Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ PHÚ THỌ

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

 

Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 10/9/2024

V/v: Tranh chấp hôn nhân gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Lệ Thanh

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1. Ông Trần Quang Huấn.
  • 2. Bà Đặng Thị Thanh Tâm.

- Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Thu Hậu – Thư ký Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Trang - Kiểm sát viên

Ngày 10 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Toà án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 83/2024/TLST- HNGĐ ngày 05 tháng 6 năm 2024 về tranh chấp hôn nhân và gia đình theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 12/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 16/8/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2024/QĐST-HNGĐ ngày 26/8/2024, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Lê Thị Nha T, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Số nhà B, tổ F, khu dân cư T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (Có mặt)

Bị đơn: Anh Đàm Văn M, sinh năm 1982.

Địa chỉ: Số nhà B, tổ F, khu dân cư T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa chị Lê Thị Nha T trình bày:

Vợ chồng chị kết hôn ngày 05/12/2011, đăng ký kết hôn tại UBND phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, do hai bên tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hòa thuận tại nhà bố mẹ đẻ anh M tại khu dân cư T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Khoảng từ năm 2017, vợ chồng chị đã phát sinh mâu thuẫn do anh M hay rượu chè, vợ chồng thường xảy ra tranh cãi, mâu thuẫn bất hòa. Chị và anh M đã sống ly thân khoảng 01 năm nay không ai quan tâm đến ai. Hiện nay chị đã đi làm tại khu công nghiệp N, chỉ thỉnh thoảng mới về. Mâu thuẫn giữa chị và anh M ngày càng trầm trọng không thể hàn gắn được, chị xin được ly hôn anh M.

Về con chung: Vợ chồng chị có 02 con chung là cháu Đàm Mạnh Q, sinh ngày 27/11/2011 và cháu Đàm Bảo K, sinh ngày 08/8/2016, hiện hai cháu có lúc sống cùng chị, có lúc sống cùng anh M. Khi ly hôn, chị đồng ý để anh M nuôi cả 02 con chung, chị cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh M là 1.200.000đ/cháu/tháng. Tại phiên tòa, chị thừa nhận hai con chung hiện đang sống cùng anh M và nhất trí tự nguyện nộp toàn bộ án phí cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức đóng góp: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án anh Đàm Văn M trình bày:

Anh và chị Lê Thị Nha T đăng ký kết hôn với nhau ngày 05/12/2011, tại UBND phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, do hai bên tự nguyện. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ của anh tại tổ F, khu dân cư T, phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ. Tình cảm vợ chồng hòa thuận. Mâu thuẫn vợ chồng phát sinh khoảng 3-4 năm trở lại đây do chị T thường xuyên đi làm xa không quan tâm đến chồng con, anh buồn nên nhiều khi cũng hay rượu chè. Vợ chồng thỉnh thoảng cãi nhau, hai bên gia đình cũng có khuyên giải hai vợ chồng. Nay chị T xin ly hôn, anh mong muốn vợ chồng đoàn tụ để nuôi dạy 2 con. Nếu chị T kiên quyết xin ly hôn, anh cũng nhất trí.

Về con chung: Vợ chồng anh có 02 con chung là cháu Đàm Mạnh Q, sinh ngày 27/11/2011 và cháu Đàm Bảo K, sinh ngày 08/8/2016. Khi ly hôn, anh mong muốn bố hoặc mẹ là người nuôi dạy cả hai cháu để hai cháu không phải tách xa nhau. Người không trực tiếp nuôi con, phải cấp dưỡng tiền nuôi con chung cho bên kia. Tại buổi hòa giải ngày 19/7/2024, anh M có quan điểm nhất trí anh trực tiếp nuôi con chung và chị T cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh là 1.200.000đ/cháu/tháng.

Về tài sản chung, công nợ chung, công sức: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phú Thọ phát biểu quan điểm:

- Về tố tụng: Quá trình Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án của Thẩm phán, thư ký Tòa án và của HĐXX, việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn kể từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa đã tiến hành đúng thủ tục tố tụng và quy định của Pháp luật. Anh M (bị đơn) tham gia hòa giải 01 lần nhưng không tham gia phiên tòa là chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng được quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điểm a khoản 5, điểm b, khoản 6 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

+ Quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Nha T được ly hôn anh Đàm Văn M.

+ Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận của các đương sự: anh Đàm Văn M trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đàm Mạnh Q, sinh ngày 27/11/2011 và cháu Đàm Bảo K, sinh ngày 08/8/2016, đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Chị T cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh M là 1.200.000đ/cháu/tháng, kể từ tháng 9/2024 cho đến khi con chung thành niên và có khả năng lao động. Việc cấp dưỡng nuôi con được thực hiện hàng tháng.

+ Về tài sản chung, công nợ, công sức: không xem xét giải quyết do các đương sự không yêu cầu.

+ Về án phí: Chị T phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được xem xét tại phiên toà. Trên cơ sở xem xét toàn diện các chứng cứ, lời trình bày của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp ly hôn giữa chị Lê Thị Nha T và anh Đàm Văn M là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án. Anh M có hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay tại phường H, thị xã P, tỉnh Phú Thọ nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ theo quy định tại khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35 và khoản 1 điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

Quá trình giải quyết vụ án, anh M có đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải lần thứ nhất, đến phiên hòa giải thứ hai thì anh M vắng mặt không lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.

Tại phiên tòa, anh M vắng mặt lần thứ hai không có lý do; chị T có mặt. Căn cứ điểm b, khoản 2, điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn (anh M) là đúng quy định của pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án:

* Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị Nha T và anh Đàm Văn M kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường P, thị xã P, tỉnh Phú Thọ, là hôn nhân hợp pháp. Chị T trình bày nguyên nhân dẫn đến ly hôn do anh M hay rượu chè, vợ chồng hay xảy ra tranh cãi, mâu thuẫn bất hòa. Qua xác minh, Chính quyền địa phương cho biết: Việc chị T và anh M xảy ra mâu thuẫn và xin ly hôn, chính quyền địa phương không nắm rõ nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng do anh chị không đề nghị hòa giải ở cơ sở, đề nghị Tòa án giải quyết vụ việc theo quy định pháp luật trên cơ sở bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của công dân.

Anh M cho rằng mâu thuẫn vợ chồng phát sinh khoảng 3-4 năm trở lại đây do chị T thường xuyên đi làm xa không quan tâm đến chồng con, anh chán đời nên nhiều khi cũng hay rượu chè. Vợ chồng thỉnh thoảng cãi nhau. Quá trình Tòa án báo gọi anh M đến Tòa án để thực hiện thủ tục hòa giải nhưng anh M cố tình vắng mặt, không tham gia hòa giải. Điều đó chứng tỏ việc anh M xin đoàn tụ là chưa thật tâm. Chị T kiên quyết xin ly hôn anh M. Có thể thấy tình cảm vợ chồng chị T và anh M không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Xét nên xử cho chị T được ly hôn anh M là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

* Về con chung: Vợ chồng chị T và anh M có 02 con chung là cháu Đàm Mạnh Q, sinh ngày 27/11/2011 và cháu Đàm Bảo K, sinh ngày 08/8/2016. Tòa án nhân dân thị xã Phú Thọ đã tiến hành lấy ý kiến của cháu Q và cháu K. Cháu Q có nguyện vọng muốn ở cùng với bố, còn cháu K có nguyện vọng được ở cùng với cả bố và mẹ; Chị T đề nghị giao cho anh M nuôi 02 con chung và chị cấp dưỡng nuôi con là 1.200.000đ/cháu/tháng. Tại buổi hòa giải ngày 19/7/2024, anh M có quan điểm nhất trí anh trực tiếp nuôi con chung và chị T cấp dưỡng tiền nuôi con chung cùng anh là 1.200.000đ/cháu/tháng. Đề nghị của chị T và anh M là phù hợp cần chấp nhận sự thống nhất này của các đương sự.

* Về tài sản chung, công nợ (nghĩa vụ chung về tài sản), công sức: hai bên không đề nghị Tòa án giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[3] Về án phí: Chị T phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm. Chị T và anh M thống nhất được về người trực tiếp nuôi con và nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con. Tại phiên tòa, chị T nhất trí tự nguyện nộp toàn bộ án phí nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 điều 51, khoản 1 điều 56, điều 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 1 điều 28, khoản 1 điều 35, điểm a khoản 1 điều 39, khoản 4 điều 147; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 điều 228; điều 271, điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5, điểm b khoản 6 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

[1]. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lê Thị Nha T được ly hôn anh Đàm Văn M.

[2]. Về con chung: Công nhận sự thỏa thuận giữa chị Lê Thị Nha T và anh Đàm Văn M: Anh Đàm Văn M trực tiếp nuôi dưỡng 02 con chung là Đàm Mạnh Q, sinh ngày 27/11/2011 và Đàm Bảo K, sinh ngày 08/8/2016. Chị Lê Thị Nha T cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh M là 1.200.000đ/cháu/tháng, hai cháu là 2.400.000đ/ tháng, kể từ tháng 9/2024 cho đến khi từng con chung trưởng thành, lao động tự túc được. Việc cấp dưỡng nuôi con được thực hiện hàng tháng. Chị T có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng giáo dục con chung không ai được cản trở.

Trường hợp được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu yêu cầu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

[3]. Về tài sản chung, công nợ, công sức: Các đương sự không đề nghị Tòa án giải quyết.

[4] Về án phí: Chị Lê Thị Nha T phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm và 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con, tổng là 450.000₫ (Bốn trăm năm mươi nghìn đồng) nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0005316 ngày 04/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Phú Thọ, tỉnh Phú Thọ. Chị T còn phải nộp 150.000đ (Một trăm năm mươi nghìn đồng).

Chị Lê Thị Nha T có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Đàm Văn M vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh PT
  • - VKSND thị xã Phú Thọ;
  • - Các Đương sự;
  • - Chi cục THADS tx Phú Thọ;
  • - UBND phường Phong Châu.
  • - Lưu HS; VP.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Trần Thị Lệ Thanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 10/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ về tranh chấp hôn nhân gia đình

  • Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hôn nhân gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHÚ THỌ - TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger