|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2024/HS-ST Ngày 16/5/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Đình Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ninh Quang Mạnh và bà Doãn Thị Hường.
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Kim Dung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn tham gia phiên tòa: Ông Đậu Xuân Hà, Kiểm sát viên.
Ngày 16/5/2024 tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Kạn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:14/2024/TLST-HS ngày 07/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2024/QĐXXST-HS, ngày 04/4/2024 đối với bị cáo:
VŨ NGỌC HƯỜNG (Tên gọi khác: Không);
Sinh ngày 28 tháng 8 năm 1960 tại: tỉnh Thái Bình; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Tổ F, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: lớp 7/10; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Văn C (đã chết) và con bà Lưu Thị N (đã chết); vợ: Lưu Thị L; Con: Có 03 con, con lớn sinh năm 1985, con nhỏ sinh năm 1991; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 04/5/2020, Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 3.000.000₫ (Ba triệu đồng) về hành vi không giao nộp vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ theo quy định (Theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 166/QĐ-XPHC) và đã thi hành xong vào ngày 11/5/2020. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Lưu Thị L, sinh năm 1960; Địa chỉ: Tổ F, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn. Vắng mặt có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 08 giờ 50 phút ngày 03/11/2023, tại khu vực thôn Bản Ó, xã X, huyện C, tỉnh Bắc Kạn tổ công tác thuộc Phòng C2 C3 với Công an xã X, huyện C kiểm tra, phát hiện Vũ Ngọc H, sinh năm 1960 trú tại tổ F, thị trấn B, huyện C có hành vi tàng trữ trái phép vũ khí, vật liệu nổ. Qua làm việc, Vũ Ngọc H tự nguyện giao nộp các đồ vật, tài sản gồm:
- Nhiều túi nhỏ nilon bên trong có chứa chất bột màu xám là thuốc súng có khối lượng 0,4kg (Không phẩy bốn kilôgam) và 01 (một) túi màu đen bên trong có chứa nhiều ống kim loại hình trụ nhiều kích thước khác nhau, cân có khối lượng 1,8kg (Một phẩy tám kilôgam) được niêm phong trong 01 (một) thùng cát tông ký hiệu T1.
- Nhiều túi nilon màu đen bên trong có chứa các viên kim loại nhiều kích thước, cân có khối lượng 16,4kg (Mười sáu phấy bốn kilôgam) được niêm phong trong thùng cát tông ký hiệu T3.
Ngoài ra còn tạm giữ của H: 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Vũ Ngọc H; 01 (một) điện thoại di động bàn phím cơ nhãn hiệu Nokia màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SYM biển kiểm soát 97F3-3727, đã qua sử dụng và số tiền 3.730.000đ (Ba triệu bảy trăm ba mươi nghìn đồng).
Hồi 09 giờ 30 phút, ngày 03/11/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, phương tiện, người đối với Vũ Ngọc H tại tổ F, thị trấn B, huyện C. Qua khám xét đã tiến hành tạm giữ: 09 (chín) túi linon màu trắng bên trong có chất bột màu xám, nghi là thuốc súng, trong đó có 01 (một) chiếc túi còn có 01 (một) chiếc bát, cân có tổng khối lượng 3,3kg (Ba phẩy ba kilôgam) được niêm phong trong thùng cát tông ký hiệu A1 và 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có các vật hình trụ bằng kim loại, màu vàng đồng, cân có tổng khối lượng 0,7kg (Không phẩy bảy kilôgam) và 05 (năm) túi nilon màu đen, 01 (một) bao tải màu vàng bên trong đều có nhiều hạt kim loại màu đen, nghi là đạn chì, cân có tổng khối lượng 4,9kg (Bốn phẩy chín kilôgam) được niêm phong trong cát tông ký hiệu A2.
Tại biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng hồi 08 giờ 00 phút ngày 04/11/2023 xác định: Mở 01 (một) thùng cát tông được niêm phong ký hiệu T1, bên trong có: 01 (một) túi ni lông màu đen bên trong chứa các ống kim loại rỗng hình trụ tròn, có nhiều kích thước khác nhau có tổng khối lượng là 1,8kg (một phẩy tám kilôgam), là vỏ đạn và 01 (một) túi ni lông màu đen bên trong có chứa 08 (tám) túi ni lông màu trắng, bên trong mỗi túi màu trắng có chứa chất bột màu xám, có tổng khối lượng là 200g (hai trăm gam), là thuốc súng.
- Mở 01 (một) thùng cát tông được niêm phong ký hiệu T3, bên trong có: 01 (một) túi ni lông màu trắng bên trong có chứa nhiều túi ni lông màu đen bên trong mỗi túi màu đen chứa các hạt kim loại màu xám có kích thước khác nhau có tổng khối lượng là 16,5kg (mười sáu phẩy năm kilôgam), là đạn chì, cụ thể:
- 03 (ba) túi ni lông màu đen bên trong chứa các hạt kim loại màu xám hình nấm có tổng khối lượng 1,7kg (một phẩy bẩy kilôgam).
- 30 (ba mươi) túi ni lông màu đen bên trong có chứa các hạt kim loại màu xám hình cầu, có nhiều kích thước khác nhau có tổng khối lượng là 14,8kg (mười bốn phẩy tám kilôgam)
- Mở 01 (một) thùng cát tông được niêm phong ký hiệu A1, bên trong có: 09 (chín) túi ni lông màu trắng bên trong mỗi túi đều chứa chất bột màu xám có tổng khối lượng 2,95 kg (hai phẩy chín lăm kilôgam) và 01 (một) chiếc bát nhựa màu trắng có nhiều hoạ tiết có khối lượng 100g (một trăm gam).
- Mở 01 (một) thùng cát tông được niêm phong ký hiệu A2, bên trong có: 01 (một) túi ni lông màu trắng bên trong có chứa nhiều ống kim loại rỗng hình trụ tròn có nhiều kích thước khác nhau, có tổng khối lượng là 700g (bảy trăm gam), là vỏ đạn; 01 (một) túi ni lông màu đen bên trong chứa các hạt kim loại màu xám hình nấm có tổng khối lượng 840g (tám trăm bốn mươi gam), là đạn chì và 01 (một) bao tải màu vàng và 04 (bốn) túi ni lông màu đen bên trong chứa các hạt kim loại màu xám hình cầu có kích thước khác nhau, có tổng trọng lượng 04kg (bốn kilôgam), là đạn chì.
Sau khi khi mở niêm phong, kiểm tra các đồ vật trên được niêm phong như sau: Đối với 01 (một) túi ni lông màu đen bên trong chứa các ống kim loại rỗng hình trụ tròn, có nhiều kích thước khác nhau có tổng khối lượng là 1,8kg (một phẩy tám kilôgam) và 01 (một) túi ni lông màu trắng bên trong có chứa nhiều ống kim loại rỗng hình trụ tròn có nhiều kích thước khác nhau, có tổng khối lượng là 700g (bảy trăm gam), là vỏ đạn. Được niêm phong lại trong thùng cát tông ký hiệu H1 để gửi giám định.
- Đối với 01 (một) túi ni lông màu đen bên trong có chứa 08 (tám) túi ni lông màu trắng, bên trong mỗi túi màu trắng có chứa chất bột màu xám, có tổng khối lượng là 200g (hai trăm gam) và 09 (chín) túi ni lông màu trắng bên trong mỗi túi đều chứa chất bột màu xám có tổng khối lượng 2,95 kg (hai phẩy chín lăm kilôgam), là thuốc súng. Được niêm phong lại trong thùng cát tông ký hiệu H2 để gửi giám định.
- Đối với 01 (một) túi ni lông màu trắng bên trong có chứa nhiều túi ni lông màu đen bên trong mỗi túi màu đen chứa các hạt kim loại màu xám có kích thước khác nhau có tổng khối lượng là 16,5kg (mười sáu phẩy năm kilôgam); 01 (một) túi ni lông màu đen bên trong chứa các hạt kim loại màu xám hình nấm có tổng khối lượng 840g (tám trăm bốn mươi gam) và 01 (một) bao tải màu vàng và 04 (bốn) túi ni lông màu đen bên trong chứa các hạt kim loại màu xám hình cầu có kích thước khác nhau, có tổng trọng lượng 04kg (bốn kilôgam), là đạn chì. Được niêm phong lại trong thùng cát tông ký hiệu H3 để gửi giám định.
Tại biên bản mở niêm phong hồi 13 giờ 45 phút ngày 04/11/2023 xác định: Mở phong bì niêm phong ký hiệu T2 bên trong có 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, đã qua sử dụng và bên trong có gắn 01 (một) thẻ sim số 0386.539.564. Qua kiểm tra không có nội dung nào liên quan đến việc liên lạc, trao đổi mua bán thuốc súng, đạn chì và vỏ đạn.
Đối với 01 (một) phong bì niêm phong ký hiệu T xác định là số tiền 3.730.000₫ (Ba triệu, bảy trăm ba mươi nghìn đồng) tạm giữ của Vũ Ngọc H nên Cơ quan điều tra không tiến hành mở niêm phong kiểm tra mà trưng cầu cơ quan chuyên môn kiểm tra, giám định tiền thật, tiền giả và bảo quản theo quy định.
Cơ quan An ninh điều tra đã tiến hành trưng cầu giám định đối với số tang vật thu giữ của Vũ Ngọc H xác định được như sau:
Tại bản kết luận giám định số 8173/KL-KTHS ngày 01/12/2023 của V Bộ C4 kết luận: “Các mẫu vật ký hiệu H1 gửi giám định là vỏ đạn của các loại đạn ghém cỡ 16, 28, 32. Loại đạn ghém cỡ 16, 28,32 không phải vũ khí quân dụng; Các viên bị kim loại ký hiệu H3 gửi giám định thường được sử dụng để chế tạo đạn ghém các cỡ hoặc nhồi (đóng) trong nòng súng kíp, không thuộc danh mục vũ khí; Các viên đạn hình nấm ký hiệu H3 gửi giám định là đạn hình nấm cỡ 4,5mm và 5,5mm, thuộc súng săn, không phải là vũ khí quân dụng”.
Tại bản kết luận giám định số 8171/KL-KTHS ngày 13/12/2023 của V Bộ C4 kết luận: “Mẫu vật ký hiệu H2 gửi giám định là hỗn hợp thuốc phóng có thành phần chính gồm: NC (nitroxenlulo), KClO3 (K), S (lưu huỳnh) và C (các bon). Hỗn hợp thuốc phóng thường dùng làm liều phóng trong các loại đạn tự chế, căn cứ vào luật 14/2017/QH14 và Luật số 50/2019/QH14 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ thì hỗn hợp thuốc phóng thuộc vật liệu nổ”.
Quá trình điều tra, truy tố, Vũ Ngọc H khai nhận: Toàn bộ số thuốc súng, đạn chì và vỏ đạn thu giữ là của H mua về để bán kiếm lời, cụ thể: Khoảng đầu năm 2023, H đi xe khách từ nhà ở của mình tại tổ F, thị trấn B, huyện C xuống khu V thuộc quận H, thành phố Hà Nội để tìm mua thuốc súng, đạn chì. Khi xuống đến nơi thì H được một người đàn ông giới thiệu cho H đến gặp một người phụ nữ (H không biết tên, tuổi, địa chỉ của 2 người này) và sau đó H mua của người phụ nữ này 4,5 kg (Bốn phẩy năm kilôgam) thuốc súng với giá 2.600.000đ/01kg (Hai triệu, sáu trăm nghìn đồng một kilôgam); 30kg (Ba mươi kilôgam) đạn chì với giá 80.000đ/01kg (T mươi nghìn đồng một kilôgam) rồi sau đó H đi xe khách mang về cất giấu tại nhà của H.
Còn đối với số vỏ đạn thì cách đấy khoảng 04 đến 05 năm, H được mua khoảng 03kg (Ba kilôgam) với một người đàn ông (H không biết tên, tuổi, địa chỉ) tại khu vực thị trấn B, huyện C với giá tiền 100.000đ/01kg (Một trăm nghìn đồng một kilôgam).
Sau khi mua được số thuốc súng, đạn chì và vỏ đạn trên Hường chia thuốc súng ra từng túi nhỏ để khi đến phiên chợ B thuộc xã X, huyện C thì H mang theo thuốc súng, đạn chì, vỏ đạn để bán và bản thân H đã bán nhiều lần cho nhiều người dân (H không biết tên tuổi, địa chỉ) tại chợ với giá 300.000đ/100g (Ba trăm nghìn đồng một trăm gam) thuốc súng, 100.000đ/01kg (Một trăm nghìn đồng một kilôgam) đạn chỉ và 120.000đ/01kg (Một trăm hai mươi nghìn đồng một kilôgam) vỏ đạn, được tổng số tiền 4.272.000đ (Bốn triệu, hai trăm bảy mươi hai nghìn đồng) và đã chi tiêu cá nhân hết.
Đến ngày 03/11/2023, khi H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 97F3-3727 của H và mang theo một số thuốc súng, đạn chì và vỏ đạn để đến khu vực chợ B thuộc xã X, huyện C, tỉnh Bắc Kạn thì bị cơ quan Công an tỉnh B phát hiện, thu giữ và thu giữ toàn bộ số thuốc súng, đạn chì và vỏ đạn mà H đang cất giấu tại nhà khi khám xét khẩn cấp. Việc H mua thuốc súng, đạn chì và vỏ đạn để mang bán kiếm lời thì do một mình H thực hiện và không có ai biết hay tham gia cùng.
Về vật chứng: Đối với các vật chứng gồm các ống kim loại rỗng ruột hình trụ tròn có nhiều kích thước khác nhau có tổng trọng lượng là 2,5kg là vỏ đạn của các loại đạn ghém cỡ 16, 28, 32. Loại đạn ghém cỡ 16, 28, 32 không phải vũ khí quân dụng.
- Các viên kim loại hình cầu có kích thước khác nhau có tổng trọng lượng là 18,8kg, thường được sử dụng để chế tạo đạn ghém các cỡ hoặc nhồi (đóng) trong nòng súng kíp, không thuộc danh mục vũ khí.
- Các viên kim loại hình nấm có kích thước khác nhau có tổng trọng lượng là 2,54kg là đạn hình nấm cỡ 4,5mm và 5,5mm, thuộc súng săn, không phải là vũ khí quân dụng. Cơ quan An ninh điều tra đã chuyển hồ sơ cùng vật chứng trên đến phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an tỉnh B để xử lý vi phạm hành chính theo thẩm quyền.
Đối với 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu NOKIA, màu đen, loại bàn phím cứng, cũ đã qua sử dụng và 01 (một) căn cước công dân số [...] mang tên Vũ Ngọc H. Quá trình điều tra, xác định thuộc sở hữu của Vũ Ngọc H, không liên quan đến hành vi phạm tội của H, không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án và H có đơn xin nhận lại. Cơ quan điều tra xét thấy không cần thiết tạm giữ nên ngày 21/02/2024, Cơ quan An ninh điều tra đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu và trả lại cho H theo quy định.
Đối với các vật chứng còn lại gồm: 01 (một) hộp cát tông được niêm phong ký hiệu H2 bên trong có chứa: 3,15kg hỗn hợp thuốc phóng có thành phần chính gồm: NC (nitroxenlulo), KICO3 (K), S (lưu huỳnh) và C (các bon) thuộc vật liệu nổ.
- 01 (một) chiếc xe máy nhãn hiệu SYM Star, màu xanh, biển kiểm soát 97F3 – 3727, đã qua sử dụng.
Tổng 02 (hai) khoản, hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng Công an tỉnh B.
Đối với số tiền 3.730.000₫ (Ba triệu, bảy trăm ba mươi nghìn đồng) tạm giữ của Vũ Ngọc H được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu TI và đang được gửi bảo quản tại Kho bạc Nhà nước tỉnh Bắc Kạn.
Tại Bản Cáo trạng số 12/CT-VKS-P1 ngày 07/3/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn đã truy tố Vũ Ngọc H về tội: “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ” theo khoản 1 Điều 305 của Bộ luật Hình sự có nội dung:
“1. Người nào... tàng trữ, vận chuyển, ...mua bán trái phép...vật liệu nổ, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm;
5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt quản chế hoặc cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm”.
Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Kạn giữ nguyên quan điểm truy tố như cáo trạng, đề nghị HĐXX: Tuyên bị cáo Vũ Ngọc H phạm tội “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ”.
Áp dụng điểm khoản 1, khoản 5 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc H từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách gấp đôi; Phạt bổ sung số tiền 10.000.000đ đến 15.000.000đ để sung vào ngân sách Nhà nước;
Vật chứng, biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo pháp luật.
Án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Vũ Ngọc H phải chịu 200.000₫ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp, đúng quy định của pháp luật.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng đầu năm 2023, bị cáo Vũ Ngọc H có hành vi mua trái phép thuốc súng tại khu vực chợ Trời thuộc quận H, thành phố Hà Nội rồi mang về nhà của bị cáo tại tổ F, thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn cất giấu, với mục đích chia nhỏ để bán kiếm lời. Vào ngày 03/11/2023, khi bị cáo H đang vận chuyển 200g (Hai trăm gam) thuốc súng để mang bán tại khu vực chợ B thuộc xã X, huyện C, tỉnh Bắc Kạn và cất giấu tại nhà ở của mình 2,95kg (Hai phẩy chín lăm kilôgam) thuốc súng thì bị phát hiện và thu giữ. Tổng khối lượng thuốc súng mà bị cáo tàng trữ, vận chuyển và mua bán là 3,15kg (Ba phẩy mười năm kilôgam).
Tại bản kết luận giám định số 8171/KL-KTHS ngày 13/12/2023 của V Bộ C4 kết luận: “Mẫu vật ký hiệu H2 gửi giám định là hỗn hợp thuốc phóng có thành phần chính gồm: NC (nitroxenlulo), KClO3 (K), S (lưu huỳnh) và C (các bon). Hỗn hợp thuốc phóng thường dùng làm liều phóng trong các loại đạn tự chế, căn cứ vào luật 14/2017/QH14 và Luật số 50/2019/QH14 của Quốc hội sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật quản lý, sử dụng vũ khí, vật liệu nổ và công cụ hỗ trợ thì hỗn hợp thuốc phóng thuộc vật liệu nổ”.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp vật chứng và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ của vụ án và bị cáo thực hiện hành vi khi có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét có đủ căn cứ xác định việc truy tố, xét xử bị cáo về tội “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ” theo quy định tại khoản 1 Điều 305 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Hành vi của bị cáo là vi phạm quy định của pháp luật, đã xâm phạm vào các quy định của nhà nước về quản lý các vật liệu nổ, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự tại địa phương.
[3] Xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo:
Bị không có tiền án, tiền sự, được hưởng các tình tiết giảm nhẹ là "Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải"; bị cáo có bố đẻ là ông Vũ Văn C (Tên gọi khác Vũ Duy C1) được Nhà nước tặng Huy chương kháng chiến chống Pháp hạng nhất, trong quá trình giải quyết vụ án bị cáo đã tự nguyện nộp một khoản tiền 14.272.000đ tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn để đảm bảo cho việc thi hành án đối với bị cáo. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Xét thấy, hành vi của bị cáo chưa gây thiệt hại đến người, tài sản. Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã trên 60 tuổi thường xuyên bị ốm đau, hiện đang phải điều trị bệnh huyết áp cao, bản thân bị cáo đang sinh sống ở vùng điều kiện kinh tế - xã hội còn gặp nhiều khó khăn. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo có khả năng tự cải tạo do đó không cần thiết buộc bị phải cách ly ra khỏi đời sống xã hội mà cho bị cáo hưởng án treo và giao bị cáo cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục để bị cáo vẫn đảm bảo tính giáo dục, răn đe, phòng ngừa tội phạm nói chung, thể hiện chính sách nhân đạo, khoan hồng của Đảng và Nhà nước.
[4] Về hình phạt bổ sung: Căn cứ vào mục đích phạm tội, điều kiện kinh tế, số tiền tạm giữ của bị cáo Hội đồng xét thấy cần phạt bổ sung đối với bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước.
[5] Về xử lý vật chứng:
- Vật cấm tàng trữ, lưu hành là 01 (một) hộp cát tông được niêm phong ký hiệu H2 bên trong có chứa: 3,15kg hỗn hợp thuốc phóng có thành phần chính gồm: NC (nitroxenlulo), KICO3 (K), S (lưu huỳnh) và C (các bon) thuộc vật liệu nổ - cần giao cho Bộ chỉ huy quân sự tỉnh B xử lý theo quy định của pháp luật.
- Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Vũ Ngọc H số tiền 3.730.000₫ (Ba triệu, bảy trăm ba mươi nghìn đồng) tạm giữ của bị cáo Vũ Ngọc H được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu TI.
- Đối với 01 (một) Chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Star; Số loại: M3H; màu sơn: màu xanh, Số máy: VMEM3G225295; Số khung: RLGMA11BD4D225295; Dung tích xi lanh: 109cm³ ; Năm sản xuất 2004; biển kiểm soát 97F3 – 3727, cũ đã qua sử dụng. Quá trình điều tra và tại phiên tòa xác định là tài sản chung của vợ chồng bị cáo, bà Lưu Thị L không biết việc bị cáo sử dụng chiếc xe để thực hiện hành vi phạm tội - Xét thấy cần tịch thu hóa giá chiếc xe này: Sung quỹ Nhà nước ½ giá trị chiếc xe, trả lại cho bà Lưu Thị L ½ giá trị chiếc xe.
[6] Về biện pháp tư pháp: Bị cáo H khai nhận đã bán nhiều lần cho nhiều người dân (H không biết tên tuổi, địa chỉ) tại chợ với giá 300.000đ/100g (Ba trăm nghìn đồng một trăm gam) thuốc súng, 100.000đ/01kg (Một trăm nghìn đồng một kilôgam) đạn chỉ và 120.000đ/01kg (Một trăm hai mươi nghìn đồng một kilôgam) vỏ đạn, được tổng số tiền 4.272.000đ (Bốn triệu, hai trăm bảy mươi hai nghìn đồng) và đã chi tiêu cá nhân hết, cần buộc bị cáo nộp lại số tiền này để sung vào ngân sách Nhà nước.
[7] Trong vụ án còn có:
Trong vụ án còn có người phụ nữ (H không biết tên tuổi, địa chỉ) theo lời khai của Vũ Ngọc H là người đã bán trái phép vật liệu nổ cho H và nhiều người dân (H không biết tên tuổi, địa chỉ) mà H được bán trái phép thuốc súng, đạn chì, vỏ đạn cho tại khu vực chợ B thuộc xã X, huyện C. Tuy nhiên, H không cung cấp được họ tên, địa chỉ, nhân thân, lý lịch của người này nên Cơ quan điều tra không đủ cơ sở để xác minh, làm rõ.
Đối với chị Lưu Thị L, sinh năm 1962 (Vợ Vũ Ngọc H) và anh Vũ Ngọc T1, sinh năm 1991(Con của Vũ Ngọc H) cùng trú tại tổ F, thị trấn B, huyện C. Quá trình điều tra xác định chị L và anh T1 không biết và không được H nói hay biết việc H có hành vi mua bán, tàng trữ, vận chuyển trái phép vật liệu nổ nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Đối với hành vi tàng trữ trái phép các ống kim loại rỗng ruột hình trụ tròn có nhiều kích thước khác nhau có tổng trọng lượng là 2,5kg là vỏ đạn của các loại đạn ghém cỡ 16, 28, 32. Loại đạn ghém cỡ 16, 28, 32 không phải vũ khí quân dụng; Các viên kim loại hình cầu có kích thước khác nhau có tổng trọng lượng là 18,8kg, thường được sử dụng để chế tạo đạn ghém các cỡ hoặc nhồi (đóng) trong nòng súng kíp, không thuộc danh mục vũ khí và các viên kim loại hình nấm có kích thước khác nhau có tổng trọng lượng là 2,54kg là đạn hình nấm cỡ 4,5mm và 5,5mm, thuộc súng săn, không phải là vũ khí quân dụng. Do chưa đủ yếu tố cấu thành tội phạm nên Cơ quan an ninh điều tra đã chuyển hồ sơ cùng tang vật trên đến phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội, Công an tỉnh B để xem xét xử lý hành chính là có căn cứ.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Vũ Ngọc H phạm tội: “Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ”
- Vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
- Tịch thu và giao cho Bộ chỉ huy quân sử tỉnh Bắc Kạn xử lý theo quy định của pháp luật 01 (một) hộp cát tông được niêm phong ký hiệu H2 bên trong có chứa: 3,15kg hỗn hợp thuốc phóng có thành phần chính gồm: NC (nitroxenlulo), KICO3 (K), S (lưu huỳnh) và C (các bon) thuộc vật liệu nổ.
- Tạm giữ để đảm bảo thi hành án cho bị cáo Vũ Ngọc H số tiền 3.730.000đ (Ba triệu, bảy trăm ba mươi nghìn đồng) được niêm phong trong 01 (một) phong bì ký hiệu TI.
- Tịch thu hóa giá 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu SYM Star; Số loại: M3H; màu sơn: màu xanh, Số máy: VMEM3G225295; Số khung: RLGMA11BD4D225295; Dung tích xi lanh: 109cm³; Năm sản xuất 2004; biển kiểm soát 97F3 – 3727, tịch thu sung quỹ Nhà nước ½ giá trị chiếc xe, trả lại cho bà Lưu Thị L ½ giá trị chiếc xe.
- (Tình trạng vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an tỉnh B và Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn).
- Biện pháp tư pháp: Buộc bị cáo H nộp lại số tiền 4.272.000₫ (Bốn triệu, hai trăm bảy mươi hai nghìn đồng) để sung quỹ Nhà nước.
- Án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong bản án hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 305; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Vũ Ngọc H 20 (Hai mươi) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 40 (Bốn mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Vũ Ngọc H cho Ủy ban nhân dân thị trấn B, huyện C, tỉnh Bắc Kạn giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của Bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
Về hình phạt bổ sung: Phạt tiền bị cáo Vũ Ngọc H 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) để sung quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền bị cáo nộp để đảm bảo thi hành án: Tạm giữ số tiền 10.000.000₫ (Mười triệu đồng) nộp ngày 08/4/2024 và số tiền 4.272.000₫ (Bốn triệu hai trăm bảy mươi hai nghìn đồng) nộp ngày 10/4/2024 đều tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bắc Kạn để thi hành án cho bị cáo H.
Bị cáo Vũ Ngọc H phải chịu 200.000₫(Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đặng Đình Hưng |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN Hà Thanh Oai – Doãn Thị Hường |
Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 16/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN về tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ
- Số bản án: 12/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép vật liệu nổ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC KẠN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Khoảng đầu năm 2023, bị cáo Vũ Ngọc H có hành vi mua trái phép thuốc súng tại khu vực chợ Trời thuộc quận Hai Bà Trưng, thành phố HN rồi mang về nhà của bị cáo tại tổ 6B, thị trấn Bằng Lũng, huyện Chợ Đồn, tỉnh B cất giấu, với mục đích chia nhỏ để bán kiếm lời. Vào ngày 03/11/2023, khi bị cáo H đang vận chuyển 200g (Hai trăm gam) thuốc súng để mang bán tại khu vực chợ Bản Ó thuộc xã Xuân Lạc, huyện Chợ Đồn, tỉnh B và cất giấu tại nhà ở của mình 2,95kg (Hai phẩy chín lăm kilôgam) thuốc súng thì bị phát hiện và thu giữ. Tổng khối lượng thuốc súng mà bị cáo tàng trữ, vận chuyển và mua bán là 3,15kg (Ba phẩy mười năm kilôgam).
