Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BẮC MÊ

TỈNH HÀ GIANG

Bản án số: 12/2024/HS-ST

Ngày 20 - 6 - 2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Văn Công.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Minh Hậu - Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Dung - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Mê, tỉnh Hà Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 12/2024/TLST-HS ngày 10 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm theo thủ tục rút gọn số 12/2024/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 6 năm 2024 đối với.

- Bị cáo: Ly Mí V; sinh năm 2000; nơi sinh: Huyện B, tỉnh Hà Giang; nơi cư trú: Thôn Kẹp A, xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Mông; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Ly Nỏ P; sinh năm 1963 và con bà Thào Thị G; sinh năm 1965; có 03 anh em ruột, bị cáo là con thứ 02 trong gia đình; có vợ Thào Thị C, sinh năm 2001 và có 02 con, con lớn nhất sinh năm 2021, con nhỏ nhất sinh năm 2024; tiền sự, tiền án: Không; nhân thân: Không; căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx cấp ngày 09/5/ 2021, nơi cấp Cục CSQLHC về trật tự xã hội Bộ Công an; tạm giữ: Ngày 13/5/2024; tạm giam: Ngày 22/5/2024. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B, tỉnh Hà Giang (có mặt).

Người bào chữa cho bị cáo: Bà Nguyễn Thị H - Trợ giúp viên pháp lý; nơi công tác: Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Giang (vắng mặt).

- Bị hại: Ông Hạng Chá M; sinh năm 1978; nơi cư trú: Thôn Kẹp A, xã M, huyện B, tỉnh Hà Giang (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trưa ngày 11/5/2024, Ly Mí V một mình đến khu vực chăn thả gia súc của ông Hạng Chá M, quan sát thấy 03 con trâu, 03 con bò đang buộc gần lều của ông Hạng Chá M. V đứng quan sát khoảng 10 phút nhìn thấy ông M đi lên chăn trâu, bò nên V đi về. Đến khoảng 10 giờ ngày 13/5/2024, V một mình đi lên vị trí lều ông M buộc trâu, bò, đứng cách vị trí buộc trâu bò khoảng 15m thì dừng lại nấp vào bụi cây để quan sát khoảng 01 giờ đồng hồ không thấy có người trông coi, lúc này V tiến lại vị trí con trâu cái, màu lông đen đang buộc ở gốc cây đồng thời dùng hai tay cởi tháo phần đầu dây buộc trâu ở gốc cây ra rồi dắt con trâu trên đi theo đường mòn về hướng xóm Phia Lỷ thuộc thôn Lùng Thóa, xã M, huyện B được khoảng 20m thì bị ông Hạng Chá M phát hiện, bắt quả tang. Mục đích Ly Mí V trộm cắp tài sản đem bán lấy tiền tiêu xài.

Ngày 15/5/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B phối hợp với các ngành chức năng tiến hành đưa Ly Mí V, bị hại Hạng Chá M, tiến hành xác định hiện trường các vị trí thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đều phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được.

Tại Bản kết luận giám định số 07 ngày 15/5/2024 của Hội đồng định giá tài sản huyện B kết luận: 01 con trâu cái, lông màu đen, vòng ngực dài 187cm, dài thân chéo 144cm; trọng lượng 445kg giá trị 26.700.000đ (Hai mươi sáu triệu, bẩy trăm nghìn đồng).

Xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xét thấy một số vật chứng của vụ án đã được chứng minh làm rõ. Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã ra quyết định xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu gồm:

Trả lại cho bị hại ông Hạng Chá M 01 con trâu cái, lông màu đen, vòng ngực dài 187cm, dài thân chéo 144cm, trọng lượng 445kg.

Trả lại cho Ly Mí V 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO, màu xanh trắng, màn hình cảm ứng bị vỡ nhiều chỗ, bên ngoài có ốp nhựa màu xanh nhạt; 01 con dao quắm; 01 túi vải màu đen đều đã qua sử dụng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Hạng Chá M đã nhận lại tài sản không yêu cầu bồi thường.

Tại quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số 12/QĐ-VKSBM ngày 09/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố Ly Mí V về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu quan điểm luận tội, giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

  • - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ly Mí V phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • - Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt Ly Mí V từ 12 đến 14 tháng tù, thời hạn tính từ ngày 13/5/2024.
  • - Về hình phạt bổ sung: Không; về trách nhiệm dân sự: Không; về vật chứng: Không.
  • - Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Điều 12, Điều 14, khoản 6, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo được miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo Ly Mí V: Đồng thuận quan điểm của Viện kiểm sát về tội danh bị cáo Ly Mí V phạm tội Trộm cắp tài sản là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Đề nghị xem xét các tình tiết giảm nhẹ. Bị cáo nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số sống ở vùng kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn.

Đề nghị về tội danh tuyên bố bị cáo Ly Mí V phạm tội Trộm cắp tài sản. Hình phạt: Áp dụng khoản 1, Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2, Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Ly Mí V 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 12 tháng; về trách nhiệm dân sự: Không.

Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Miễn nộp toàn bộ tiền án phí cho bị cáo.

Bị cáo Ly Mí V nhất trí với quan điểm của Trợ giúp viên pháp lý không có bổ sung.

Bị cáo không có tranh luận đối đáp với Kiểm sát viên.

Bị cáo thực hiện quyền nói sau cùng xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, nhận định như sau:

[1]. Tại phiên tòa vắng mặt: Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo có đơn xét xử vắng mặt và gửi luận cứ bào chữa; bị hại có đơn xét xử vắng mặt. Xét thấy bị cáo; Kiểm sát viên đồng ý xét xử vắng mặt; trong hồ sơ đã có lời khai của bị hại, việc vắng mặt bị hại không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Căn cứ khoản 1 Điều 291, khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Tòa án tiến hành xét xử theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Cơ quan điều tra Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người bào chữa không có ý kiến hoặc khiếu nại gì. Do vậy các hành vi quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.

[3] Về căn cứ định tội, định khung hình phạt: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã đủ cơ sở kết luận: Trưa ngày 13/5/2024, Ly Mí V lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu ông Hạng Chá M, bị cáo Ly Mí V đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản 01 con trâu cái, trọng lượng 445kg giá trị 26.700.000₫ (Hai mươi sáu triệu, bẩy trăm nghìn đồng) thì bị phát hiện và bị bắt quả tang. Mục đích mang đi bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Như vậy, quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Mê truy tố Ly Mí V về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

Điều 173 Bộ luật Hình sự quy định

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng..., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm...

[4] Đánh giá tính chất, mức độ của hành vi phạm tội: Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo lợi dụng sơ hở không cảnh giác của bị hại đã lén lút thực hiện hành vi Trộm cắp tài sản 01 con trâu giá trị 26.700.000đ của bị hại Hạng Chá M. Bị cáo nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng do lười lao động muốn có tiền tiêu xài đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Do đó cần có mức án nghiêm minh đối với bị cáo, tương xứng với hành vi phạm tội gây ra, cần cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung.

[5] Khi quyết định hình phạt, xem xét nhân thân bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo không có. Về nhân thân bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình, ngoài ra các con của bị cáo còn nhỏ cần có sự chăm sóc của bị cáo. Nên xét cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.

[6] Bị cáo Ly Mí V đang bị áp dụng biện pháp tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện B, xét thấy cần tiếp tục tạm giam bị cáo để đảm bảo cho việc thi hành án quy định tại Điều 329 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.

[7] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo nghề nghiệp làm ruộng, thu nhập không ổn định thuộc hộ nghèo, sống ở vùng điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, không có khả năng thi hành. Vì vậy, không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[8] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Mua sau khi nhận tài sản 01 con trâu không yêu cầu bị cáo bồi thường nên không xem xét.

[9] Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra đã xác định tài sản là đúng chủ sở hữu hợp pháp, trả lại tài sản cho bị cáo, bị hại là đúng quy định của pháp luật nên không xem xét.

[10] Trợ giúp viên pháp lý bào chữa cho bị cáo đề nghị về hình phạt tù cho hưởng án treo không đảm bảo tính nghiêm minh của pháp luật nên không chấp nhận. Lý do tại bút lục số 122 thể hiện trong biên bản xác minh địa phương bị cáo V thường xuyên không có mặt nơi cư trú, không rõ đi làm ăn ở đâu.

[11] Từ những căn cứ trên đại diện Viện kiểm sát đề nghị là có căn cứ được chấp nhận.

[12] Về án phí: Bị cáo là người dân tộc thiểu số, thuộc hộ nghèo, sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn đề nghị miễn nộp án phí, nên chấp nhận miễn toàn bộ tiền án phí cho bị cáo.

[13] Quyền kháng cáo: Bị cáo; bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ly Mí V phạm tội Trộm cắp tài sản.
  2. Hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
    Xử phạt: Bị cáo Ly Mí V 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 13/5/2024.
  3. Về trách nhiệm dân sự: Không.
  4. Về vật chứng: Không.
  5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 điều 12, điều 14, khoản 6 điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
    Bị cáo Ly Mí V được miễn toàn bộ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
  6. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
    Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai tại nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND tỉnh Hà Giang;
  • - VKSND huyện Bắc Mê;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hà Giang;
  • - Phòng PV06 CA tỉnh Hà Giang;
  • - Cơ quan CSĐT CA huyện Bắc Mê;
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Bắc Mê;
  • - Chi cục THADS huyện Bắc Mê;
  • - Bị cáo; Bị hại; Trợ giúp viên pháp lý;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký)

Dương Văn Công

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG về hình sự - trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 12/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC MÊ, TỈNH HÀ GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Ly Mí V phạm tội Trộm cắp tài sản; áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt: Bị cáo Ly Mí V 12 (Mười hai) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bị bắt ngày 13/5/2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger