Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN NĂM CĂN

TỈNH CÀ MAU


CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 12/2024/HS-ST

Ngày: 19-8-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Diệu Hiền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Quốc Thống;

Ông Nguyễn Văn Tiến.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Diễm Quỳnh là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc Ẩn - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Năm Căn, tỉnh Cà Mau xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 10/2024/TLST-HS ngày 23 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 01 tháng 8 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1982 tại huyện N, tỉnh Cà Mau; tên gọi khác: Ngọng; nơi cư trú: Khóm A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hoá: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn L (chết) và bà Hồ Thị L1; có vợ Tô Thị T; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Năm 2008, bị Công an huyện N xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh bạc” với số tiền 1.500.000 đồng (đã chấp hành xong).

Năm 2012, bị Tòa án nhân dân huyện Năm Căn xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Gây rối trật tự công cộng”, chấp hành xong ngày 20/01/2014;

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 09/4/2024 và đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện N theo Quyết định tạm giam số: 42/2024/HSST-QĐTG ngày 23/7/2024 của Tòa án nhân dân huyện Năm Căn. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trịnh Ngọc G, sinh năm 1992 (vắng mặt).

Địa chỉ: Khóm C, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 08/4/2024, Nguyễn Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, bắt quả tang cùng với tang vật khi Đ đang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 69F4–7305 trên đoạn đường thuộc khóm G, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau.

Tại kết luận giám định số 192/KL-KTHS ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh K kết luận: Tinh thể màu trắng bên trong đoạn ống nhựa (dạng ống hút) màu đỏ được hàn kín hai đầu, niêm phong trong phong bì màu trắng hình chữ nhật ký hiệu M gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1862 gam, loại Methamphetamine.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Đ khai nhận:

Nguyễn Văn Đ có sử dụng ma túy từ năm 2020 nhưng không thường xuyên, sử dụng ma túy đá bằng cách đốt hút, lần sử dụng gần nhất vào khoảng 09 giờ sáng ngày 07/4/2024 tại nhà ở khóm A, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau. Do đi chơi nên quen biết với H (không biết họ tên) ở xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau. Đ biết H bán ma túy nên lưu số điện thoại để liên lạc mua ma túy. Đ mua ma túy của H để sử dụng được 04 lần thì bị bắt, cách từ 05 đến 07 ngày mua một lần, mỗi lần với số tiền 200.000 đồng. H trực tiếp giao ma túy cho Đ một lần, ba lần còn lại thì em của H giao ma túy cho Đ. Lần đầu cách ngày bị bắt quả tang khoảng 01 tháng, lần cuối vào ngày 08/4/2024 thì bị bắt, số ma túy mua ba lần trước khi bị bắt Đ đã sử dụng hết.

Vào khoảng 21 giờ ngày 08/4/2024, em của H điện thoại cho Đ kêu vào đường lộ mới, gần quán nhậu C thuộc khóm G, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau để giao ma túy. Đ điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 69F4–7305 đến đoạn đường đã hẹn thì gặp 02 thanh niên đi xe mô tô hiệu Wave (không nhớ biển kiểm soát) để mua ma túy với số tiền 200.000 đồng thì người đó đưa cho Đ 01 đoạn ống hút màu đỏ (được hàn kín hai đầu có chứa ma túy đá), 01 chai nhựa có gắn ống hút và nỏ để làm dụng cụ sử dụng ma túy. Đ cất đoạn ống hút có chứa ma túy vào trong túi áo đang mặc và bỏ dụng cụ sử dụng ma túy vào túi quần rồi điều khiển xe chạy về nhà thì bị Công an tuần tra phát hiện, bắt quả tang cùng tang vật, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về kết quả giám định nêu trên.

Bản cáo trạng số 11/CT-VKS ngày 22 tháng 7 năm 2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện N đã truy tố đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa,

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Hành vi của bị cáo có đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự, về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù. Tịch thu và tiêu hủy tang vật gồm 01 (một) phong bì hoàn mẫu được niêm phong số 192/KL-KTHS ngày 15 tháng 4 năm 2024; một cái hột quẹt gas màu đỏ bị bể phần đầu (bị hư hỏng); 01 chai nhựa trong suốt, phần cổ chai có gắn 01 ống hút màu đỏ, nắp chai màu đỏ có gắn ống thủy tinh. Trả lại cho ông Trịnh Ngọc G 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh bị bể màn hình, có gắn sim số 0911065596 (do Trần Ngọc S đứng tên đăng ký) vì không liên quan đến việc phạm tội. Tịch thu xung quỹ Nhà nước một điện thoại di động hiệu NOKIA, màu đen có gắn sim số 0945327332 là tài sản của bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy. Giao một xe mô tô biển kiểm soát 69F4–7305, loại 110, màu đỏ; không có số khung, số máy: 1P50EMG-3 Y034 1840 cho Cơ quan Điều tra xác minh, giao trả chủ sở hữu.

Bị cáo Nguyễn Văn Đ không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản cáo trạng truy tố. Trong lời nói sau cùng bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra Công an huyện N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện N, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
  2. Xét lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 22 giờ ngày 08/4/2024, Nguyễn Văn Đ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy loại Methamphetamine với trọng lượng 0,1862 gam ở khóm G, thị trấn N, huyện N, tỉnh Cà Mau thì bị lực lượng chức năng kiểm tra, bắt quả tang cùng với tang vật. Bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý. Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
  3. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy. Bị cáo nhận thức được tác hại của ma tuý đối với bản thân và xã hội, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép các chất ma tuý bị pháp luật nghiêm cấm. Song vì thỏa mãn nhu cầu cá nhân mà bị cáo đã tàng trữ trái phép chất ma túy để sử dụng nên phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục, răn đe và phòng ngừa chung. Để có căn cứ quyết định hình phạt, ngoài việc đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của bị cáo, cần xem xét đến nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo.
  4. Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
  5. Về hình phạt bổ sung, theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...”, do đó bị cáo Đ có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, không có tài sản riêng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  6. Về xử lý vật chứng:

    Căn cứ điểm b khoản Điều 46, điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy đối với: 01 (một) phong bì hoàn mẫu được niêm phong số 192/KL-KTHS ngày 15 tháng 4 năm 2024, ký hiệu M, mặt sau có hình dấu Công an tỉnh K - Phòng K, có chữ ký, chữ viết của “Dương Hải Đ1, Trần Minh T1”; một cái hột quẹt gas màu đỏ bị bể phần đầu (bị hư hỏng); 01 chai nhựa trong suốt, phần cổ chai có gắn 01 ống hút màu đỏ, nắp chai màu đỏ có gắn ống thủy tinh.

    Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh bị bể màng hình (không khởi động được máy), có gắn sim số 0911065596 (do Trần Ngọc S đứng tên đăng ký) là tài sản của ông Trịnh Ngọc G và không liên quan đến việc phạm tội nên Hội đồng xét xử trả lại cho ông Trịnh Ngọc G.

    Tịch thu xung quỹ Nhà nước một điện thoại di động hiệu NOKIA, màu đen có gắn sim số 0945327332 (không khởi động được máy) là tài sản của bị cáo dùng để liên lạc mua ma túy.

    Giao lại Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, giao trả cho chủ sở hữu một xe mô tô biển kiểm soát 69F4–7305, loại 110, màu đỏ; không có số khung, số máy: 1P50EMG-3 Y034 1840.

    Các tài sản nêu trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/7/2024 (bút lục 135).

    Đối với số tiền 500.000 đồng mà ông G đã cầm điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh, có gắn sim số 0911065596 (do Trần Ngọc S đứng tên đăng ký) cho bị cáo Nguyễn Văn Đ, bị cáo không yêu cầu nên không xem xét.

  7. Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về áp dụng điều luật, tội danh, mức hình phạt và việc xử lý tang vật đối với bị cáo là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.
  8. Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo phải chịu theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đối với người bán ma túy cho bị cáo tên Ngô Thái H1, sinh năm 1988, trú tại ấp M, xã T, huyện C, tỉnh Cà Mau và hai người thanh niên (khoảng 20 tuổi, không biết họ, tên, địa chỉ), Cơ quan điều tra chưa mời làm việc được nên tách ra tiếp tục điều tra, xác minh khi có căn cứ sẽ xử lý sau.

Ngoài lần bị bắt quả tang, bị cáo Đ xác định trước đó có mua ma túy 03 lần đều do người tên H1 và hai người thanh niên (khoảng 20 tuổi, không biết họ, tên, địa chỉ) bán. Đối với các lần tàng trữ ma túy, bị cáo không nhớ cụ thể thời gian và Cơ quan điều tra cũng không thu giữ được chất ma túy nên không có căn cứ xử lý Đ về các lần tàng trữ ma túy này.

[9]. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, vắng mặt tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 46, điểm a, c khoản 1, khoản 2 Điều 47, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự; Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ (tên gọi khác: N) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Đ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 09 tháng 4 năm 2024.

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Nguyễn Văn Đ.

Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy tang vật gồm: 01 (một) phong bì hoàn mẫu được niêm phong số 192/KL-KTHS ngày 15 tháng 4 năm 2024 của Phòng K Công an tỉnh K ký hiệu M, mặt sau có hình dấu Công an tỉnh K, có chữ ký, chữ viết của “Dương Hải Đ1, Trần Minh T1”; một cái hột quẹt gas màu đỏ bị bể phần đầu (bị hư hỏng); 01 chai nhựa trong suốt, phần cổ chai có gắn 01 ống hút màu đỏ, nắp chai màu đỏ có gắn ống thủy tinh; tịch thu xung quỹ một điện thoại di động hiệu NOKIA, màu đen có gắn sim số 0945327332 (không khởi động được máy); trả lại cho ông Trịnh Ngọc G: 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh bị bể màn hình (không khởi động được máy), có gắn sim số 0911065596 (do Trần Ngọc S đứng tên đăng ký). Giao lại Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh, giao trả cho chủ sở hữu một xe mô tô biển kiểm soát 69F4–7305, loại 110, màu đỏ; không có số khung, số máy: 1P50EMG-3 Y034 1840.

Các tài sản nêu trên đang được Chi cục Thi hành án dân sự huyện Năm Căn quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/7/2024.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn Đ phải chịu 200.000 đồng.

Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, vắng mặt tính từ ngày nhận bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Viện kiểm sát cùng cấp;
  • - Viện kiểm sát cấp trên trực tiếp;
  • - Cơ quan điều tra cùng cấp;
  • - Công an huyện Năm Căn;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện Năm Căn;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Diệu Hiền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 19/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 12/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NĂM CĂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Đ (tên gọi khác: N) phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger