TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 12/2024/HNGĐ-PT
Ngày: 31/7/2024
V/v “Chia tài sản chung sau ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Tấn Hoàng
Các Thẩm phán: Bà Vũ Ngọc Hà và bà Lê Thị Thái Lan
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Tiểu Linh Đan - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên: Bà Ninh Thị Huyền - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên, mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 07/2024/HNGĐ-PT ngày 08/5/2024 về việc “Chia tài sản chung sau ly hôn”. Do Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số: 19/2024/DS-ST ngày 29/3/3024 của Toà án nhân dân huyện Tây Hòa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 13/2024/QĐXXPT-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2024/QĐPT-HNGĐ ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Gia B, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Bị đơn: Chị Lê Kim U, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; đang tạm trú tại: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Cao Thị S sinh năm 1962; nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; có mặt.
- Anh Trần Lê X, sinh năm 1997; ông Trần Văn C, sinh năm 1967; bà Lê Thị L, sinh năm 1970; đồng cư trú tại: Thôn M, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; bà L có mặt; anh X và ông C vắng mặt.
5. Người kháng cáo: Bị đơn bà Lê Kim U.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 25/12/2023, tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa nguyên đơn Trần Gia B trình bày: Anh và chị Lê Kim U đã ly hôn, nhưng tài sản chung chưa chia nên anh yêu cầu cụ thể như sau: 01 ngôi nhà gắn liền quyền sử dụng đất tọa lạc tại thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Nguồn gốc của ngôi nhà là do mua lại của bà Cao Thị S (Mẹ đẻ của chị U) vào năm 2021 với giá 1.100.000.000đ. Trong số tiền mua nhà gắn liền quyền sử dụng đất có 400.000.000₫ là tài sản riêng của anh; tiền và vàng hai bên gia đình cho khi kết hôn; tiền dành dụm được và vay mượn thêm để giao đủ cho bà S. Đất đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên Lê Kim U và Trần Gia B. Ngoài ra vợ chồng còn nợ vợ chồng bà Lê Thị L và ông Trần Văn C 10 chỉ vàng y (24k) loại 9999 và 260.000.000đ; nợ của anh Trần Lê X 100.000.000đ; nên anh yêu cầu phân chia tài sản chung và nợ theo quy định của pháp luật, anh xin nhận nhà đất và trả nợ cho vợ chồng bà L; anh X số còn lại trả cho chị U theo tỷ lệ 1/2.
Tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa chị Lê Kim U trình bày: Sau khi kết hôn chị và anh B có nhận chuyển nhượng một thửa đất ở Bình Dương với giá 600.000.000₫ trong đó gồm: Tiền riêng của anh B 200.000.000đ đã được nhập vào tài sản chung; tiền, vàng hai bên gia đình cho khi tổ chức kết hôn và khoản tiền vàng mượn gia đình anh B. Do điều kiện nên vào năm 2021 vợ chồng anh đã chuyển nhượng thửa đất này cho người khác với giá 650.000.000đ, tích góp và vay thêm một số người mua lại ngôi nhà của bà Cao Thị S (Mẹ đẻ của chị) với giá 1.100.000.000đ, thực tế thời điểm mua bán ngôi nhà là 1.500.000.000đ nhưng bà S giảm xuống 400.000.000đ, mục đích là cho riêng chị 400.000.000đ nên khi làm hợp đồng chỉ ghi là tặng cho quyền sử dụng đất chứ không ghi chuyển nhượng hoặc mua bán; anh B cho rằng tiền riêng của anh 400.000.000₫ là không đúng mà chỉ có 200.000.000đ, nhưng đã nhập vào tài sản chung trong thời kỳ hôn nhân còn anh B đòi công sức bảo quản, tôn tạo cũng không có cơ sở, đối với các khoản nợ chị thống nhất như anh B trình bày. Do đó chị yêu cầu phân chia tài sản theo pháp luật, chị xin nhận hiện vật để có chỗ ở nuôi con còn nhỏ và anh B phải trả lại chị 400.000.000đ về khoản mẹ chị tặng cho khi bán nhà gắn liền quyền sử dụng đất.
Tài liệu có tại hồ sơ người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Trần Lê X trình bày: Anh là em ruột của anh B, trong quá trình sống chung anh B và chị U có vay anh 100.000.000₫ nên phải trả lại cho anh.
Tài liệu có tại hồ sơ và tại phiên tòa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vợ chồng bà Lê Thị L và anh Trần Văn C trình bày: Anh B là con đẻ của ông bà. Trong thời gian sống chung, vợ chồng B, U có vay của ông bà 10 chỉ vàng Y loại 9999 và 260.000.000đ nên yêu cầu hai bên phải trả lại cho ông bà.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số: 19/2024/NHGĐ-ST ngày 29/3/2024 của Toà án nhân dân huyện Tây Hòa đã quyết định:
Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 59, 62, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 463, 466, 469 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu của các đương sự:
- Giao cho anh Trần Gia B được sử dụng diện tích 200m² đất ONT, thuộc thửa số 1671, tờ bản đồ số 13 (đo đạc năm 2016), đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 820802 ngày 26 tháng 9 năm 2022, vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS 02101 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P cấp cho chị Lê Kim U, anh Trần Gia B.
Đất tọa lạc tại thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; có giới cận: Phía nam giáp đường đi (Đường Đ); phía bắc giáp đất ông Nguyễn L1 (thửa số 945); phía đông giáp đất bà Võ Thị Thu N (thửa đất số 981); phía tây giáp đất ông Ngô Ngọc B1 (thửa đất số 979).
(Có sơ đồ kèm theo)
- Giao cho anh Trần Gia B được sở hữu toàn bộ nhà, vật kiến trúc xây dựng trên thửa đất trên.
Nhà, đất, vật kiến trúc xây dựng trên đất có tổng giá trị: 1.745.436.000đ (Một tỉ bảy trăm bốn mươi lăm triệu bốn trăm ba mươi sáu nghìn đồng).
Anh Trần Gia B có trách nhiệm liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký kê khai tài sản theo quy định.
(Toàn bộ nhà, đất, anh Trần Gia B đã quản lý).
- Chị Lê Kim U có trách nhiệm giao cho anh Trần Gia B bản gốc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 820802 ngày 26 tháng 9 năm 2022, vào sổ cấp giấy chứng nhận số CS 02101 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P cấp cho chị Lê Kim U, anh Trần Gia B.
- Anh Trần Gia B có trách nhiệm trả toàn bộ số nợ chung, cụ thể:
- Trả cho vợ chồng ông Trần Văn C, bà Lê Thị L: 10 (mười) chỉ vàng 24k loại 9999 và 260.000.000₫ (Hai trăm sáu mươi triệu đồng).
- Trả cho anh Trần Lê X số tiền: 100.000.000đ (Một trăm triệu đồng).
- Anh Trần Gia B có trách nhiệm trả chênh lệch tài sản cho bà Lê Kim U số tiền: 558.718.000đ (Năm trăm năm mươi tám triệu bảy trăm mười tám nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án, nghĩa vụ chậm trả chịu án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo của các đương sự.
Ngày 12/4/2024 bị đơn Lê Kim U kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu triệu tập bà Cao Thị S tham gia khi xét xử phúc thẩm, cần làm rõ số tiền 200.000.000đ vì khoản tiền này đã nhập vào tài sản chung; nhà vật kiến trúc xây dựng trên đất có giá trị 145.346.312 là của cha mẹ chị U cho riêng nên không phải là tài sản chung; chị U là phụ nữ đang nuôi con nhỏ đang ở nhà trọ nên phải nhận hiện vật; làm rõ khoản tiền bà S bán nhà giảm xuống 400.000.000đ mục đích là cho riêng chị U.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Hai bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án, giao nhà vật kiến trúc gắn liền quyền sử dụng đất 200m² đất ở nông thôn cho chị Lê Kim U sở hữu, chị U có trách nhiệm trả lại cho anh Trần Gia B ½ giá trị nhà và đất; chị U và anh B mỗi người phải trả nợ cho anh anh Trần Lê X và vợ chồng bà Lê Thị L mỗi người ½.
- Kiểm sát viên phát biểu ý kiến của Viện kiểm sát về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án ở giai đoạn phúc thẩm của Thẩm phán, HĐXX, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Về nội dung: Tại phiên tòa các bên đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án nên được ghi nhận, cần sửa bản án sơ thẩm công nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến các bên đương sự, kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về thủ tục tố tụng: Bị đơn kháng cáo và nộp tiền tạm ứng án phí phúc thẩm trong hạn luật định là kháng cáo hợp lệ được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
- Về nội dung:
Tại phiên tòa các bên đương sự thỏa thuận về việc giải quyết vụ án, giao cho chị Lê Kim U được quyền sở hữu nhà, vật kiến trúc gắn liền quyền sử dụng đất tọa lạc tại thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên, nhưng chị U phải trả chênh lệch giá trị nhà cho anh Trần Gia B 872.718.000đ; về nợ chung chị U và anh B mỗi người phải trả cho vợ chồng bà Lê Thị L, Trần Văn C 05 chỉ vàng 24k và 130.000.000đ; mỗi người phải trả cho anh Trần Lê X 50.000.000đ. Đây là tình tiết mới phát sinh ở cấp phúc thẩm, nên cần sửa án sơ thẩm ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa phúc thẩm.
- Về án phí: Đương sự phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; sửa bản án sơ thẩm ghi nhận sự thỏa thuận của các đương sự tại phiên tòa.
Áp dụng các Điều 59, 62, 82 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 463, 466, 469 Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 27, 29 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Chị Lê Kim U được quyền sở hữu ngôi nhà, vật kiến trúc gắn liền quyền sử dụng đất diện tích 200m² đất ONT, thuộc thửa số 1671, tờ bản đồ số 13, được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DD 820802 ngày 26 tháng 9 năm 2022, vào sổ số CS 02101 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh P cấp cho chị Lê Kim U và anh Trần Gia B; tọa lạc tại thôn L, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; có giới cận: Đông giáp đất bà Võ Thị Thu N; tây giáp đất ông Ngô Ngọc B1; nam giáp đường ĐT645; bắc giáp đất ông Nguyễn L1 (Kèm theo sơ đồ hiện trạng do Công ty TNHH T1 lập ngày 26/01/2024).
- Chị Lê Kim U phải có nghĩa vụ trả khoản tiền chênh lệch chia tài sản chung cho anh Trần Gia B là 872.718.000đ (T trăm bảy mươi hai triệu bảy trăm mười tám ngàn đồng)
Chị U và anh B phải có trách nhiệm giao quyền sở hữu nhà gắn liền quyền sử dụng đất kèm theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và nghĩa vụ giao tiền đúng như nội dung trên. Chị Lê Kim U có quyền liên hệ các cơ quan có thẩm quyền để đăng ký, kê khai cấp lại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi có yêu cầu.
- Anh Trần Gia B, chị Lê Kim U mỗi người phải trả cho vợ chồng bà Lê Thị L, ông Trần Văn C 05 (năm) chỉ vàng 24k và 130.000.000đ (Một trăm ba mươi triệu đồng); về khoản vay tài sản.
- Anh Trần Gia B, chị Lê Kim U mỗi người phải trả cho anh Trần Lê X 50.000.000đ(Năm mươi triệu đồng); về khoản vay tài sản.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Về án phí:
Anh Trần Gia B phải chịu 30.348.000đ án phí HNGĐ-ST. Đã nộp 1.000.000₫ tiền tạm ứng án phí ở biên lai thu tiền số 0012167 ngày 26/12/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, nên còn phải nộp 29.348.000₫ (Hai mươi chín triệu ba trăm bốn tám ngàn đồng).
Chị Lê Kim U phải chịu 30.348.000đ án phí HNGĐ-ST và 300.000₫ án phí HNGĐ-PT. Đã nộp 300.000đ tiền tạm ứng án phí ở biên lai thu tiền số 0000845 ngày 15/4/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Hòa; nên còn phải nộp 30.348.000₫ (Ba mươi triệu ba trăm bốn tám ngàn đồng).
H lại tiền tạm ứng án phí cho anh Trần Lê X: 2.500.000₫ (Hai triệu năm trăm nghìn đồng) đã nộp ở biên lai thu tiền số 0000780 ngày 07/3/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
- Về chi phí định giá, thẩm định tại chỗ: Anh Trần Gia B, chị Lê Kim U, mỗi người phải chịu: 3.500.000đ. Anh B đã nộp tạm ứng 7.000.000đ, nên chị U phải có trách nhiệm trả lại cho anh B 3.500.000đ (Ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Tấn Hoàng |
Bản án số 12/2024/HNGĐ-PT ngày 31/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về chia tài sản chung sau ly hôn
- Số bản án: 12/2024/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Chia tài sản chung sau ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 31/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ông Trần Gia B yêu cầu chia tài sản chung sau ly hôn bà Lê Kim U
