Hệ thống pháp luật

TAND HUYỆN MƯỜNG TÈ

TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/HS-ST

Ngày: 05-12-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Đới Xuân Huy
Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Công Đại

- Ông Bùi Thanh Hải

Thư ký phiên tòa:Ông Nguyễn Minh Tuấn - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa:Ông Vũ Đức Hoàng - Kiểm sát viên.

Trong ngày 05 tháng 12 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu xét xử sơ thẩm, công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 17/2024/TLST-HS ngày 01 tháng 11 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST- HS ngày 25/11/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Ly Thị T - Sinh năm 1967.

Nơi cư trú: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Dân tộc: Mông; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Ly Vả S (Đã chết) và bà Sùng Thị D - sinh năm 1948; Bị cáo có chồng là Giàng Pà K - sinh năm 1966 và có 05 con, con lớn nhât sinh năm 1991, con nhỏ nhất sinh năm 2006; Gia đình bị cáo có 04 chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Tại bản án số 16/2016/HSST ngày 30/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên xử phạt bị cáo 54 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/6/2024 cho đến nay (Có mặt).

· Những người làm chứng:

  • + Ông Giàng A T1 - sinh năm 1988. (Vắng mặt)
  • Nơi cư trú: Bản S, xã S, thành phố L, tỉnh Lai Châu.
  • + Ông Sùng A L - sinh năm 1968. (Vắng mặt)
  • Nơi cư trú: Bản S, xã L, huyện P, tỉnh Lai Châu.

· Người bào chữa cho bị cáo: Ông Nguyễn Công H - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh L (Có mặt)

· Người phiên dịch cho bị cáo: Ông Sùng A H1 (Có mặt)

Nơi cư trú: Khu phố H, thị trấn M, huyện M, tỉnh Lai Châu.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 07/6/2024, Ly Thị T đang ở nhà thì có một người đàn ông đến đặt vấn đề bán trái phép chất ma túy. Qua trao đổi, Ly Thị T mua của người này 07 gói Heroine được gói bằng nilon màu hồng với giá 500.000 đồng, nhằm mục đích bán kiếm lời. Sau khi mua, T cất Heroine vào trong túi vải đeo trước bụng.

Khoảng 17 giờ ngày 08/6/2024, Giàng A T1 và Sùng A L góp nhau mỗi người 100.000 đồng (Giàng A T1 là người cầm tiền), đến nhà Ly Thị T hỏi mua Heroine để sử dụng. Tại gian bếp nhà Ly Thị T, Giàng A T1 hỏi mua 200.000 đồng Heroine, Ly Thị T đồng ý bán và nhận 200.000 đồng (gồm 02 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng) từ Giàng A T1 và lấy 01 gói Heroine từ túi vải đeo trước bụng đưa cho Giàng A T1. Nhận được gói H2, Giàng A T1 và Sùng A L xin sử dụng ma túy tại nhà Ly Thị T và được T đồng ý.

Hồi 17 giờ 20 phút cùng ngày, khi Giàng A T1 và Sùng A L đang sử dụng Heroine, Ly Thị T ngồi bên cạnh nhóm lửa nấu cơm thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L phát hiện bắt quả tang, thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng theo quy định của pháp luật.

Tại bản kết luận giỏm định số 713/GĐ-KTHS ngày 09/6/2024 của Phũng K1 Cụng an tỉnh L đó kết luận về vật chứng thu giữ của Ly Thị T: Số chất bột, màu trắng gửi giỏm định cú tổng khối lượng 1,31 gam.

Tại bản kết luận giỏm định số 696/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phũng K1 Cụng an tỉnh L kết luận đối với mẫu vật thu giữ của Ly Thị T: 06 Mẫu chất bột màu trắng (ký hiệu từ Mẫu 01 đến Mẫu 06) gửi giỏm định là ma tỳy; loại: Heroine...

Tại bản kết luận giỏm định số 716/KL-KTHS ngày 11/6/2024 của Phũng K1 Cụng an tỉnh L kết luận đối với mẫu vật thu giữ của Ly Thị T: 02 tờ tiền Việt Nam mệnh giỏ 100.000₫ gửi giỏm định là tiền thật.

Tại bản cáo trạng số 99/CT-VKS-MT ngày 01/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè tỉnh Lai Châu đã truy tố Ly Thị T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 256 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố phân tích các tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, giữ nguyên nội dung bản cáo trạng đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm d khoản 2, khoản 3 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự. Khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Tuyên bố bị cáo Ly Thị T phạm các tội "Mua bán trái phép chất ma túy" và "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy", xử phạt bị cáo Ly Thị T mức án từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; mức án từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù về tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy" và tổng hợp hình phạt theo quy định. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa ga màu vàng; 01 túi nilon màu trắng; 07 mảnh nilon màu hồng; 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 túi vải có nhiều hoa văn; 01 phong bì công văn do Công an tỉnh L phát hành. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng.

Tại phiên tòa người bào chữa cho bị cáo trình bày luận cứ bào chữa nhất trí với nội dung, quyết định truy tố. Không có ý kiến tranh luận về tội danh, điều luật, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như xử lý vật chứng, các biện pháp tư pháp mà Kiểm sát viên đã đề nghị. Tuy nhiên người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo về tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy"; đề nghị cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt về tội "Mua bán trái phép chất ma túy".

Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng, đồng ý với quan điểm của người bào chữa và không có ý kiến tranh luận đối với quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè.

Tại lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện M, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, Điều tra viên, Kiểm sát viên, người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.

[2]. Về tính chất, mức độ, hành vi của bị cáo:

Xét lời khai nhận của bị cáo Ly Thị T tại phiên tòa ngày hôm nay phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cũng như nội dung bản Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Tè, tỉnh Lai Châu đã truy tố.

Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 17 giờ ngày 08/6/2024, Ly Thị T đã có hành vi bán trái phép cho Giàng A T1 01 gói Heroine với giá 200.000 đồng. Ngoài ra Ly Thị T còn đang cất giấu 1,31 gam Heroine với mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Sau khi bán Heroine, Ly Thị T đã đồng ý để cho Giàng A T1 và Sùng A L sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của mình.

Bị cáo Ly Thị T có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Các hành vi nêu trên của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chính sách quản lý đặc biệt về mua bán, quản lý, sử dụng các chất ma tuý của Nhà nước, gián tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác, làm ảnh hưởng xấu tới trật tự trị an, an toàn xã hội tại địa phương. Bị cáo biết rõ các hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi mua bán, tàng trữ với mục đích để mua bán trái phép 1,31 gam Heroine để kiếm lời đã đủ yếu tố cấu thành tội "Mua bán trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Hành vi đồng ý để Giàng A T1 và Sùng A L sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của mình đã đủ yếu tố cấu thành tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy" theo điểm d khoản 2, khoản 3 Điều 256 Bộ luật Hình sự.

Vì vậy quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về tội danh, mức hình phạt và các vấn đề khác liên quan là hoàn toàn có cơ sở, phù hợp với tính chất, mức độ cũng như hành vi phạm tội của bị cáo nên được chấp nhận.

Quan điểm của người bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất của khung hình phạt đối với tội "Mua bán trái phép chất ma túy" là không phù hợp với nhân thận, tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo nên không được chấp nhận.

[3] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Nhân thân: Tại bản án số 16/2016/HSST ngày 30/12/2016 của Tòa án nhân dân huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên xử phạt bị cáo 54 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Đến thời điểm phạm tội lần này bị cáo đã chấp hành xong hình phạt và được xóa án tích.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 BLHS.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, hiểu biết pháp luật còn hạn chế nên Hội đồng xét xử cần áp dụng cho bị cáo các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 điều 51 BLHS.

Do bị cáo hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng nên Hội đồng xét xử xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho xã hội.

[4]. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 và khoản 3 Điều 256 Bộ luật hình sự: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền...... hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa, xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, công việc và thu nhập không ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[5]. Về vật chứng của vụ án: 1,31 gam Heroine cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện M gửi toàn bộ đi giám định không hoàn lại mẫu vật, việc gửi vật chứng đi giám định là phụ hợp với quy định của pháp luật. 01 bật lửa ga màu vàng; 01 túi nilon màu trắng; 07 mảnh nilon màu hồng; 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 túi vải có nhiều hoa văn là vật dùng vào việc phạm tội, 01 phong bì công văn do Công an xã M phát hành; 01 phong bì công văn do Công an tỉnh L phát hành dùng để niêm phong vật chứng đều không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. 02 tờ tiền Polymer mệnh giá 100.000 đồng là tiền bị cáo bán Heroine mà có nên cần tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước.

[6]. Về những vấn đề khác:

Đối với người thanh niên dân tộc Mông lạ mặt mà theo lời khai đó là người đã bán Heroine cho bị cáo: Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không xác định được người đó là ai nên Hội đồng xét xử không đề cập xem xét xử lý.

Đối với Giàng A T1 và Sùng A L: Quá trình điều tra xác định, Giàng A T1 và Sùng A L đã sử dụng hết số Heroine nên không có căn cứ để xử lý hình sự. Do đó, Công an tỉnh L đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Giàng A T1 và Sùng A L về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý là hoàn toàn phù hợp, đúng quy định của pháp luật.

[7]. Về án phí: Xét thấy bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn. Nên cần miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 251; điểm d khoản 2, khoản 3 Điều 256; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 50; Điều 55; Điều 46; Điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự. Khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội.

  1. Tuyên bố bị cáo Ly Thị T phạm các tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy".
  2. Xử phạt bị cáo Ly Thị T 03 năm tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy"; 07 năm tù về tội "Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy". Tổng hợp hình phạt cho cả hai tội bị cáo phải chấp hành là 10 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 08/6/2024. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  3. Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 bật lửa ga màu vàng; 01 túi nilon màu trắng; 07 mảnh nilon màu hồng; 02 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 túi vải có nhiều hoa văn; 01 phong bì công văn do Công an tỉnh L phát hành. Tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 200.000 đồng.

    (Tình trạng vật chứng như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện M với Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Mường Tè được lập vào hồi 16 giờ 25 phút ngày 05 tháng 11 năm 2024)

  4. Án phí: Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND tỉnh Lai Châu;
  • - VKSND huyện Mường Tè;
  • - Bị cáo;
  • - Người bào chữa;
  • - Chi cục Thi hành án Dân sự huyện;
  • - Nhà tạm giữ CA huyện Mường Tè;
  • - Công an huyện Mường Tè;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Lai Châu;
  • - Lưu HS – HS./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đới Xuân Huy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU về mua bán trái phép chất ma túy và chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 12/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG TÈ, TỈNH LAI CHÂU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ...
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger