TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2024/HNGĐ-ST Ngày 04-01-2024 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Trần Duyên Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- 1. Ông Nguyễn Văn Sỹ.
- 2. Ông Phạm Ngọc Đông.
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Quang Trí là Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định tham gia phiên tòa: Bà Tô Thị Bích Trâm – Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 01 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 1054/2023/TLST- HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 356/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 11 năm 2023 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Vũ Minh T, nơi cư trú: Tổ A, khu phố G, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Vắng mặt.
2. Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Lệ T1, nơi cư trú: Tổ A, khu phố G, phường B, thành phố Q, tỉnh Bình Định. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 20 tháng 7 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Vũ Minh T trình bày:
Anh và chị Nguyễn Thị Lệ T1 tự nguyện tìm hiểu và đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Định vào ngày 05-4-2005. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống hạnh phúc đến tháng 12-2022 phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do chị T1 không lo làm ăn, lại cờ bạc dẫn đến nợ nần, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm, đánh đập nhau. Vợ chồng anh đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Nay tình cảm, trách nhiệm vợ chồng không còn nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
Vợ chồng anh có 02 con chung tên là Vũ Thị Lan A (sinh ngày 15-8-2005) và Vũ Thị Hương G (sinh ngày 16-11-2009), sức khỏe bình thường. Hiện nay, cháu Lan A đã trưởng thành nên anh không yêu cầu giải quyết; còn cháu Hương G đang ở với chị T1, anh thống nhất giao cháu Hương G cho chị T1 được trực tiếp nuôi dưỡng và anh tự nguyện cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.000.000 đồng cho tới khi con đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, vợ chồng anh tự giải quyết, anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản khai đề ngày 26 tháng 10 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn chị Nguyễn Thị Lệ T1 trình bày:
Chị thống nhất về thời gian, điều kiện kết hôn và con chung như anh Vũ Minh T trình bày. Sau khi kết hôn, vợ chồng chị chung sống hạnh phúc đến tháng 3-2023 phát sinh mâu thuẫn và đã sống ly thân từ đó cho đến nay. Nguyên nhân là do anh T không quan tâm đến gia đình, vợ con và không đưa tiền để chị nuôi con; ngoài ra, anh T còn có quan hệ bất chính với người đàn bà khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm, đánh đập nhau, có lần anh T đánh chị phải nhập viện. Nay chị không đồng ý ly hôn với anh T vì các con còn nhỏ. Nếu ly hôn thì chị yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Vũ Thị Hương G và yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 3.000.000 đồng cho đến khi con đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, vợ chồng chị tự giải quyết, chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Tại bản khai đề ngày 26 tháng 10 năm 2023, cháu Vũ Thị Hương G trình bày: Cha cháu là Vũ Minh T, mẹ cháu là Nguyễn Thị Lệ T1. Hiện nay, cháu đang ở với mẹ. Nếu cha mẹ cháu ly hôn thì nguyện vọng của cháu muốn được ở với mẹ.
* Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát:
Về tố tụng: Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ được quy định tại các Điều 70, 71, 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về giải quyết vụ án: Căn cứ vào các Điều 51, 56, 81, 107, 110, 116 của Luật Hôn nhân và Gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Vũ Minh T được ly hôn chị Nguyễn Thị Lệ T1.
- - Về con chung: Giao cháu Vũ Thị Hương G (sinh ngày 16-11-2009) cho chị Nguyễn Thị Lệ T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Vũ Minh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Vũ Thị Hương G mỗi tháng là 3.000.000 đồng cho đến khi cháu G đủ 18 tuổi.
- - Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét, giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Nguyên đơn anh Vũ Minh T yêu cầu Tòa án giải quyết việc ly hôn và nuôi con chung với bị đơn chị Nguyễn Thị Lệ T1. Tại phiên tòa lần thứ nhất, anh T có mặt còn chị T1 vắng mặt không có lý do. Tại phiên tòa lần thứ hai hôm nay, anh T vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt còn chị T1 có mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định vụ án hôn nhân gia đình có quan hệ pháp luật là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định và phiên tòa vẫn tiến hành xét xử theo quy định.
[2] Anh Vũ Minh T và chị Nguyễn Thị Lệ T1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, không vi phạm điều kiện kết hôn, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã B, huyện T, tỉnh Bình Định vào ngày 05-4-2005, nên hôn nhân giữa anh T và chị T1 là hôn nhân hợp pháp. Trong thời gian chung sống, giữa anh T và chị T1 đã phát sinh nhiều mâu thuẫn, đỉnh điểm là vào cuối năm 2022. Nguyên nhân mâu thuẫn theo lời khai của anh T và chị T1 là có khác nhau nhưng đều thể hiện một thực trạng chung là vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm nhau, sử dụng bạo lực đối với nhau, vợ chồng đã không còn chung sống với nhau từ tháng 3-2023 đến nay. Tòa án đã kiên trì động viên hòa giải nhưng anh T vẫn cương quyết ly hôn vì thấy rằng tình cảm, trách nhiệm vợ chồng không còn; còn chị T1 không đồng ý ly hôn vì các con còn nhỏ. Rõ rằng, sự vi phạm nghiêm trọng về quyền và nghĩa vụ của vợ, chồng nêu trên đã làm cho hôn nhân giữa anh T và chị T1 lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Cho nên, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận giải quyết cho T được ly hôn chị T1.
[3] Anh Vũ Minh T và chị Nguyễn Thị Lệ T1 thống nhất có 02 con chung là Vũ Thị Lan A (sinh ngày 15-8-2005) và Vũ Thị Hương G (sinh ngày 16-11-2009), sức khỏe của các con bình thường. Hiện nay, cháu Lan A đã trưởng thành nên có quyền tự quyết định ở với cha hoặc mẹ, anh T không yêu cầu giải quyết; còn cháu Hương G đang ở với mẹ. Chị T1 tuy không muốn ly hôn nhưng bày tỏ ý kiến muốn nuôi cháu Hương G nếu vợ chồng ly hôn và yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Hương G mỗi tháng là 3.000.000 đồng cho đến khi cháu Hương G đủ 18 tuổi. Nguyện vọng của cháu Hương G cũng muốn ở với mẹ khi cha mẹ ly hôn. Anh T thống nhất về vấn đề nuôi cháu Hương G như chị T1 yêu cầu. Xét điều kiện, hoàn cảnh của các bên và nguyện vọng của con chung, trên cơ sở bảo đảm quyền lợi về mọi mặt của con chưa thành niên, căn cứ vào Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận giao cháu Hương G cho chị T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu Hương G hàng tháng mỗi tháng là 3.000.000 đồng, kể từ tháng 01-2024 cho đến khi cháu Hương G đủ 18 tuổi.
[4] Về tài sản, các đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[5] Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Anh T phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp; anh T còn phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.
[6] Ý kiến của Kiểm sát viên về giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng:
- - Khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- - Khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 110, Điều 116, Điều 117 của Luật Hôn nhân và Gia đình;
- - Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa anh Vũ Minh T và chị Nguyễn Thị Lệ T1.
- Về nuôi con chung:
- Giao Vũ Thị Hương G (sinh ngày 16-11-2009), đang ở với mẹ, cho chị Nguyễn Thị Lệ T1 trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.
- Anh Vũ Minh T có nghĩa vụ cấp dưỡng hàng tháng nuôi cháu Vũ Thị Hương G mỗi tháng là 3.000.000 đồng, kể từ tháng 01-2024 cho đến khi cháu Hương G đủ 18 tuổi.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở; nếu lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc nuôi con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Vì lợi ích của con, các bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án đối với khoản tiền phải trả cho người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Anh Vũ Minh T phải chịu án phí về ly hôn là 300.000 đồng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0000824 ngày 25 tháng 10 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Anh Vũ Minh T phải chịu án phí về cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đồng.
- Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
| Hà Trần Duyên Anh |
Nơi nhận:
- - Đương sự;
- - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Định;
- - Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn;
- - Chi cục Thi hành án dân sự Tp. Quy Nhơn;
- - UBND xã Bình Thuận, huyện Tây sơn, tỉnh Bình Định;
- - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA | |
| Hà Trần Duyên Anh |
Bản án số 12/2024/HNGĐ-ST ngày 04/01/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 12/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/01/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN, TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn và nuôi con
