TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA CHẼ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2024/HS-ST
Ngày 26 - 11 - 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: ông Nguyễn Văn Quyền.
Các Hội thẩm nhân dân: ông Khúc Thanh Nghị và bà Phạm Thị Hằng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thảo - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên toà: Ông Tô Minh Đức - Kiểm sát viên.
Trong ngày 26 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2024/TLST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Văn M; sinh ngày: 17/7/1987 tại huyện B, tỉnh Quảng Ninh; nơi cư trú: thôn K, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Sán Chay; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn M1 và bà Lâm Thị T (đã chết); có vợ là Vi Thị P; có 02 con, con lớn sinh năm 2017, con nhỏ sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/8/2024 đến ngày 06/9/2024, được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh”, hiện tại ngoại tại nơi cư trú; có mặt.
* Người bào chữa:
Bà Nguyễn Thị H; sinh năm 1955 – Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Q; có mặt.
* Người làm chứng:
- - Chị Lò Thị B; sinh ngày: 23/4/1987; nơi cư trú: xã G, huyện V, tỉnh Yên Bái; vắng mặt.
- - Anh Lò Văn T1; sinh ngày: 10/12/1979; nơi cư trú: bản H, xã N, huyện T, tỉnh Sơn La; vắng mặt.
- - Anh Bùi Văn T2; sinh ngày: 16/7/1982; nơi cư trú: thôn B, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
- - Anh Nguyễn Văn H1; sinh ngày: 24/5/1990; nơi cư trú: xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình; vắng mặt.
- - Anh Hoàng Thế T3; sinh ngày: 20/8/1987; nơi cư trú: thôn L, xã Đ, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
- - Chị Vi Thị P; sinh ngày: 01/12/1987; nơi cư trú: thôn K, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
* Người chứng kiến:
- - Anh Lý Mạnh T4; sinh ngày: 05/3/1977; nơi cư trú: thôn K, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 08/8/2024, Lò Văn T1 (sinh năm 1979; trú tại bản H, xã N, huyện T, tỉnh Sơn La; Bùi Văn T2 (sinh năm 1982; trú tại Thôn B, xã Đ, huyện B); Nguyễn Văn H1 (sinh năm 1990; trú tại xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình) và Hoàng Thế T3 (sinh năm 1987; trú tại thôn L, xã Đ, huyện B) đến hát tại quán Karaoke “Cầu K" thuộc thôn K, xã N, huyện B do Trần Văn M làm chủ. Mùi sắp xếp phòng hát và chỉ đạo chị Lò Thị B (sinh năm 1987; trú tại xã G, huyện V, tỉnh Yên Bái) là nhân viên làm việc tại quán vào phòng hát phục vụ rót bia, bấm bài hát. Trong quá trình hát, anh T1 đặt vấn đề mua dâm với chị B thì chị B nói phải hỏi ý kiến của M trước. Sau đó, anh T1 đi ra ngoài sân của quán nói với M về việc anh T1 muốn mua dâm đối với chị B thì được M đồng ý và bảo anh T1 tự liên hệ thỏa thuận và trực tiếp trả tiền mua dâm cho chị B. Anh T1 vào phòng nói với chị B là M đã đồng ý thì chị B nhắn tin qua ứng dụng Zalo xin ý kiến của M thì được M đồng ý cho chị B bán dâm cho anh T1 tại phòng ở của B tại quán. Anh T1 và chị B thỏa thuận với nhau, tiền mua bán dâm là 400.000 đồng/lần, sau đó chị B dẫn anh T1 vào phòng ngủ của chị B ở cạnh phòng hát, anh T1 đưa 400.000 đồng là tiền mua dâm cho chị B.
Đến khoảng 00 giờ 45 phút ngày 09/8/2024, khi chị B và anh T1 đang chuẩn bị thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Công an huyện B phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 bao cao su để trên giường, 10 bao cao su còn trong hộp đều cùng nhãn hiệu “Khe” chưa qua sử dụng; thu của M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y100 màu xanh bên trong lắp sim; thu của chị B số tiền 400.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím, bên trong lắp sim. Tại giai đoạn điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Lò Thị B chiếc điện thoại mà chị B bị thu giữ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, Trần Văn M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dụng vụ án đã nêu ở trên. M còn khai nhận thêm: khi chị B đến làm việc tại quán, M và chị B có thỏa thuận nếu khách đến quán hát K có nhu cầu mua dâm thì chị B sẽ bán dâm tại phòng ngủ của quán hát, với giá 400.000 đồng/lượt. Số tiền thu được của người mua dâm chị B được hưởng 250.000 đồng; M được hưởng 150.000 đồng. Ngày 09/8/2024, cả M và chị B đều chưa được hưởng lợi gì từ số tiền mà chị B thu được từ người mua dâm vì số tiền 400.000 đồng đã bị Cơ quan công an thu giữ khi phát hiện, bắt quả tang. Đây là lần đầu tiên M đồng ý để chị B bán dâm tại quán của M. Chiếc điện thoại M bị cơ quan Công an thu giữ, M đã dùng để liên lạc với chị B trong quá trình chị B hỏi ý kiến M về việc cho chị B bán dâm tại quán.
Tại giai đoạn điều tra, người làm chứng Lò Thị B khai nhận: chị B đến làm việc tại quán Karaoke “Cầu Khe T5” (tại thôn K, xã N, huyện B) do M làm chủ từ khoảng tháng 3/2024, M và chị B có thỏa thuận quá trình chị B làm việc tại quán nếu có khách mua dâm thì chị B sẽ là người bán dâm tại phòng ngủ được bố trí tại quán, chị B sẽ thu của khách 400.000 đồng/lượt, số tiền này chị B được hưởng 250.000 đồng, M được hưởng 150.000 đồng. Đây là lần đầu tiên Bang bán dâm tại quán, trước khi bán dâm tại quán hát chị B có nhắn tin qua ứng dụng Zalo để hỏi ý kiến của M thì được M đồng ý cho chị B bán dâm tại phòng ngủ của B được M bố trí tại quán.
Những người làm chứng khác có lời khai tại giai đoạn điều tra phù hợp với lời khai của bị cáo; phù hợp với diễn biến, nội dung vụ án.
Người chứng kiến khai nhận mình đã trực tiếp chứng kiến việc sau khi Cơ quan công an phát hiện, bắt quả tang đã tiến hành lập biên bản sự việc tại quán hát của M chứa 01 đôi nam nữ thực hiện hành vi mua bán dâm, thu giữ những vật chứng, tài sản nêu trên, phù hợp với nội dung vụ án.
Tại bản Cáo trạng số 535/CT-VKSBC ngày 06 tháng 11 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị can Trần Văn M, về tội “Chứa mại dâm”, quy định tại khoản 1 Điều 327 Bộ luật hình sự. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng: khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự: xử phạt bị cáo Trần Văn M từ 15 (mười lăm) đến 18 (mười tám) tháng tù, cho hưởng án treo về tội “Chứa mại dâm”, thời gian thử thách từ 30 (ba mươi) đến 36 (ba mươi sáu) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Giao bị cáo Trần Văn M cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Quảng Ninh giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thực hiện theo Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
- - Áp dụng: các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy: 01 bao cao su nhãn hiệu “Khe” và 01 hộp bên trong chứa 10 bao cao su nhãn hiệu “Khe” đều chưa qua sử dụng. Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng, được niêm phong trong 01 phong bì, hiện đang được gửi giữ tại Kho bạc nhà nước huyện B, theo Biên bản giao nhận tài sản lập ngày 22/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Kho bạc nhà nước huyện B) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, số IMEI 1: 865204075592453, đã qua sử dụng.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận Cáo trạng của Viện kiểm sát huyện B truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan, không sai. Bị cáo không có ý kiến tranh luận và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bà Nguyễn Thị H là người bào chữa cho bị cáo trình bày quan điểm: cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Chẽ truy tố về hành vi phạm tội của bị cáo là đúng người, đúng tội. Tuy nhiên, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở xã miền núi nên nhận thức về pháp luật có phần còn hạn chế; hoàn cảnh gia đình còn nhiều khó khăn, bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình; bị cáo có nhân thân tốt phạm tội lần đầu, quá trình sinh sống tại địa phương đã tích cực tham gia các hoạt động từ thiện, ủng hộ vật chất giúp đỡ những nơi còn khó khăn; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Do vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo và giảm nhẹ hình phạt đến mức thấp nhất để bị cáo có điều kiện tu dưỡng, rèn luyện, trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Chẽ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố: đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các tài liệu, chứng cứ đã thu thập, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa phù hợp với nhau; phù hợp với sơ đồ, bản ảnh và phù hợp với lời khai của những người tham gia tố tụng khác. Quá trình thu giữ, niêm phong, bảo quản, giao nhận vật chứng đúng trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật, đảm bảo khách quan, trung thực cùng những tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: khoảng 00 giờ 45 phút, ngày 09/8/2024, tại phòng “ở” của quán Karaoke “Cầu Khe T5” thuộc quyền sở hữu, quản lí của Trần Văn M tại thôn K, xã N, huyện B, tỉnh Quảng Ninh, Trần Văn M đã có hành vi chứa chấp cho chị Lò Thị B là người làm việc tại quán thực hiện hành vi bán dâm cho anh Lò Văn T1 thì bị Công an huyện B phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật hình sự, phạm tội với lỗi cố ý. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm vào tội “Chứa mại dâm” theo quy định tại khoản 1 Điều 327 của Bộ luật Hình sự, đúng như nội dung Bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố.
[3] Điều 327 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào chứa mại dâm, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm...”
[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý công cộng và nếp sống lành mạnh, văn minh, làm tha hóa đạo đức xã hội, trái với thuần phong mỹ tục của người Việt Nam. Tệ nạn mại dâm không những là một trong những nguyên nhân phá vỡ hạnh phúc của gia đình, tiếp tay cho việc lây truyền nhiều căn bệnh truyền nhiễm nguy hiểm mà còn là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội và tội phạm khác. Do đó hành vi phạm tội của bị cáo cần bị xử lý nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội.
[5] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[5.1] Về tình tiết tăng nặng: bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[5.2] Về tình tiết giảm nhẹ: Tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Trước khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã tích cực thực hiện các hoạt động từ thiện vì cộng đồng, cụ thể là: ngày 12/3/2024 đã tặng 25 chiếc áo ấm và 400kg gạo trị giá 10.200.000 đồng (mười triệu hai trăm nghìn đồng) cho Trường phổ thông dân tộc bán trú TH và THCS Đ (thuộc xã Đ, huyện B), được Nhà trường và Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện B biểu dương, xác nhận bằng văn bản. Mặt khác, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở xã miền núi, cuộc sống còn nhiều khó khăn; bị cáo hiện là lao động chính trong gia đình nuôi hai con nhỏ; quá trình sinh sống tại địa phương chưa vi phạm pháp luật lần nào, được chính quyền địa phương xác nhận bằng văn bản. Do vậy Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình để xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo của Nhà nước.
[6] Về hình phạt:
[6.1] Về hình phạt chính: Căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự, sau khi cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: bị cáo có nhân thân tốt, khi phạm tội không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ và có nơi cư trú rõ ràng. Theo quy định tại Điều 65 của Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 (được sửa đổi bổ sung năm 2022) của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Hội đồng xét xử thấy bị cáo có đủ điều kiện được hưởng án treo nên không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú quản lý giáo dục với một thời gian thử thách phù hợp, điều đó cũng đáp ứng được mục đích của hình phạt. Trường hợp bị cáo vi phạm pháp luật nghiêm trọng trong thời gian thử thách thì phải chấp hành hình phạt tù của bản án này.
[6.2] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 327 của Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng. Nhưng xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp, thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lí vật chứng và tài sản khác bị thu giữ:
Đối với 01 bao cao su nhãn hiệu “Khe” và 01 hộp bên trong chứa 10 bao cao su nhãn hiệu “Khe”, thu giữ được tại địa điểm thực hiện hành vi mua bán dâm là vật không có giá trị cần tịch thu tiêu hủy. Đối với số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng) là tiền có được liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, thu giữ của bị cáo là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung Ngân sách nhà nước.
[8] Đối với hành vi mua dâm của anh Lò Văn T1 và hành vi bán dâm của chị Lò Thị B, do không cấu thành tội phạm hình sự nên Công an huyện B đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là phù hợp với quy định của pháp luật, vì vậy Hội đồng xét xử không xem xét.
[9] Về án phí: bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo bản án: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 327; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các khoản 1, 2 và 5 Điều 65 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Trần Văn M phạm tội “Chứa mại dâm”.
Xử phạt bị cáo Trần Văn M 15 (mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
2. Giao bị cáo Trần Văn M cho Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Quảng Ninh giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Căn cứ vào: Điều 121; Điều 124; điểm d khoản 1 Điều 125 của Bộ luật tố tụng hình sự: hủy bỏ các biện pháp ngăn chặn “Bảo lĩnh” và “Tạm hoãn xuất cảnh” của Tòa án nhân dân huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh đang được áp dụng đối với bị cáo Trần Văn M.
4. Căn cứ vào: các điểm a, b khoản 1 Điều 47 của Bộ luật hình sự; các khoản 1, 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy: 01 bao cao su nhãn hiệu “Khe” và 01 hộp bên trong chứa 10 bao cao su nhãn hiệu “Khe” đều chưa qua sử dụng. Tịch thu sung Ngân sách nhà nước: số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng, được niêm phong trong 01 phong bì, hiện đang được gửi giữ tại Kho bạc nhà nước huyện B, theo Biên bản giao nhận tài sản lập ngày 22/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B và Kho bạc nhà nước huyện B) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo màu xanh, số IMEI 1: 865204075592453, đã qua sử dụng.
Tình trạng của những vật chứng, tài sản nêu trên như Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản lập ngày 06/11/2024 giữa Công an huyện B, tỉnh Quảng Ninh và Chi cục thi hành án dân sự huyện Ba Chẽ, tỉnh Quảng Ninh.
5. Căn cứ vào: khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án: buộc bị cáo Trần Văn M phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
6. Căn cứ vào: khoản 1 Điều 331; khoản 1 Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Quyền |
Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 26/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH về chứa mại dâm
- Số bản án: 12/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Chứa mại dâm
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA CHẼ, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 08/8/2024, Lò Văn T1 (sinh năm 1979; trú tại bản H, xã N, huyện T, tỉnh Sơn La; Bùi Văn T2 (sinh năm 1982; trú tại Thôn B, xã Đ, huyện B); Nguyễn Văn H1 (sinh năm 1990; trú tại xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình) và Hoàng Thế T3 (sinh năm 1987; trú tại thôn L, xã Đ, huyện B) đến hát tại quán Karaoke “Cầu K" thuộc thôn K, xã N, huyện B do Trần Văn M làm chủ. Mùi sắp xếp phòng hát và chỉ đạo chị Lò Thị B (sinh năm 1987; trú tại xã G, huyện V, tỉnh Yên Bái) là nhân viên làm việc tại quán vào phòng hát phục vụ rót bia, bấm bài hát. Trong quá trình hát, anh T1 đặt vấn đề mua dâm với chị B thì chị B nói phải hỏi ý kiến của M trước. Sau đó, anh T1 đi ra ngoài sân của quán nói với M về việc anh T1 muốn mua dâm đối với chị B thì được M đồng ý và bảo anh T1 tự liên hệ thỏa thuận và trực tiếp trả tiền mua dâm cho chị B. Anh T1 vào phòng nói với chị B là M đã đồng ý thì chị B nhắn tin qua ứng dụng Zalo xin ý kiến của M thì được M đồng ý cho chị B bán dâm cho anh T1 tại phòng ở của B tại quán. Anh T1 và chị B thỏa thuận với nhau, tiền mua bán dâm là 400.000 đồng/lần, sau đó chị B dẫn anh T1 vào phòng ngủ của chị B ở cạnh phòng hát, anh T1 đưa 400.000 đồng là tiền mua dâm cho chị B. Đến khoảng 00 giờ 45 phút ngày 09/8/2024, khi chị B và anh T1 đang chuẩn bị thực hiện hành vi mua bán dâm thì bị Công an huyện B phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 bao cao su để trên giường, 10 bao cao su còn trong hộp đều cùng nhãn hiệu “Khe” chưa qua sử dụng; thu của M 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y100 màu xanh bên trong lắp sim; thu của chị B số tiền 400.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO màu tím, bên trong lắp sim. Tại giai đoạn điều tra, cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chị Lò Thị B chiếc điện thoại mà chị B bị thu giữ.
