Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN MƯỜNG LÁT

TỈNH THANH HOÁ

Bản án số: 12/2024/HS-ST

Ngày 19-3-2024.

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Tiến Dũng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lại Phạm Sơn và bà Phan Thị Mấy.

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Viết Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2024/TLST-HS ngày 26/01/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2024/QĐXXST-HS ngày 05/3/2024, đối với các bị cáo:

1. Lương Văn C; sinh năm 1984.

Nơi sinh và nơi ở hiện nay: Bản Táo, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 02/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam: Số CCCD: [...]; Con ông: Lương Văn M, sinh năm 1958; Con bà: Lương Thị S, sinh năm 1942; vợ: Hà Thị Đ, sinh năm 1986, bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2007.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 01/11/2023 đến ngày 04/11/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

2. Lương Văn C1; sinh năm 1994.

Nơi sinh và nơi ở hiện nay: Bản Táo, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Trình độ học vấn: 7/12; Dân tộc: Thái; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Số CCCD: [...]; Con ông: Lương Văn M, sinh năm 1958; Con bà: Lương Thị S, sinh năm 1942; Vợ: Đinh Thị L, sinh năm 1998; Bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2020.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ ngày 01/11/2023 đến ngày 04/11/2023 được áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

  1. Anh Vì Thế Đ1, sinh năm 1989. Địa chỉ: Khu phố C, thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  2. Anh Hà Văn X, sinh năm 1994. Địa chỉ: Bản B, xã Q, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Có đơn xin xét cử vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Chị Hà Thị Đ, sinh năm 1986. Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.
  2. Chị Đinh Thị L, sinh năm 1998. Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người làm chứng:

  1. Chị Hà Thị Q, sinh năm 1983. Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  2. Chị Hà Thị D, sinh năm 1989. Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
  3. Anh Lường Văn L1, sinh năm 1986. Địa chỉ: Bản T, xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

- Người bào chữa cho các bị cáo: Ông Nguyễn Ngọc K – Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh T. Vắng mặt có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 22 giờ ngày 26/10/2023, Lương Văn C nhìn thấy 02 người đàn ông đi vào nhà chị Hà Thị Q tại bản Táo, xã T, huyện M (Là chị dâu của C), vì thế Lương Văn C nghi ngờ chị dâu (là chị Hà Thị Q) ngoại tình, nên Lương Văn C đã gọi em trai là Lương Văn C1 sinh năm 1994 (cùng trú tại bản Táo, xã T, huyện M) đến nhà chị Q để bắt quả tang việc chị Q ngoại tình. Khoảng 05 phút sau, C và C1 cùng đến nhà chị Q, khi đến nơi, C nhặt một khúc cây nứa dài khoảng 60 cm (Sáu mươi centimet) có sẵn ở đống củi nhà chị Q, C và C1 đứng núp ở cửa nhà chị Q. Một lúc sau, C1 đạp cửa nhà chị Q để vào bật điện lên. Lúc này ở trong nhà, ngoài chị Q còn có chị Hà Thị D sinh năm 1989 là hàng xóm, anh Vì T Đ1 sinh năm 1989, trú tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa và anh Hà Văn X sinh năm 1994, trú tại xã Q, huyện M. Thấy có người đạp cửa xông vào, anh Đ1 và anh X bật dậy định chạy ra ngoài, thì bị C và C1 chặn lại. Sau đó, C dùng khúc nứa mang theo vụt 02 (hai) cái trúng vào phần bắp tay và cẳng tay của anh Đ1, còn C1 dùng tay tát 01 (một) cái vào phần thái dương bên trái của anh Đ1, nhưng không có thương tích. Ngoài ra, C và C1 còn chửi anh Đ1 và anh X có quan hệ nam nữ bất chính với chị Hà Thị Q và chị Hà Thị D. Sau khi bị đánh, anh Đ1 giải thích là mọi việc chỉ là hiểu nhầm, anh Đ1 và anh X chỉ đến ngồi chơi uống nước, ngoài ra không có vấn đề nam nữ quan hệ bất chính gì cả, nhưng C và C1 không tin và cho rằng anh Đ1 cùng anh X có quan hệ bất chính với chị Q và chị D. Do không muốn đôi co và thấy mình cũng có phần lỗi, nên anh anh Đ1 và anh X đã nhận sai. Thấy anh Đ1 và X nhận sai, C nghĩ đến việc phải bắt làm vía (phong tục của người dân tộc Thái tại địa phương) nên đã nói: “Các anh phải lấy lợn, lấy gà về làm mâm cơm xin lỗi. Nếu không có lợn gà thì quy ra tiền. Nếu không đưa được tiền luôn thì tôi gọi Công an và chính quyền địa phương đến để làm việc”. Do lo sợ bị mang tiếng xấu là có quan hệ bất chính với phụ nữ đã có chồng và ảnh hưởng đến bản thân và gia đình, nên anh Đ1 và anh X xin lỗi C1, C. Ngay lúc đó, C và C1 đã bàn với nhau đòi 02 người (anh Đ1 và anh X) đưa 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) thì mới cho về, không sẽ báo Công an và chính quyền địa phương. Anh Đ1 và anh X đồng ý và xin giảm bớt xuống cho 10.000.000₫ (Mười triệu đồng), C và C1 đồng ý. Sau đó, C gọi điện thoại nhờ anh Lương Văn L2, sinh năm 1986 (là người cùng bản) đến để chứng kiến sự việc. Do không mang tiền nên anh Đ1 gọi điện cho chị Lộc Thị T1, sinh năm 1989, ở bản T, xã T, huyện M (Vợ của bạn anh) để vay tiền và nhờ chị T1 mang tiền đến nhà chị Hà Thị Q. Khi đến nơi, chị T1 không có tiền mặt, chỉ có tiền trong tài khoản ngân hàng, còn C và C1 không có tài khoản ngân hàng nên C và C1 đã nhờ tài khoản ngân hàng của anh Lương Văn L2 để chị T1 chuyển tiền vào. Sau đó, Chị T1 đã dùng tài khoản ngân hàng M1 số 0388677455 mang tên Lộc Thị T1 để chuyển số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) đến tài khoản ngân hàng M1 số 0975940213 mang tên Lương Văn L2. Khi anh L2 xác nhận đã nhận được tiền thì C và C1 đã để cho anh Đ1 và anh X đi về. Sáng ngày hôm sau, anh L2 đã rút tiền mặt và đưa cho Lương Văn C đủ số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng). Khi nhận được tiền thì Lương Văn C đưa tiền cho Lương Văn C1 (là em trai và là bị cáo trong vụ án này), bảo đưa cho mẹ của hai bị cáo giữ hộ, đợi anh trai của các bị cáo là Lương Văn C2 (chồng chị Hà Thị Q) đi chấp hành hình phạt tù về sẽ làm vía.

Sáng ngày 01/11/2023, anh Vì T Đ1 và anh Hà Văn X đã có đơn trình báo sự việc đến Công an huyện M. Đến chiều ngày cùng ngày, thì Lương Văn C và Lương Văn C1 đã đến Cơ quan CSĐT Công an huyện M đầu thú về hành vi phạm tội của mình.

Ngày 02/11/2023, chị Đinh Thị L, sinh năm 1998, trú tại bản Táo, xã T, huyện M, Thanh Hóa (là vợ của Lương Văn C1) đã giao nộp cho Cơ quan CSĐT Công an huyện M 01 (một) tờ giấy kẻ ô ly nhãn hiệu Phúc Thịnh có ghi nội dung được tóm tắt như sau: Biên bản bắt quả tang Lê Văn Đ2 và Hà Văn X có hành vi ngủ với vợ anh C2 và vợ anh Lương Văn H, phải đưa số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) để làm vía xin lỗi. Tờ giấy này có các chữ ký của Lương Văn L2, Lộc Thị T1, Lương Văn C, Lương Văn C1, Lê Văn Đ2, Hà Văn X.

Tại Công văn số 739/MB-THO ngày 30/11/2023 của Ngân hàng thương mại cổ phần Q1 chi nhánh T3 có nội dung kết quả tra soát như sau:

“1. Số tài khoản 0388677455 đúng là của Khách hàng Lộc Thị T1 sinh năm 1989, trú tại bản Táo, xã T, huyện M, Thanh Hóa.

2. Số tài khoản 0975940213 là của Khách hàng Lương Văn L2, sinh năm 1986, trú tại bản Táo, xã T, huyện M, Thanh Hóa.

3. Vào rạng sáng 27/10/2023 có phát sinh giao dịch 10 triệu đồng. Chi tiết giao dịch theo sao kê đính kèm.”

Tại bản sao kê đính kèm Công văn số 739/MB-THO ngày 30/11/2023 có nội dung: Có phát sinh giao dịch chuyển số tiền 10.000.000đ (Mười triệu đồng) với nội dung “LOC THI TRAI chuyen khoan” đến người hưởng thụ LUONG VAN LUNG, số tài khoản 0975940213 của ngân hàng M2.

Tại Kết luận giám định số thương tích đối với anh Vì T Đạt số: 2128/KLTTCT-PYTH ngày 21/12/20223 của Trung tâm pháp y tỉnh T xác định: Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Vì Thế Đ2 tại thời điểm giám định là 0% (Không phần trăm).

Về vật chứng và xử lý vật chứng: Quá trình điều tra xác định Lương Văn C đã sử dụng 01 (một) khúc gậy bằng nứa, màu xanh, có chiều dài khoảng 60cm (Sáu mươi centimet), đường kính khoảng 02cm (Hai centimet) để đập vào bắp tay anh Đ2. Sau khi gây thương tích Lương Văn C vứt khúc gậy nứa gần nhà chị Q. Cơ quan CSĐT Công an huyện M đã ra thông báo về việc truy tìm vật chứng có đặc điểm như trên nhưng không tìm thấy.

Phần dân sự: Ngày 02/11/2023 do đang bị tạm giữ tại Cơ quan CSĐT, nên Lương Văn C và Lương Văn C1 đã nhờ vợ ở nhà là chị Hà Thị Đ, sinh năm 1986 (vợ C) và chị Đinh Thị L, sinh năm 1998 (vợ C1) cùng trú tại bản Táo, xã T, huyện M, đã trả lại số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) mà C và C1 đã chiếm đoạt cho anh Vì T Đ2 và anh Hà Văn X. Anh Đ2 và anh X đã nhận đủ tiền, không có yêu cầu gì thêm và có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo. Tại phiên tòa, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì.

Quá trình điều tra bị cáo Lương Văn C và Lương Văn C1 đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, người chứng kiến và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số 14/CT-VKS-ML ngày 25/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát truy tố bị cáo Lương Văn C và Lương Văn C1 về tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự 2015.

Tại phiên tòa, các bị cáo thành khẩn khai nhận hành phạm tội của mình, các bị cáo xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố không bị Cơ quan tiến hành tố tụng sử dụng biện pháp ép cung, bức cung hay nhục hình, không ai xúi giục hay ép buộc nhận tội thay người khác. Các bị cáo công nhận toàn bộ hành vi phạm tội như bản Cáo trạng đã nêu là đúng, không khai báo thêm tình tiết mới.

Tranh luận và luận tội: Tại phiên tòa. Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo theo toàn bộ nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về điều luật áp dụng: Khoản 1 Điều 170; Điều 17; điểm b, m, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật Hình sự đối với cả hai bị cáo.

Về tội danh: Tuyên, Lương Văn C và Lương Văn C1 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản".

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lương Văn C từ 20 đến 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Xử phạt bị cáo Lương Văn C1 từ 18 đến 22 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách theo quy định của pháp luật.

Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo, vì các bị cáo làm nghề nương rẫy, không có thu nhập ổn định.

Về phần dân sự: Anh Vì T Đ2 và anh Hà Văn X đã nhận đủ tiền và không có yêu cầu gì thêm, nên đề nghị HĐXX không xem xét giải quyết.

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội khóa 14, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Miễn án phí HSST cho hai bị cáo.

Ý kiến của người bào chữa cho bị cáo: Người bào chữa cho các bị cáo vắng mặt, đã có luận cứ bào chữa cho các bị cáo; Người bào chữa đồng tình với quan điểm truy tố của VKS về tội danh điều luật áp dụng và khung hình phạt; Người bào chữa cho các bị cáo cho rằng, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, nhận thức pháp luật còn hạn chế, các bị cáo là người dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, do các bị cáo đều bỏ học từ sớm và có thói quen thủ tục lạc hậu nên mới dẫn đến phạm tội, nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nên đề nghị HĐXX áp dụng điểm b, điểm m, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, xét xử các bị cáo mức án thấp nhất có thể, áp dụng Điều 65 BLHS để cho bị cáo được hưởng án treo, thể hiện tính khoan hồng.

Tại phiên tòa, bị hại Vì Thế Đ2 trình bày: Anh và anh X là đã nhận đủ số tiền 10.000.000đ, nay không yêu cầu các bị cáo bồi thường gì thêm. Mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, cho các bị cáo được hưởng án treo, để các bị cáo sửa chữa lỗi lầm, vì bị hại thấy cũng có một phần lỗi, nên mới dẫn đến sự việc này.

Anh Hà Văn X đã có đơn xin xét xử vắng mặt, anh vẫn giữ nguyên toàn bộ lời khai từ giai đoạn điều tra cho đến nay. Anh và anh Đ2 đã nhận đủ số tiền 10.000.000đ, không yêu cầu gì thêm, mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trình bày: Không có đề nghị gì về trách nhiệm dân sự, mong HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo, cho các bị cáo được hưởng án treo, để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.

Các bị cáo nhận tội, đồng tình với bản luận tội của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo không thay đổi, bổ sung thêm gì làm thay đổi nội dung vụ án, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện VKS.

Lời nói sau cùng: Các bị cáo đã thấy hành vi sai trái, xin gửi lời xin lỗi đến các bị hại, mong Hội đồng xét xử xem xét mức án thấp nhất và xin được hưởng án treo để các bị cáo có cơ hội được sửa chữa lỗi lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Xét hành vi, quyết định tố tụng: Trong giai đoạn tiến hành tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện M, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện M, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, người bào chữa cho các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị hại Hà Văn X có đơn xin xét xử vắng mặt, người làm chứng Hà Thị Q và Hà Thị D vắng mặt không lý do, các bị cáo, bị hại và đại diện Viện kiểm sát thấy việc vắng mặt của những người này không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án vì đã có đầy đủ lời khai trong hồ sơ vụ án. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự, HĐXX quyết định xét xử vắng mặt những người này.

[2]. Chứng cứ xác định có tội, không có tội của bị cáo: Tại phiên tòa các bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Xét lời khai của các bị cáo là hoàn toàn tự nguyện và phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan Điều tra, phù hợp lời khai của người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, thời gian, không gian, địa điểm và chứng cứ khác trong hồ sơ vụ án. HĐXX đủ cơ sở khẳng định:

Khoảng 22 giờ ngày 26/10/2023, Lương Văn C và em trai là Lương Văn C1 nghi ngờ là Hà Thị Q (chị dâu) và chị Hà Thị D (hàng xóm) ngọai tình với anh Vì T Đ2 và Hà Văn X, nên đạp cửa xông vào nhà chị Hà Thị Q và đã dùng cây nứa đánh vào người anh Vì T Đ2, khi anh Đ2 nhận sai thì Lương Văn C và Lương Văn C1 đã đe dọa anh Vì Thế Đ1, anh Hà Văn X, phải làm vía (Bắt vía) nên đã nói “Các anh phải lấy lợn, lấy gà làm mâm cơm xin lỗi. Nếu không có lợn gà thì quy ra tiền. Nếu không đưa được tiền luôn thì tôi gọi Công an và chính quyền địa phương đến để làm việc”. Ngay lúc đó, C và C1 đã bàn với nhau đòi 02 người (Đ1 và X) đưa 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng) thì mới cho về, không là sẽ báo Công an và chính quyền địa phương. Anh Đ1 và X đồng ý và xin giảm bớt xuống cho 10.000.000đ (Mười triệu đồng), thì C và C1 đồng ý. Sau đó C gọi điện thoại nhờ anh Lương Văn L2 (là người cùng bản) đến để chứng kiến sự việc. Do không mang tiền nên anh Đ1 gọi điện cho chị Lộc Thị T1, ở bản T, xã T, huyện M để vay tiền và nhờ chị T1 mang tiền đến nhà chị Hà Thị Q. Khi đến nơi chị T1 không có tiền mặt, chỉ có tiền trong tài khoản ngân hàng, còn C và C1 không có tài khoản ngân hàng nên đã nhờ tài khoản ngân hàng của anh Lương Văn L2 để chị T1 chuyển tiền vào. Sau đó, Chị T1 đã dùng tài khoản ngân hàng M1 số 0388677455 mang tên Lộc Thị T1 để chuyển 10.000.000Đ (Mười triệu đồng) đến tài khoản ngân hàng M1 số 0975940213 mang tên Lương Văn L3. Khi anh L2 xác nhận đã nhận được tiền thì C và C1 đã để cho anh Đ1 và anh X đi về. Đến sáng ngày hôm sau (ngày 27/10/2023) anh Lương Văn L2 đã đi rút tiền và đưa cho Lương Văn C đủ số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng).

Như vậy, hành vi nêu trên của Lương Văn C và Lương Văn C1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật hình sự 2015, như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3]. Xét tính chất, vai trò, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo:

Bị cáo Lương Văn C là người nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản một cách trái trái pháp luật, đã trực tiếp đe dọa, dùng vũ lực để buộc các bị hại phải đồng ý nộp tiền cho mình, nên bị cáo Lương Văn C là người có vai trò chính và lại là anh trai ruột của bị cáo Lương Văn C1, đã trực tiếp đưa em trai vào con đường phạm tội; bị cáo Lương Văn C1 có vai trò giúp sức, tham gia bằng việc không can ngăn mà trực tiếp đi cùng bị cáo Lương Văn C để huy hiếp, đe dọa và thực hiện hành vi phạm tội cùng. Trong vụ án này thấy rằng các bị cáo đã nhất thời phạm tội, không có sự chuẩn bị, phân công chặt chẽ và không có tính toán từ trước, các bị cáo tham gia với vai trò đồng phạm nhưng là đồng phạm giản đơn. Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, các bị cáo là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an và an toàn xã hội tại địa phương.

[4]. Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Trong giai đoạn điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, cả hai bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình, thái độ ăn năn hối cải; các bị cáo phạm tội lần đầu; các bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; Hiện tại ở địa phương các bị cáo sinh sống, người dân tộc thiểu số đang còn phổ biến phong tục làm vía (Hoặc bắt vía), việc làm vía (hoặc bắt vía) đã ăn sâu vào tư tưởng, suy nghĩ của người dân tộc thiểu số, họ chưa ý thức được việc làm như vậy là sai; Sau khi phạm tội các bị cáo đã tự nguyện đến cơ quan Công an để đầu thú, được các bị hại làm đơn xin giảm nhẹ hình phạt và các bị cáo đều là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, từ nhỏ đã bỏ học sớm nên hiểu biết pháp luật còn hạn chế, còn sống lối sống lạc hậu theo phong tục tập quán ở địa phương, nhân thân tốt, nên HĐXX cho cả 02 bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, quy định tại điểm b, điểm m, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5]. Xét về hình phạt:

Hình phạt chính: Trên cơ sở đánh giá tính chất, vai trò, mức độ nguy hiểm của hành vi mà các bị cáo đã thực hiện, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thấy rằng: Trong vụ án này, Lương Văn C có vai trò chính, nên phải chịu hình phạt cao hơn Lương Văn C1 (vì Lương Văn C1 là người giúp sức) để răn đe phòng ngừa. Xét thấy, các bị cáo đều có nhân thân tốt, các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, là người dân tộc thiểu số hạn chế về hiểu biết pháp luật, xã hội, không phải đối tượng côn đồ, hung hãn, có nơi cư trú rõ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử thấy rằng không cần phải cách ly xã hội đối với các bị cáo, mà áp dụng hình phạt cải tạo ngoài xã hội để các bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời, giao cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát các bị cáo trong thời gian chấp hành hình phạt, cũng đủ tác dụng cải tạo riêng đối với các bị cáo và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Hội đồng xét xử nhận thấy rằng, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa về mức hình phạt cho các bị cáo là phù hợp với hành vi phạm tội của các bị cáo, không cần cách ly các bị cáo cũng đủ sức răn đe, phòng ngừa chung.

Hình phạt bổ sung: Theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa, cho thấy các bị cáo làm nương rẫy, gia đình khó khăn, thu nhập không ổn định. Nên HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[6]. Xét về phần dân sự: Tài sản đã được trả lại, các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu gì thêm, nên HĐXX không xem xét.

[7]. Vật chứng: Vật chứng của vụ án là cây nứa, nhưng do truy tìm không có kết quả, nên không xem xét.

[8]. Xét về án phí: Các bị cáo là người dân tộc thiểu số (T2), sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, nên được miễn án phí HSST.

[9]. Quyền kháng cáo, kháng nghị: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo; Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

[10]. Các nhận định khác:

Đối với anh Lương Văn L2 là người được nhờ đến viết biên bản giúp sau khi sự việc đã xong, anh L2 không hứa hẹn hay giúp sức cho các bị cáo để chiếm đoạt tài sản, cũng không lấy lợi ích nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với Lộc Thị T1 cũng chỉ chuyển tiền giúp anh Đ1 khi cho anh Đ1 vay tiền, chứ không biết sự việc từ đầu, không tham gia bàn bạc việc liên quan giữa anh Đ1, anh X và bị cáo C, C1 nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

Khoản 1 Điều 170; Điều 17; Điểm b, m, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự, đối Lương Văn C và Lương Văn C1.

Về tội danh: Tuyên bố Lương Văn C và Lương Văn C1 phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản”.

Về hình phạt: Xử phạt bị Lương Văn C 24 (Hai mươi bốn) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách 48 (Bốn mươi tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/3/2024).

Xử phạt bị cáo Lương Văn C1 22 (Hai mươi hai) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 44 (Bốn mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (19/3/2024).

Miễn hình phạt bổ sung cho cả hai bị cáo.

Giao bị cáo Lương Văn C và Lương Văn C1 cho UBND xã T, huyện M, tỉnh Thanh Hóa giám sát, giáo dục các bị cáo trong thời gian thử thách. Trong trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự

Trong thời gian thử thách nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự.

Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú của Tòa án nhân dân huyện Mường Lát, tỉnh Thanh Hóa tiếp tục được áp dụng đối với các bị cáo đến khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu, nên không xem xét giải quyết.

Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12, khoản 1 Điều 14, khoản 6 Điều15 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụQuốc hội qui định về án phí, lệ phí Tòa án.

Miễn án phí HSST cho bị cáo Lương Văn C và Lương Văn C1.

Quyền kháng cáo, kháng nghị: Căn cứ Điều 331, Điều 333, Điều 336, Điều 337 Bộ luật tố tụng hình sự.

Án xử công khai, có mặt các bị cáo, bị hại Vì Thế Đ1 và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; Vắng mặt bị hại Hà Văn X và người làm chứng Hà Thị Q, Hà Thị D; các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; Bị hại vắng mặt tại phiê tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bán án được tống đạt hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Phòng KTNV - TAND tỉnh Thanh Hóa;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Thanh Hóa;
  • - VKS nhân dân huyện Mường Lát;
  • - Phòng 7 - VKS nhân dân tỉnh Thanh Hóa;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an H. Mường Lát;
  • - Cơ quan THAHS - CA huyện Mường Lát;
  • - Bộ phận hồ sơ -Công an H. Mường Lát;
  • - Chi cục THADS huyện Mường Lát;
  • - UBND xã Trung Lý, huyện Mường Lát;
  • - Các bị cáo;
  • - Các Bị hại;
  • - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan;
  • - Người bào chữa;
  • - Hồ sơ Thi hành án Hình sự;
  • - Lưu Hồ sơ vụ án.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Tiến Dũng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 19/03/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ về hình sự - cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 12/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/03/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MƯỜNG LÁT, TỈNH THANH HOÁ
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: hoảng 22 giờ ngày 26/10/2023, Lương Văn C nhìn thấy 02 người đàn ông đi vào nhà chị Hà Thị Q tại bản Táo, xã T, huyện M (Là chị dâu của C), vì thế Lương Văn C nghi ngờ chị dâu (là chị Hà Thị Q) ngoại tình, nên Lương Văn C đã gọi em trai là Lương Văn C1 sinh năm 1994 (cùng trú tại bản Táo, xã T, huyện M) đến nhà chị Q để bắt quả tang việc chị Q ngoại tình. Khoảng 05 phút sau, C và C1 cùng đến nhà chị Q, khi đến nơi, C nhặt một khúc cây nứa dài khoảng 60 cm (Sáu mươi centimet) có sẵn ở đống củi nhà chị Q, C và C1 đứng núp ở cửa nhà chị Q. Một lúc sau, C1 đạp cửa nhà chị Q để vào bật điện lên. Lúc này ở trong nhà, ngoài chị Q còn có chị Hà Thị D sinh năm 1989 là hàng xóm, anh Vì T Đ1 sinh năm 1989, trú tại thị trấn L, huyện L, tỉnh Thanh Hóa và anh Hà Văn X sinh năm 1994, trú tại xã Q, huyện M. Thấy có người đạp cửa xông vào, anh Đ1 và anh X bật dậy định chạy ra ngoài, thì bị C và C1 chặn lại. Sau đó, C dùng khúc nứa mang theo vụt 02 (hai) cái trúng vào phần bắp tay và cẳng tay của anh Đ1, còn C1 dùng tay tát 01 (một) cái vào phần thái dương bên trái của anh Đ1, nhưng không có thương tích. Ngoài ra, C và C1 còn chửi anh Đ1 và anh X có quan hệ nam nữ bất chính với chị Hà Thị Q và chị Hà Thị D. Sau khi bị đánh, anh Đ1 giải thích là mọi việc chỉ là hiểu nhầm, anh Đ1 và anh X chỉ đến ngồi chơi uống nước, ngoài ra không có vấn đề nam nữ quan hệ bất chính gì cả, nhưng C và C1 không tin và cho rằng anh Đ1 cùng anh X có quan hệ bất chính với chị Q và chị D. Do không muốn đôi co và thấy mình cũng có phần lỗi, nên anh anh Đ1 và anh X đã nhận sai. Thấy anh Đ1 và X nhận sai, C nghĩ đến việc phải bắt làm vía (phong tục của người dân tộc Thái tại địa phương) nên đã nói: “Các anh phải lấy lợn, lấy gà về làm mâm cơm xin lỗi. Nếu không có lợn gà thì quy ra tiền. Nếu không đưa được tiền luôn thì tôi gọi Công an và chính quyền địa phương đến để làm việc”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger