|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ TỈNH QUẢNG TRỊ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2024/HS-ST Ngày: 04/6/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Lê Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Ngọc Anh và bà Nguyễn Thị Thu Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Phú - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Vân Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2024/TLST-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 5 năm 2024, đối với bị cáo:
Bùi Thị Thu H; sinh ngày: 12/4/2001 tại Quảng Trị; nơi đăng ký NKTT và chỗ ở: Thôn N, Xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; học vấn: 12/12; nghề nghiệp: Không; con ông Bùi Văn L, sinh năm 1965 và bà Trần Thị T, sinh năm 1964; chồng, con: Chưa có.
Tiền sự: Không
Tiền án: 02. Cụ thể: Ngày 04/5/2020 bị Tòa án nhân dân quận Ngũ Hành Sơn, thành phố Đà Nẵng xử 18 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thứ thách 36 tháng về tội "Trộm cắp tài sản" theo bản án số 20/2020/HSST. Ngày 31/12/2020 bị Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị xử phạt 24 tháng tù về tội "Trộm cắp tài sản", tổng hợp hình phạt với bản án trước thành 42 tháng tù theo bản án số 26/2020/HSST. Chấp hành xong hình phạt của hai bản án trên vào ngày 09/9/2023.
Bị caó Bùi Thị Thu H bị cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 20/12/2023 đến ngày 14/4/2024. Ngày 15/4/2024 H bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T bắt tạm giam về hành vi "Trộm cắp tài sản", hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T - Có mặt tại phiên toà.
- Bị hại:
Chị Hoàng Thị Thu H1; sinh năm 1983; địa chỉ: Khu phố H, Phường C, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
Chị Võ Thị Thanh T1; sinh năm 1965; địa chỉ: Khu phố C, Phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
Chị Trương Thị L1; sinh năm 1973; địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Anh Nguyễn Trọng Đ; sinh năm 2003; địa chỉ: Khu phố D, phường Đ, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ 45 phút ngày 25/11/2023, bị cáo Bùi Thị Thu H điều khiến xe mô tô Honda Airblade BKS 74C1-483.95 của anh Nguyễn Trọng Đ đi đến chợ T3 Quảng Trị để trộm cắp tài sản. Với phương thức giả là người hỏi mua áo quần rồi lợi dụng sơ hở của chủ quầy để lén lút trộm cắp tài sản, bị cáo H đã lấy trộm 02 chiếc quần jean dài tại quầy của chị Hoàng Thị Thu H1 và 03 áo pull tại quầy của chị Võ Thị Thanh T1 rồi cho vào ba lô mang bên mình. Trong lúc bị cáo H đi xuống tầng A thì gặp Công an P đang đi tuần tra, thấy bị cáo H có biểu hiện nghi vấn nên Công an đã mời lên làm việc.
Quá trình điều tra, bị cáo H khai nhận ngoài lần phạm tội trên còn thực hiện một số vụ trộm như sau:
- Vụ thứ nhất: Ngày 19/11/2023, lợi dụng sơ hở của chị Trương Thị L1 bị cáo H đã lấy trộm 05 đôi giày màu trắng đen, trên thân giày có chữ SPORT AZEW FASHION sau đó đem về gửi ở nhà anh Nguyễn Trọng Đ.
- Vụ thứ hai: Ngày 22/11/2023, lợi dụng sơ hở trong lúc quản lý tài sản của chị Trương Thị L1, bị cáo H lấy trộm 01 chai sữa rửa mặt hiệu Simple, 01 chai nước tẩy trang hiệu Simple Micellar, 01 chai thủy tinh màu vàng đen, bên trong có dung dịch COCO ESL và 01 chai thủy tinh màu đỏ-đen, hiệu L'UOODAIS.
Kết luận định giá tài sản số 597/KL-ĐG ngày 14/12/2023 của Hội đồng định giá tài sản xác định: Giá trị của 02 quần jean là 370.000 đồng; giá trị của 03 áo pull là 540.000 đồng. Tổng giá trị là 910.000 đồng.
Kết luận định giá tài sản số 08/KL-ĐG ngày 05/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản xác định: Giá trị tài sản của 05 đôi giày là 525.000 đồng; 04 chai chứa dung dịch mỹ phẩm là 300.000 đồng. Tổng giá trị 825.000 đồng.
Cáo trạng số 12/CT-VKS-TXQT ngày 22/4/2024, Viện kiểm sát nhân thị xã Q đã truy tố bị cáo Bùi Thị Thu H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị giữ nguyên quyết định truy tố đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Bùi Thị Thu H từ 12 tháng đến 15 tháng tù; thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án; phần bồi thường dân sự các bên đã thỏa thuận xong, không yêu cầu gì thêm nên không xem xét.
Việc bị cáo Bùi Thị Thu H mượn xe mô tô nhãn hiệu HONDA AIRBLADE màu đen bạc, BKS 74C1-483.95 của anh Nguyễn Trọng Đ để làm phương tiện trộm cắp tài sản và gửi 05 đôi giày trộm được ở nhà của anh Đ, anh Đ không biết nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với anh Nguyễn Trọng Đ là đúng pháp luật.
Ngày 22/11/2023, bị cáo Bùi Thị Thu H đem tài sản đã trộm cắp cất giấu ở nhà mẹ của bị cáo H là bà Trần Thị T nhưng bà T không biết nên Cơ quan điều tra không xem xét trách nhiệm hình sự đối với bà Trần Thị T là đúng pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu tiêu hủy đối với các vật dụng còn lại trong vụ án.
Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên: Trong quá trình thực hiện điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về tội danh: Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Bùi Thị Thu H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung bản cáo trạng đã nêu, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Do đó, có đủ căn cứ để kết luận:
Bị cáo Bùi Thị Thu H đã bị kết án về tội "Trộm cắp tài sản", chưa được xóa án tích nhưng trong khoảng thời gian từ ngày 19/11/2023 đến ngày 25/11/2023, tại các quầy hàng của chị Trương Thị L1, Hoàng Thị Thu H1, Võ Thị Thanh T1 ở chợ T3 Quảng Trị thuộc Khu phố B, Phường B, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị, bị cáo H đã lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của các chủ quầy để lấy trộm tài sản có tổng trị giá 1.735.000 đồng. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị truy tố bị cáo Bùi Thị Thu H về tội: “Trộm cắp tài sản”, quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Hành vi của bị cáo Bùi Thị Thu H đã thực hiện trong vụ án không những trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân mà còn ảnh hưởng đến tình hình an ninh, trật tự trên địa bàn. Bị cáo đã nhiều lần bị Toà án xét xử về nhóm tội xâm phạm quyền sở hữu nhưng vẫn không chịu lao động, tu dưỡng, rèn luyện bản thân, chứng tỏ bị cáo xem thường pháp luật, xem thường quyền sở hữu tài sản của người khác.
Bị cáo H chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS. Tuy nhiên, quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo H đã thành khẩn khai báo các lần phạm tội, khắc phục thiệt hại, được bị hại xin giảm nhẹ hình phạt nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét hành vi phạm tội, giá trị tài sản phạm tội, nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy cần áp dụng khoản 1 Điều 38 của Bộ luật hình sự, buộc bị cáo H chấp hành hình phạt tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định nhằm răn đe, phòng ngừa chung.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Những người bị hại bà Võ Thị Thanh T2, bà Hoàng Thị Thu H1 đã nhận lại tài sản, bà Trương Thị L1 đã nhận tài sản và tiền bồi thường; người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Trọng Đ đã nhận lại tài sản; đều không có yêu cầu gì nên HĐXX không xem xét.
[5] Về xử lý vật chứng:
Những tài sản gồm áo pull, quần jean, giày bị cáo lấy trộm được thu giữ trong quá trình điều tra đã trả lại cho bị hại; xe máy và giấy chứng nhận đăng ký xe đã trả lại cho chủ sở hữu.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu và tiêu hủy các đồ vật còn lại: Ba lô, Nước tẩy trang, sữa rửa mặt, các chai chứa dung dịch khác
[6] Về án phí: Bị cáo Bùi Thị Thu H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 173, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 38, Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106, Điều 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 21, 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án:
- Tuyên bố bị cáo Bùi Thị Thu H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Xử phạt bị cáo Bùi Thị Thu H 09 (Chín) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.
- Xử lý vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy:
- - 01 chai nhựa nước tẩy trang S, bên trong có dung dịch màu trắng, cao 15,5cm.
- - 01 chai nhựa sữa rửa mặt Simple, bên trong có dung dịch màu trắng, cao 14cm.
- - 01 chai thủy tinh màu vàng đen, bên trong có dung dịch, thân chai có chữ COCO ESL, cao 16cm.
- - 01 chai thủy tinh màu đỏ-đen, nắp trắng, bên trong có dung dịch, thân chai có chữ L' UOODAIS, cao 13,6cm.
- - 01 ba lô màu nâu – đen.
Tất cả vật chứng trên hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/4/2024 giữa Công an thị xã Q và Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị.
- Án phí: Bị cáo Bùi Thị Thu H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo phần liên quan đến quyền lợi của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Lê Phương Thảo |
Bản án số 12/2024/HS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 12/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bùi Thị Thu Hằng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
