|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN Huyện K - Tỉnh Ninh Bình |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST Ngày: 22/5/2024 "V/v: Ly hôn, tranh chấp nuôi con" |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN K - TỈNH NINH BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà : Ông Phạm Thế Anh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Xuân Dự và ông Trần Văn Nghi
- Thư ký phiên toà: Lê Thị Thu Hà, Thư ký Toà án nhân dân huyện K.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Doan, Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 21/2024/TLST-HNGĐ ngày 15/02/2024 về việc "Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 17/2024/QÐST - HNGĐ ngày 06/05/2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị U, sinh năm 1993; ĐKHK và cư trú tại: Tổ A, khu phố P, phường A, thị xã B, tỉnh Bình Phước (Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt)
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Văn C, sinh năm 1988; ĐKHK và trú tại: xóm A, xã Â, huyện K, tỉnh Ninh Bình (Vắng mặt tại phiên tòa và có đơn xin xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 20/10/2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Nguyễn Thị U trình bày:
Chị và anh Nguyễn Văn C đăng ký kết hôn năm 2012 tại UBND xã Â trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị về chung sống tại nhà chồng ở xã Â một thời gian sau đó cùng đi làm ăn xa tại miền N; trong thời gian này, vợ chồng phát sinh mẫu thuẫn; nguyên nhân do anh C chơi bời, không tu chí làm ăn và nghiện ma túy. Chị đã nhiều lần khuyên giải nhưng anh C không thay đổi, không từ bỏ ma túy mà còn có lời lẽ xúc phạm chị và bỏ nhà đi. Từ đầu năm 2022, anh C bỏ về quê sinh sống, từ đó đến nay, vợ chồng sống ly thân, không ai quan tâm đến ai. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, không thể quay về chung sống, chị yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh C để tôi ổn định cuộc sống.
Về con chung: Chị xác định vợ chồng có 3 con chung là Nguyễn Hà V, sinh ngày 14/4/2012; Nguyễn Như T, sinh ngày 09/9/2016 và Nguyễn Như Q, sinh ngày 09/9/2016, hiện đang ở với chị. Khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi cả 3 con và yêu cầu anh C đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về tài sản: Chị xác định vợ chồng không có tài sản chung; khi ly hôn chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn trong vụ án anh Nguyễn Văn C trong bản tự khai ngày 01/3/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án:
Anh và chị Nguyễn Thị U có đăng ký kết hôn với nhau vào năm 2012 tại UBND xã Â. Sau khi kết hôn anh và chị U về chung sống và cùng đi làm ăn tại tỉnh Bình Phước được thời gian khoảng 3-4 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống, nên thường xảy ra cãi chửi nhau. Mẫu thuẫn đã được hai bên gia đình nội ngoại khuyên giải nhưng không được cải thiện mà ngày càng nặng nề hơn. Từ năm 2022 đến nay anh và chị U sống ly thân mỗi người một nơi không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay anh xét thấy tình cảm vợ chồng giữa anh và chị U không còn, không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nữa. Vì vậy chị U yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn anh cũng đồng ý.
Về con: Anh và chị U có 03 con chung tên là Nguyễn Hà V, sinh ngày 14/4/2012; Nguyễn Như T, sinh ngày 09/9/2016 và Nguyễn Như Q, sinh ngày 09/9/2016. Khi ly hôn anh xin được nuôi con Nguyễn Hà V, anh nhường quyền cho chị U nuôi 02 con Nguyễn Như T và Nguyễn Như Q; hai bên không phải đóng góp tiền nuôi con cho nhau. Trường hợp các con có nguyện vọng muốn được ở với mẹ thì anh tôn trọng ý kiến của các con và anh có trách nhiệm đóng góp tiền nuôi con cho chị U theo quy định.
Về tài sản chung: Anh và chị U không có. Vì vậy anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ba con chung của anh chị khi được hỏi ý kiến đều có nguyện vọng xin được ở với chị U khi bố mẹ ly hôn.Các đương sự đều có đơn xin giải quyết và xét xử vắng mặt do công việc và do đường xa đi lại khó khăn.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K về tố tụng:
- Hội đồng xét xử và người tiến hành tố tụng đã tuân theo đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nguyên đơn và Bị đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện K về nội dung:
- Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình; căn cứ Điều 144, 147, 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị tuyên:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị U và anh Nguyễn Văn C.
- Giao cả ba con chung cho chị U trực tiếp nuôi dưỡng, anh C chịu trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cho chị U mỗi cháu 1 triệu đồng một tháng cho đến khi thành niên.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị U và anh Nguyễn Văn C kết hôn tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Â, huyện K, tỉnh Ninh Bình năm 2012. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống một thời gian tại xã Â, sau đó vào Bình Phước làm ăn sinh sống. Trong thời gian ở tỉnh Bình Phước vợ chồng xảy ra mâu thuẫn. Do mâu thuẫn không khắc phục được nên hai bên đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay.
Theo chị U nguyên nhân là do anh C chơi bời, không tu chí làm ăn và nghiện ma túy. Chị đã nhiều lần khuyên giải nhưng anh C không thay đổi, không từ bỏ ma túy mà còn có lời lẽ xúc phạm chị và bỏ nhà đi từ năm 2022 đến nay vợ chồng sống ly thân mỗi người một nơi không còn quan tâm gì đến nhau nên chị yêu cầu giải quyết ly hôn để ổn định cuộc sống
Về phía anh C Nguyên nhân là do bất đồng về quan điểm sống nên thường xảy ra cãi chửi nhau. Mẫu thuẫn đã được hai bên gia đình nội ngoại khuyên giải nhưng không được cải thiện mà ngày càng nặng nề hơn. Từ năm 2022 đến nay anh và chị U sống ly thân mỗi người một nơi không còn quan tâm đến nhau nữa. Nay chị U ly h anh cũng nhất trí.
Xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh C cư trú, đại diện UBND xã Â xác nhận trước năm 2023 vợ chồng anh C chị U đi làm ăn hầu như không có mặt tại địa phương, khoảng cuối năm 2023 đến nay thì anh C về địa phương sinh sống mà không có chị U; về nguyên nhân cụ thể như thế nào thì địa phương không biết vì không nhận được bất kỳ đơn thư hay báo cáo gì. Đối với việc chị U làm đơn yêu cầu giải quyết ly hôn với anh C thì Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và yêu cầu thực tế của các bên để giải quyết theo quy định của pháp luật.
Như vậy mặc dù nguyên nhân mâu thuẫn hai bên trình bày không giống nhau, nhưng cả anh C và chị U đều xác định vợ chồng có mâu thuẫn, do mâu thuẫn không giải quyết được nên đã ly thân từ năm 2022 cho đến nay đều đồng thuận ly hôn. Từ những căn cứ đó Hội đồng xét xử xét thấy cuộc sống chung của vợ chồng giữa chị U và anh C do mâu thuẫn đã có thời gian dài ly thân, không ai quan tâm đến nhau; mặc dù đã được hai bên gia đình giúp đỡ hoà giải nhiều lần nhưng không có kết quả; mâu thuẫn vợ chồng đã đến mức trầm trọng không còn khả năng đoàn tụ, mục đích hôn nhân không đạt được, Do đó yêu cầu xin ly hôn của chị U đối với anh C là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 51, 56 Luật hôn nhân gia đình cần được chấp nhận.
[2] Về con chung:
Chị U và anh C xác định vợ chồng có 03 con chung tên là Nguyễn Hà V, sinh ngày 14/4/2012; Nguyễn Như T, sinh ngày 09/9/2016 và Nguyễn Như Q, sinh ngày 09/9/2016.
Khi ly hôn chị U xin được trực tiếp nuôi cả ba con chung và yêu cầu anh C đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật; về phía anh C xin được nuôi con Nguyễn Hà V, anh nhường quyền cho chị U nuôi 02 con Nguyễn Như T và Nguyễn Như Q cho chị U, hai bên không phải đóng góp tiền nuôi con cho nhau, trường hợp các con có nguyện vọng muốn được ở với mẹ thì anh tôn trọng ý kiến của các con.
Xét thấy cả ba cháu đều là con gái hiện đang do chị U trực tiếp nuôi dưỡng, ổn định chỗ ở, sinh hoạt và học tập; mặt khác cả ba con chung đều có nguyện vọng xin được ở với mẹ khi trường hợp các con có nguyện vọng muốn được ở với mẹ thì anh tôn trọng ý kiến của các con vì vậy Hội đồng xét xử giao cả ba con chung cho chị U trực tiếp trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục
Về cấp dưỡng nuôi con chung phía chị U yêu cầu anh C đóng góp tiền cấp dưỡng nuôi con chung cho chị theo quy định của pháp luật mà không có yêu cầu cụ thể. Về phía anh C cũng xác định trường hợp các con có nguyện vọng muốn được ở với mẹ thì anh tôn trọng ý kiến của các con và anh có trách nhiệm đóng góp tiền nuôi con cho chị U theo quy định. Cả hai bên đều lao động tự do, không cung cấp chứng cứ chứng minh cho thu nhập của mình; do đó để bảo vệ quyền lợi cho các con chung Hội đồng xét xử căn cứ mức thu nhập trung bình của địa phương là 4,5 triệu đồng tháng để buộc anh C chịu trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cho chị U mỗi cháu 1 triệu đồng một tháng cho đến khi thành niên như kiểm sát viên đề xuất là phù hợp.
[3] Về tài sản: Chị U và anh C xác định vợ chồng không có tài sản chung, không yêu cầu giải quyết vì vậy HĐXX không xem xét.
[4] Về án phí: Chị U phải chịu án phí ly hôn, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp; anh C phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng Điều 51, 56, 81,82,83 Luật hôn nhân và gia đình; căn cứ Điều 144, 147, 227 và Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án:
1. Xử ly hôn giữa chị Nguyễn Thị U với anh Nguyễn Văn C.
2. Giao chị Nguyễn Thị U trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục 03 con chung tên là Nguyễn Hà V, sinh ngày 14/4/2012; Nguyễn Như T, sinh ngày 09/9/2016 và Nguyễn Như Q, sinh ngày 09/9/2016 đến khi thành niên.
Anh Nguyễn Văn C chịu trách nhiệm đóng góp cấp dưỡng nuôi con chung cho chị U mỗi cháu 1 triệu đồng một tháng ( Cụ thể: Cháu Nguyễn Hà V 01 triệu đồng, cháu Nguyễn Như T 01 triệu đồng và cháu Nguyễn Như Q 01 triệu đồng ) kể từ tháng 6/2024 cho đến khi con chung thành niên.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con; Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con không được lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Kể từ ngày chị U có đơn yêu cầu thi hành án, nếu anh C không nộp số tiền phải thanh toán nêu trên thì hàng tháng còn phải chịu lãi suất chậm thi hành án đối với số tiền phải thi hành tương ứng với thời gian chưa thi hành án theo quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Án phí ly hôn sơ thẩm:
Chị Nguyễn Thị U phải nộp 300.000đ nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000đ tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số AA/2021/0005070 ngày 02/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện K.
Anh Nguyễn Văn C phải nộp 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được THADS, người phải THADS có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật THADS; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật THADS.
Án xử sơ thẩm công khai, chị U và anh C có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại nơi cư trú.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Phạm Thế Anh |
Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 22/05/2024 của Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình về ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Toà án nhân dân huyện K, tỉnh Ninh Bình
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con chung
