|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ TỈNH QUẢNG TRỊ Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST Ngày 26/9/2024 “V/v không công nhận quan hệ vợ chồng” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Hoàng Lê Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Võ Thị Nguyệt Ánh và bà Lê Thị Ngọc Anh.
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Thuý Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lệ An - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 32/2024/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 8 năm 2024, về việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 09/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:
- - Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn N, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị - Có mặt.
- - Bị đơn: Ông Ngô Quốc T, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn N, xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị - Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ghi ngày 16/8/2024 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh N trình bày:
- - Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Ngô Quốc T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1997, không đăng ký kết hôn. Trong thời gian từ năm 1997 đến năm 2022 vợ chồng chung sống với nhau phát sinh nhiều mâu thuẫn, bất đồng quan điểm sống. Nay tình cảm vợ chồng đã hết, không còn chung sống với nhau được nữa. Do đó, bà Nguyễn Thị Thanh N muốn chấm dứt tình trạng hôn nhân với ông T, yêu cầu Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông T và bà N.
- - Về con chung: Bà N và ông T có 02 người con chung, gồm chị Ngô Thị Hà G, sinh ngày 27/11/1998 và anh Ngô Quốc T1, sinh ngày 18/9/2002, hiện cả hai người con đều đủ tuổi thành niên và có khả năng lao động, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Ngô Quốc T trình bày:
Ông Ngô Quốc T và bà Nguyễn Thị Thanh N sống chung với nhau từ năm 1997 đến năm 2022 nhưng không đăng ký kết hôn; vợ chồng có 02 người con chung là chị Ngô Thị Hà G, sinh năm 1998 và anh Ngô Quốc T1, sinh năm 2002. Ông T cho rằng việc bà Nguyễn Thị Thanh N trình bày quá trình chung sống giữa hai vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, bất đồng quan điểm là không đúng sự thật, vì ông T luôn yêu thương, chăm sóc, cố gắng làm ăn và tạo mọi điều kiện tốt nhất cho bà N được học tập và làm việc. Mặc dù không đăng ký kết hôn nhưng ông Ngô Quốc T luôn xem bà Nguyễn Thị Thanh N là vợ. Tuy nhiên, nay bà N cảm thấy không thể sống chung với nhau được nữa và yêu cầu Tòa án giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng thì ông T đồng ý với yêu cầu của bà N, đề nghị Tòa án giải quyết chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông T và bà N.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Quảng Trị phát biểu ý kiến:
- - Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa: Quá trình thụ lý, xét xử vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã chấp hành đúng, đầy đủ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành đúng quy định về quyền và nghĩa vụ tại các Điều 70, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- - Về quan điểm giải quyết vụ án:
Áp dụng khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, đề nghị Hội đồng xét xử, tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị Thanh N, không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Ngô Quốc T.
- Về con chung: Các con chung của bà N và ông T đều trên 18 tuổi, có khả năng lao động và bà N không có yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không xem xét.
- Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:
- Bà Nguyễn Thị Thanh N yêu cầu không công nhận quan hệ vợ chồng với ông Ngô Quốc T có nơi cư trú tại xã H, thị xã Q, tỉnh Quảng Trị. Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Quảng Trị, tỉnh Quảng Trị.
- Sau khi nhận quyết định đưa vụ án ra xét xử, bị đơn ông Ngô Quốc T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Xét về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Ngô Quốc T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 1997, nay bà N đề nghị Tòa án không công nhận quan hệ vợ chồng giữa ông T và bà N. Theo kết quả xác minh tại chính quyền địa phương, ông Ngô Quốc T và bà Nguyễn Thị Thanh N có hộ khẩu thường trú tại xã H và không có tên trong sổ đăng ký kết hôn từ năm 1996 đến nay. Căn cứ khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng...” nên Hội đồng xét xử cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, tuyên bố không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Ngô Quốc T.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Ngô Quốc T có 02 người con chung là chị Ngô Thị Hà G, sinh ngày 27/11/1998 và anh Ngô Quốc T1, sinh ngày 18/9/2002, hiện cả hai người con của Bà N và ông T đều đã đủ tuổi thành niên và có khả năng lao động, bà N không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh N phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 266, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 9, khoản 1 Điều 14 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa bà Nguyễn Thị Thanh N và ông Ngô Quốc T.
- Án phí: Bà Nguyễn Thị Thanh N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ đi số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000089 ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Quảng Trị, bà N đã nộp đủ tiền án phí.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Lê Phương Thảo |
Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 26/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ về không công nhận quan hệ vợ chồng
- Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ QUẢNG TRỊ, TỈNH QUẢNG TRỊ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: “V/v không công nhận quan hệ vợ chồng” Nhàn - Tài
