Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

Bản án số: 129/2024/HS-PT

Ngày 04-11-2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Phạm Văn Tâm.

Các Thẩm phán: bà Phạm Ngọc Giàu; ông Nguyễn Văn Bình.

- Thư ký phiên tòa: ông Ngô Tấn Tài, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: ông Trần Quốc Vương - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 129/2024/TLPT-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Trần Văn G; do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số 79/2024/HS-ST ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

- Bị cáo kháng cáo: Trần Văn G (tên gọi khác: không có), sinh năm 1984, tại Tây Ninh. Hộ khẩu thường trú: ấp T, xã T, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Chỗ ở hiện nay: Số A, Hẻm A, Đường H, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh, giới tính: Nam; tôn giáo: không, Nghề nghiệp: Làm mướn; trình độ học vấn: không biết chữ; Con ông: Trần Văn Đ, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị Lệ H, sinh năm 1966; Vợ: Phan Thị Mỹ N (đã ly hôn); Con: có 01 người sinh năm 2010.

Tiền án, tiền sự: không có. Nhân thân: tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 94/2007/HS-ST ngày 28/9/2007 của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu đã kết án bị cáo Trần Văn G 03 (ba) năm tù giam, về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, d, i khoản 2 Điều 104 của Bộ luật Hình sự (năm 1999), chấp hành xong hình phạt ngày 17/01/2009; bị cáo được xóa án tích. Tại Quyết định số 32/QĐ-XPHC ngày 21 tháng 10 năm 2016 của Phòng C Công an tỉnh T xử phạt Trần Văn G số tiền 1.500.000 đồng về hành vi “ Đánh bạc bằng máy, trò chơi điện tử trái phép”. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên toà.

- Bị hại: anh Lê Duy Q, sinh năm 1997; địa chỉ: tổ I, phường H, quận C, Thành phố Đà Nẵng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1988, ngụ nhà số A, Hẻm A, Huỳnh Tấn P, khu phố H, phường H, thành phố T. Do cần tiền nên chị T thế chấp quyền sử dụng đất (thực tế hai bên lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất) cho Bùi Xuân Đ1, sinh năm 1992, ngụ Thôn B, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Quảng Nam để vay tiền, thỏa thuận thời hạn 03 tháng từ ngày 16/12/2022 đến ngày 26/3/2023. Ngày 09/01/2023, Đ1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng thửa đất số 503, tờ bản đồ số 14, địa chỉ: khu phố H, phường H, thành phố T (đất trên của ông Võ Quốc T1 ủy quyền cho chị T, ông Võ Quốc T1 nhận chuyển nhượng từ ông Lương Nhựt T2 và bà Lương Thị Thanh T3). Ngày 29/3/2023, Đ1 ký hợp đồng chuyển nhượng thửa đất trên cho Lê Duy Q, sinh năm 1997, ngụ Thôn I, phường H, quận C, Thành phố Đà Nẵng. Ngày 13/4/2023, Q được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi được cấp giấy chứng nhận, Q nhiều lần đến gặp gia đình chị T yêu cầu bàn giao nhà đất nhưng chị T không đồng ý vì cho rằng phần đất trên chị T chỉ thế chấp cho Bùi Xuân Đ1 để vay tiền, hiện nhà đất vẫn thuộc sở hữu của chị. Vụ việc được chị T trình báo chính quyền địa phương yêu cầu giải quyết và được hướng dẫn khởi kiện ra Tòa để xử lý theo quy định. Sau nhiều lần yêu cầu giao nhà nhưng không thỏa thuận được, ngày 24/4/2023 Q cùng với Đặng Kim Q1, sinh năm 1999, ngụ thôn Đ, xã D, huyện D, tỉnh Quảng Nam đến nhà chị T leo rào vào nhà chị T và ngủ lại. Tối ngày 25/4/2023, nhóm của Q bị Nguyễn Văn P1, sinh năm 1987, ngụ ấp C, xã T, thị xã P, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu là bạn T đánh nên bỏ đi. Khoảng 14 giờ 17 phút ngày 08/6/2023, Q đến nhà chị T để yêu cầu giao nhà. Do sợ bị đánh nên Q rủ Q1, Nguyễn Văn T4, sinh năm 1996 và Đậu Đình T5, sinh năm 1991 cùng ngụ quận C, Thành phố Đà Nẵng đi cùng. Khi đến nhà chị T, Q gặp anh T6 là anh ruột của T và ông Nguyễn Văn T7 là cha của chị T ngụ cùng địa chỉ đang ở trong nhà. Lúc này, nhóm của Q đứng bên ngoài hàng rào chờ lực lượng chính quyền địa phương đến giải quyết. Trong lúc chờ đợi, anh T6 gọi điện cho G nói nhóm Q đến kiếm chuyện kêu G về, khoảng 15 phút sau G về đến nhà.

Đến khoảng 14 giờ 38 cùng ngày, ông T7 thấy Quốc leo rào vào nhà nên đứng bên trong hàng rào cầm cây chỉa cán bằng trúc có 04 đầu nhọn, chỉa ra ngoài hàng rào, vào vùng sườn trái của Q (giám định không có thương tích) nên Q nhảy xuống đất. Sau đó, T6 cầm cây chỉa có 03 đầu nhọn đứng bên trong cùng ông T7 tiếp tục hăm dọa Q. Sau khi bị đâm, Quốc đứng bên ngoài cùng ông T7 tiếp tục hăm dọa chửi nhau, Q lấy ổ khóa đã chuẩn bị sẵn khóa trái cổng rào và nói “không cho cả nhà tụi bây ra luôn”, sau đó được T6 can ngăn ông T7 đi vào nhà.

Khoảng 14 giờ 41 phút cùng ngày, sau khi nghe người nhà chị T báo G về từ trong nhà đi ra, tay cầm nạn ná cao su sử dụng viên bi sắt tròn đường kính 0,5 cm bắn Q trúng vào đuôi mắt trái gây thương tích và tiếp tục bắn vào nhóm Q1, T4, T5 vừa chửi thề nói “tụi bây đi hết đi, chết mẹ tụi bây giờ,... ”. Do bị bắn nên nhóm Q bỏ đi, sau đó đến Công an trình báo sự việc.

Ngày 10/6/2023, anh Q làm đơn tố cáo yêu cầu xử lý hình sự gửi đến Công an thành phố T.

* Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số 162/KLTTCT-TTPYTN ngày 17/7/2023 của Trung tâm P2 - Sở Y, kết luận:

  • 01 vết sẹo trên đuôi mắt phải, kích thước nhỏ có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 03%.
  • Bán lệch nhẹ thuỷ tinh thể một phần có tỷ lệ tổn thương cơ thể là: 04%.
  • 03 vết xây xát biến đổi rối loạn sắc tố da vùng ngực trái hiện không còn dấu vết không có quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể theo Thông tư 22 ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 (do ông T7 dùng chĩa đâm).
  • 01 vết sẹo mặt gan lòng bàn tay trái, kích thước nhỏ có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 01% (vết thương do Q leo rào bị thương).

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y1 quy định, tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Lê Duy Q tại thời điểm giám định là: 08%.

Căn cứ lời khai của Q, thừa nhận vết thương lòng bàn tay là do Quốc tự gây ra khi leo rào, nên tỷ lệ phần trăm thương tích do G gây nên là 07%.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số 79/2024/HS-ST ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh, đã quyết định:

- Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Văn G 09 (chín) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích".

- Về trách nhiệm dân sự: bị cáo Trần Văn G có nghĩa vụ bồi thường tiền tổn thất tinh thần cho anh Lê Duy Q số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng.

- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo luật định.

* Ngày 10/7/2024, bị cáo Trần Văn G có đơn kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo, với các tình tiết gia đình bị cáo có công với cách mạng, có bà nội được Nhà nước tặng thưởng danh hiệu “Bà mẹ Việt Nam anh hùng, có chú là liệt sĩ, thương binh”.

* Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo đã nộp số tiền 10.000.000 đồng khắc phục hậu quả cho bị hại.

* Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh phát biểu quan điểm về vụ án:

Về tố tụng: xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm, phúc thẩm đều được thực hiện đúng với trình tự tố tụng theo luật định, hợp pháp.

Về nội dung: Bản án sơ thẩm xử phạt bị cáo Trần Văn G 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích” là có căn cứ, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự; không chấp nhận kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm.

* Bị cáo không tranh luận.

* Lời nói sau cùng: bị cáo đã thật sự ăn năn hối hận, mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo hưởng án treo để sớm về đoàn tụ gia đình và làm công dân tốt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Văn G xác nhận trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.

[1.2] Bị cáo kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn luật định, phù hợp tại Điều 331, 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

[2] Về nội dung: tại phiên toà bị cáo Trần Văn G khai nhận, bị cáo là bạn của chị T, giữa chị T và nhóm anh Q có mâu thuẫn nhau trong việc tranh chấp nhà đất, khi nhóm của anh Q đến đòi chị T giao nhà, đất thì anh T6 điện thoại báo tin cho G biết, G đến nhà chị T tại Số A, Hẻm A, Huỳnh Tấn P, khu phố H, phường H, thành phố T và gây gỗ với anh Q, lúc Quốc leo rào vào nhà chị T thì bị cáo G dùng nạn ná cao su kẹp viên bi sắt có đường kính 0,5 cm bắn trúng vào đuôi mắt trái của Q gây thương tích tỷ lệ tổn thương cơ thể 07% (gây bán lệch thủy tinh thể). Lời khai nhận của bị cáo G phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Cho thấy, bị cáo G là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, đã dùng nạn ná cao su là hung khí nguy hiểm tấn công vào người anh Q gây thương tích, cấp sơ thẩm kết luận hành vi của bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích” theo qui định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.

[3] Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng. Tuy nhiên, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự, trị an tại địa phương nên cần nghiêm trị mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[4] Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo G, thấy rằng:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, khi quyết định hình phạt cấp sơ thẩm đã xem xét cho bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, có bà nội là người công với Cách mạng” được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Trong thời gian chuẩn bị xét xử phúc thẩm, bị cáo đã nộp số tiền 10.000.000 đồng khắc phục hậu quả cho bị hại nên được áp dụng thêm tình tiết khắc phục hậu quả theo điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, bị cáo là người có nhân thân xấu, mức án 09 tháng tù là tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội bị cáo gây ra “ không nặng”, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Giữ nguyên bản án sơ thẩm.

[5] Về án phí phúc thẩm: do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/QH ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[6] Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa; phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[7] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Văn G.

Giữ nguyên Bản án Hình sự sơ thẩm số 79/2024/HS-ST ngày 03 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Trần Văn G 09 (chín) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.

2. Về trách nhiệm dân sự: ghi nhận bị cáo Trần Văn G đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh số tiền 10.000.000 (mười triệu) đồng bồi thường cho anh Lê Duy Q.

3. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Văn G phải chịu số tiền 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.

4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

5. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án

Nơi nhận:

  • - Vụ GĐKT.TANDTC (Vụ 1);
  • - TAND cấp cao tại Tp.HCM;
  • - VKSND cấp cao tại Tp.HCM
  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - TAND TP TN;
  • - VKSND TPTN;
  • - Công an TPTN;
  • - Nhà tạm giữ CATPTN;
  • - Chi cục THADS TPTN;
  • - Phòng KTNV. TATTN;
  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án THS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Phạm Văn Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 129/2024/HS-PT ngày 04/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 129/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Văn G tội cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger