TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2024/HSPT-CTN Ngày: 15/11/2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Sỹ
Các thẩm phán: Ông Lưu Anh Tuấn và bà Đinh Thị Như Phượng
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Minh Chiến – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Tạ Trung Kiên - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 26/2024/TLPT-HS-CTN ngày 02 tháng 10 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo N, B, Siu L, X, D, H và kháng cáo của bị hại Ksor T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HSST ngày 08/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
1. Các bị cáo:
1.1. S4 (tên gọi khác: Không); Sinh ngày: 25/4/2007 tại ỉnh" tỉnh Gia Lai; CCCD số: [...]; Nơi cư trú: Thôn O, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Gia Rai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Siu L1 và bà Rlan A. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
1.2. DJĨ (tên gọi khác: Không); Sinh ngày: 27/7/2002 tại tỉnh Gia Lai; CCCD số: [...]; Nơi cư trú: Thôn O, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: Gia Rai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông D1 và bà P. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
1.3. BĂNG (tên gọi khác: Không); Sinh ngày: 01/01/2004 tại ỉnh"tỉnh Gia Lai; CCCD số: [...]; Nơi cư trú: Thôn O, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: Gia Rai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông B1 và bà P1. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
1.4. NGHĨA (tên gọi khác: Không); Sinh ngày: 30/8/2004 tại ỉnh"tỉnh Gia Lai; CCCD số: [...]; Nơi cư trú: Thôn O, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Gia Rai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông O và bà Rlan H1. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
1.5. XƠM (tên gọi khác: Không); Sinh ngày: 25/02/2005 tại tỉnh Gia Lai; CCCD số: [...]; Nơi cư trú: Thôn O, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 2/12; Dân tộc: Gia Rai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông S và bà S1. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
1.6. HÓA (tên gọi khác: Không); Sinh ngày: 13/3/2007 tại ỉnh"tỉnh Gia Lai; CCCD số: [...]; Nơi cư trú: Thôn O, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai; Nghề nghiệp: Làm nông; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Gia Rai; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Tin lành; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông L2 và bà C. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt.
2. Những người tham gia tố tụng khác:
2.1.Người đại diện hợp pháp cho bị cáo và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Siu L và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Siu L1; sinh năm: 1983; Trú tại: Thôn O, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (Là cha đẻ). Có mặt.
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo H và là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông L2; sinh năm: 1981; Trú tại: Thôn O, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (Là cha đẻ). Có mặt.
2.2. Người bào chữa cho bị cáo:
- Người bào chữa cho bị cáo Siu L, H, B, N: Ông Lương Ngọc P2; sinh năm: 1985, Là Luật sư thực hiện Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh G. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo X: Bà Nguyễn Hoàng Kim L3 – sinh năm: 1981, à"Là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G. Có mặt.
2.3. Bị hại:
-Anh Ksor T – sinh ngày: 01/4/2008; Trú tại: Thôn B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
Người đại diện hợp pháp cho anh Ksor T: Ông H2 – sinh năm: 1986; Trú tại: Thôn B, xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai (Là cha đẻ). Có mặt.
2.4. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại K: Ông Thái Quốc T1, à"Là Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh G. Có mặt.
2.5. Người phiên dịch: Bà Nay H3; địa chỉ: Thôn D, xã A, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo các tài liệu có trong hồ sơ và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 21/3/2023, B2 điều khiển xe mô tô biển số 81X1 – 047.01 đi đến nhà H để chơi. Khi đến nơi, B2 thấy nhóm thanh niên thôn B, xã I gồm: Ying, H4, Ksor T, N1, H5, H6, S2, Y, P3, L4, N2, P2, Y1 và S3 cũng đang ở đây và B2 thấy các thanh niên này mang theo dao, bình xịt hơi cay trên người. Ngồi chơi một lúc thì N2, P2, Y và P3 về trước.
Khoảng 30 phút sau, B2 điều khiển xe mô tô đến nhà chị U thì gặp U, B3, Đ, L5, D, J, J1 nên B2 rủ đi đánh thanh niên thôn B nhưng chỉ có D, J và J1 đồng ý, còn U, B3 và L5 không tham gia nên ở lại nhà U. B2 điều khiển xe mô tô chở J1 đi trước, D điều khiển xe mô tô biển số 82AA-005.54 chở Đ đi theo sau đến nhà X thì gặp X, B và H nên B2 rủ tất cả tham gia đánh thanh niên thôn B. Jen sử dụng điện thoại Realme C11 gọi điện qua ứng dụng Messenger Facebook cho Siu L rủ Siu L và N đến nhà X cùng đi đánh thanh niên thôn B. Khi Siu L điều khiển xe mô tô biển số 81S1-6027 chở theo N đến thì gặp các thanh niên thôn O đang tụ tập ở trước nhà X. Lúc này, B2 nói tất cả “tìm hung khí và chặn ở đầu thôn” nên J điều khiển xe mô tô biển số 81H4 - 8745 chở Siu L về nhà J lấy dao, còn J nhặt một cây tre làm hung khí. N, X, J1 đi nhặt cây, gậy ở ven đường rồi tự chia nhau ra đứng phục xung quanh nhà của H7.
Khoảng 23 giờ cùng ngày, H4 điều khiển xe mô tô biển số 81F7-4395 đi về trước thì bị B2, X, J1, N, J, B, H, D, Siu L chặn lại. Xơm, J1, N, J dùng cây đánh vào người còn B, H, D, Siu L dùng tay đánh vào người và mặt, B2 không tham gia mà chỉ đứng nhìn, Đ không tham gia và đi bộ về nhà U. Lúc này, các thanh niên thôn B trong nhà H7 điều khiển xe mô tô bỏ chạy thì bị D điều khiển xe mô tô chở X đuổi theo, B2, J1, N, J, B, H, Siu L cũng chạy bộ đuổi theo nhưng do đuổi không kịp nên B2, J1, N, J, B, H, D và X đi đến đầu thôn O đứng phục. Siu Lat gặp H8 đang điều khiển xe mô tô biển số 81P1 – 16308 đi trên đường nên nói H8 chở đuổi theo đánh thanh niên thôn B, H8 đồng ý chở Siu L đuổi theo khoảng 1km thì Y2 và Ksor T bị ngã xe, H8 điều khiển xe mô tô đến gần rồi Siu L nhảy xuống dùng dao chém nhiều nhát vào tay Ksor T và Y2. Do hoảng sợ nên Ksor T và Y2 bỏ chạy trốn vào vườn cà phê gần đó nên H8 điều khiển xe mô tô chở Siu L về nhà H8 ngủ.
Theo Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 266/KLTTCT-TTPY ngày 12-7-2023 của Trung tâm pháp y-Sở Y3 kết luận Ksor Tinh bị 01 sẹo vết thương phần mềm + sẹo mổ hình vòng cung từ mặt trước trong vòng ra mặt sau trong 1/3 dưới cẳng tay trái; 01 sẹo vết thương phần mềm nằm xiên mặt sau 1/3 giữa cẳng tay trái; Vết thương cẳng tay trái gây đứt động mạch trụ sau khâu nối kết quả tốt, không thiếu máu nuôi dưỡng bên dưới; Vết thương cẳng tay trái gây gãy đầu dưới 2 xương cẳng tay trái, gây hạn chế vận động khớp cổ tay trái ở tư thế cơ năng; Vết thương cẳng tay trái gây tổn thương nhánh thần kinh trụ gây hậu quả vuốt trụ ngón IV-V bàn tay trái ở tư thế cò súng và vết thương cẳng tay trái gây tổn thương nhánh vận động thần kinh quay. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Ksor T tại thời điểm giám định là 46%. Cơ chế hình thành vết thương do sự tác động trực tiếp; Vật gây thương tích: phù hợp với sự tác động của vật sắc có cạnh bén.
Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 431/KLTTCT-TTPY ngày 26-9-2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Y3 kết luận Y2 bị 01 sẹo vết thương phần mềm nằm ngang mặt sau 1/3 trên cẳng tay trái và 01 sẹo vết thương phần mềm mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Y2 tại thời điểm giám định là 3%. Cơ chế hình thành vết thương do sự tác động trực tiếp; Vật gây thương tích: phù hợp với sự tác động của vật sắc có cạnh bén.
Theo Kết luận giám định pháp y về thương tích số 432/KLTTCT-TTPY ngày 22-8-2023 của Trung tâm pháp y Sở y tế tỉnh Y3 kết luận H4 tại thời điểm giám định vùng cẳng tay phải, đùi phải không có dấu vết thương tích gì: 0%.
Ngày 28-7-2023 và ngày 27-11-2023, H4 và Y2 tự nguyện có đơn không yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Về vật chứng:
- 01 con dao bằng kim loại dài 68cm, lưỡi dao dài 45cm có mũi nhọn, lưỡi dao rộng 2,5cm, cán dao bằng kim loại hình trụ tròn dài 23cm, đường kính cán dao 2cm là dao của J do J giao nộp; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 81P1 – 163.08, số khung 0610FY027358, số máy G3D4E027362 là xe của H8 do H8 giao nộp; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter biển số 81X1 – 047.01, số khung 10CY189264, số máy 55P1189284, màu xanh trắng là xe của B2 do B2 giao nộp và 01 điện thoại di động hiệu Realme C11 2021 là điện thoại của J1 do J1 giao nộp là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội.
- Đối với cây gỗ, cây tre các bị cáo sử dụng khi đánh nhau sau đó vứt lại tại hiện trường nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đ đã lập biên bản kiểm tra, xác định nơi xảy ra vụ việc nhưng không thấy nên không thu giữ được.
- Đối với xe mô tô biển số 82AA-005.54 do D điều khiển chở Đ đi đến nhà X sau đó chở X đuổi đánh thanh niên thôn B, quá trình điều tra xác định là của chị P (mẹ của D), chị P không biết việc D sử dụng xe trên đi phạm tội nên Cơ quan điều tra không thu giữ là phù hợp.
- Đối với xe mô tô biển số 81S1-6027 do Siu Lat điều khiển chở N đến nhà X nhưng không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra không thu giữ là phù hợp.
- Đối với xe mô tô biển số 81H4 - 8745 do J điều khiển chở Siu L về nhà lấy dao, quá trình điều tra xác định là của chị K (mẹ của J), chị K không biết việc J sử dụng xe trên đi phạm tội nên Cơ quan điều tra không thu giữ là phù hợp.
Về dân sự:
- Bran, J, B, D, J1, N, X; đại diện hợp pháp của bị cáo Siu L là anh Siu L1 (cha của Siu L); đại diện hợp pháp của bị cáo H là anh L2 (cha của H) và các đối tượng liên quan gồm Đ1, L5 và B3 đã tự thoả thuận và góp tiền bồi thường về dân sự đối với Ksor T cụ thể: Siu Lý góp 30.000.000 đồng; Bran góp 10.000.000 đồng; B góp 5.000.000 đồng; J1 góp 4.000.000 đồng; X góp 5.000.000 đồng; D góp 5.000.000 đồng; N góp 4.000.000 đồng; J góp 5.000.000 đồng; anh L2 góp 2.000.000 đồng; Đ1, L5 và B3 mỗi người góp 2.000.000 đồng. Ngoài ra, B, D, J1, N, X; anh Siu L1, anh L2 mỗi người góp 1.000.000 đồng để bồi thường cho Y2 và H4 (trong đó: Y2 đã được bồi thường số tiền 5.000.000 đồng; Hữn được bồi thường số tiền 2.000.000 đồng). Bị hại không yêu cầu gì thêm về dân sự. Riêng bị cáo H8 chưa góp tiền để bồi thường.
- Anh Siu L1 và anh L2 không yêu cầu Siu L và H phải trả lại số tiền đã bồi thường giúp cho hai bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 40/CT-VKS ngày 13-5-2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai đã truy tố các bị cáo Siu L, B, D, H, N và X về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật hình sự.
2. Giải quyết của Tòa án cấp sơ thẩm: Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HSST ngày 08-8-2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai đã quyết định:
2.1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo Siu L, B, D, H, N và X phạm tội: “Cố ý gây thương tích”;
2.2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:
-Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Siu L, H.
-Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo B, D, N, X.
-Xử phạt bị cáo Siu L 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Cơ sở giam giữ chấp hành án.
-Xử phạt bị cáo H 02 (H9) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Cơ sở giam giữ chấp hành án.
-Xử phạt bị cáo B 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Cơ sở giam giữ chấp hành án.
-Xử phạt bị cáo D 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Cơ sở giam giữ chấp hành án.
-Xử phạt bị cáo N 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Cơ sở giam giữ chấp hành án.
-Xử phạt bị cáo X 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào Cơ sở giam giữ chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên bố xử lý vật chứng, án phí, tuyên quyền kháng cáo của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
3. Về kháng cáo:
Trong thời hạn luật định, các bị cáo Siu L, H, B, N kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo, bị cáo X, D kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt. Người bị hại là anh Ksor T kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
4. Diễn biến tại phiên tòa:
Các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản án sơ thẩm, các bị cáo thấy hối hận về hành vi phạm tội của mình.
Các bị cáo Siu L, H, B, N giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và cho hưởng án treo.
Các bị cáo X, D giữa nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Người bị hại là anh Ksor T giữa nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
5. Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
5.1 Đề nghị HĐXX căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo X, D và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo Siu L, H, B, N và bị hại là anh Ksor T.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HSST ngày 08/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai.
- Về án phí phúc thẩm: Các bị cáo N, B, Siu L, X, D, H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
5.2 Người bào chữa cho bị cáo Siu L, H, B, Nghĩa là ông Lương Ngọc P2 và người bào chữa cho bị cáo X là bà Nguyễn Hoàng Kim L3 trình bày:
Hoàn toàn thống nhất như hành vi phạm tội của các bị cáo như tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HSST ngày 08/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai đã quyết định. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn có xác nhận của chính quyền địa phương. Các bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt là người đồng bào dân tộc thiểu số nên nhận thức pháp luật còn nhiều hạn chế nên cho các bị cáo được giảm nhẹ hình phạt và hưởng án treo.
5.3 Người đại diện hợp pháp của bị cáo Siu L, H:
Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt và cho bị cáo vì bị cáo còn nhỏ, gia đình có hoàn cảnh khó khăn.
5.4. Các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tại phiên tòa, các bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung Bản án sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có tại hồ sơ vụ án.
Đủ cơ sở khẳng định: Chỉ vì thấy nhóm thanh niên thôn B, xã I mang theo dao và bình xịt hơi cay đang tụ tập ở nhà của H7 mà B2 đã rủ U, B3, Đ, L5, D, J, J1, X1, B, H đi đánh thanh niên thôn B thì D, J, J1, X1, B, Η đồng ý. Jen gọi điện thoại rủ thêm Siu L, N cùng đi đánh nhau thì Siu L, N đồng ý. Nhóm của bị cáo chuẩn bị hung khí, đứng phục xung quanh nhà của H7.
Khoảng 23 giờ 21/3/2023, khi thấy H4 chạy xe đi về trước nhóm của bị cáo chặn lại. Xơm, J1, N, J dùng cây đánh vào người còn B, H, D, Siu L dùng tay đánh vào người và mặt H4. Lúc này, các thanh niên thôn B trong nhà H7 điều khiển xe mô tô bỏ chạy thì bị nhóm của bị cáo đuổi theo. Trên đường đuổi theo, Siu L gặp H8 đang điều khiển xe mô tô nên đã rủ H8 đi đánh nhau thì H8 đồng ý. H8 chở Siu L6 đuổi theo nhóm của thanh niên thôn B thì thấy Y2 và Ksor T bị ngã xe. Lợi dụng lúc Y2 và Ksor T ngã xe, Siu L dùng dao lấy ở nhà J chém nhiều nhát vào tay Ksor T và Y2 còn H8 thì đứng chờ và chở Siu L về nhà H8 ngủ.
Theo Kết luận giám định pháp y thì tỷ lệ thương tích tổn thương cơ thể của anh Y2 là 03% và Ksor T là 46%.
Do đó, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo N, B, Siu L, X, D, H phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm c khoản 3 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo X, D và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của bị cáo Siu L, H, B, N thấy rằng:
Đối với bị cáo Siu L là người rủ rê, lôi kéo bị cáo H8 tham gia đánh nhóm thanh niên thôn B, bị cáo cũng là người thực hành tích cực khi là người xông đến dùng dao chém nhiều nhát vào tay của hai bị hại Ksor T, Y2; thương tích chính của bị hại cũng do bị cáo gây ra. Do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án này. Tuy nhiên, khi lượng hình cho bị cáo Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo cũng như khi phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên mức hình phạt mà Tóa cấp sơ thẩm áp dụng cho bị cáo là phù hợp.
Đối với bị cáo N, B, X, D, H là người bị lôi kéo, rủ rê cùng với các bị cáo khác tham gia đánh thanh niên Thôn B, các bị cáo chỉ tham gia với vai trò giúp sức, thứ yếu so với các bị cáo khác. Riêng bị cáo H khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội, xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo như:
Các bị cáo đều thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo N, B, X, D, H đã bồi thường và tác động gia đình khắc phục hậu quả, bị hại cũng có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo H, B, N cung cấp cho Tòa án đơn xin xác nhận hoàn cảnh khó khăn nhưng xét thấy khi lượng hình cho các bị cáo Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng Điều 54 để quyết định mức hình phạt dưới khung mà các bị cáo phải chịu là đã thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với các bị cáo. Do đó, mức hình phạt mà Tòa án cấp sơ thẩm áp dụng cho các bị cáo là phù hợp với tính chất mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nên không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo.
[5] Về án phí phúc thẩm:
-Các bị cáo N, B, Siu L, X, D, H phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
-Bị hại Ksor T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Điều luật áp dụng:
- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự;
-Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 58; Điều 90; Điều 91; Điều 101 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Siu L, H.
-Áp dụng điểm c khoản 3 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo B, D, N, X.
-Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
2. Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của các bị cáo X, D và kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo của các bị cáo Siu L, H, B, N và bị hại là anh Ksor T.
Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số: 48/2024/HSST ngày 08/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Gia Lai.
2.1. Về tội danh:
Tuyên bố các bị cáo N, B, Siu L, X, D, H phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
2.2.Về hình phạt:
-Xử phạt bị cáo Siu L 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
-Xử phạt bị cáo H 02 (H9) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
-Xử phạt bị cáo B 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
-Xử phạt bị cáo D 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
-Xử phạt bị cáo N 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào giữ chấp hành án.
-Xử phạt bị cáo X 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào chấp hành án.
3. Về án phí:
Xử buộc các bị cáo N, B, Siu L, X, D, H mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Bị hại Ksor T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Tiến Sỹ |
Bản án số 12/2024/HSPT-CTN ngày 15/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 12/2024/HSPT-CTN
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 15/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Siu L
