pháp: tịch thu tiêu hủy 01 phong bì ghi số 175/KL-KTHS-MT, bên trong gồm: mẫu ký hiệu M có khối lượng 0,1080 gam, là ma túy, loại Heroine, toàn bộ vỏ bao gói niêm phong; 01 phong bì dán kín niêm phong theo quy định, bên trong gồm: 01 mảnh giấy bạc mầu trắng, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu.

    Chi tiết các vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/04/2024 giữa Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gia Viễn và Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện G.

  3. Về án phí: bị cáo Phạm Thái S phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Người phải thi hành án, người được thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình;
  • - VKSND huyện Gia Viễn;
  • - Trại tạm giam CA tỉnh Ninh Bình;
  • - Công an huyện Gia Viễn;
  • - Chi cục THADS huyện Gia Viễn;
  • - Bị cáo, người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu HS, VP;
  • (Thông báo cho chính quyền
  • địa phương nơi bị cáo cư trú).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đinh Xuân Tưởng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 02/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý

  • Số bản án: 12/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GIA VIỄN, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Thái Sơn PT tàng trữ trái phép chất ma túy
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger