Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TRẢNG BOM

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/DSST

Ngày: 16-4-2024.

V/v: “Tranh chấp hợp đồng

tín dụng”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Bá Đức.

- Các Hội thẩm nhân dân:1/ Bà Đào Thị Giang.

2/ Ông Doãn Đức Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Hồng Phúc – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai: Ông Phạm Hữu Tình - Kiểm sát viên.

Trong ngày 16 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 484/2023/TLST- DS ngày 25 tháng 12 năm 2023, về việc: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 05/2024/QĐST-DS ngày 05 tháng 3 năm 2024 và quyết định hoãn phiên tòa số: 10/2024/QĐST- DS ngày 05 tháng 4 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP N1.

Địa chỉ: Số A T, phường L, quận H, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Phạm Quang D – Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền của ông D: Ông Trần Thành N – Giám đốc Ngân hàng TMCP N1 – chi nhánh Đ.

Người đại diện theo ủy quyền của ông N:

- Ông Phạm Minh K – Trưởng phòng giao dịch T

- Ông Lê Hoàng T – Cán bộ tín dụng

2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975.

Địa chỉ: Tổ E, khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

(Ông K, ông T có mặt, bà H vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Quá trình tố tụng tại Tòa án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Phạm Minh K, ông Lê Hoàng T trình bày:

Ngân hàng TMCP N1- Chi nhánh Đ – P (Gọi tắt là Ngân hàng) đã ký kết với bà Nguyễn Thị H Hợp đồng cho vay số 20220015/HĐTD/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022. Theo hợp đồng, Ngân hàng đồng ý cấp cho cho bà Nguyễn Thị H tổng số tiền vay là 7.000.000.000 VND (Bằng chữ: Bảy tỷ đồng), mục đích để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thửa đất số 45 tờ bản đồ số 22 xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Thời hạn cấp tín dụng: 180 tháng. Ngân hàng đã tiến hành giải ngân cho bà H tổng số tiền 7.000.000.000 VND tại Giấy nhận nợ số 01 ngày 25/01/2022, lãi suất theo quy định của Ngân hàng trong từng thời kỳ. Định kỳ vào ngày 26 hàng tháng, bà H có nghĩa vụ thanh toán một phần tiền gốc và lãi vay cho Ngân hàng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, từ ngày 26/09/2023 đến ngày 02/11/2023 bà H đã không thực hiện việc trả nợ gốc, lãi theo như thỏa thuận trong hợp đồng. Ngân hàng đã nhiều lần liên lạc bằng điện thoại và xuống nhà làm việc yêu cầu bà H thanh toán toàn bộ số tiền nợ gốc, lãi, lãi phạt cho Ngân hàng nhưng bà H đã thất hứa với Ngân hàng và đến nay bà H vẫn chưa thanh toán hết số nợ vay cho Ngân hàng. Tại biên bản làm việc ngày 06/10/2023 và ngày 09/10/2023 giữa Ngân hàng và bà Nguyễn Thị H thì bà H cam kết trả nợ cho ngân hàng, tuy nhiên cho đến nay, Ngân hàng vẫn chưa nhận được đầy đủ khoản thanh toán khoản tiền nợ gốc, lãi, lãi phạt từ bà H.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, bà H có thế chấp Quyền sử dụng đất tại thửa đất số thửa đất 45, tờ bản đồ số 22, địa chỉ tại xã B, Huyện T, Tỉnh Đồng Nai, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DC 284614 cấp ngày 27/05/2021, số vào sổ cấp GCN: CS 10868 theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 20220015/HĐTC/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022 được công chứng tại Văn phòng C, huyện T, tỉnh Đồng Nai; số công chứng 000411, quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD.

Nay Ngân hàng TMCP N1 khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vấn đề sau:

- Buộc bà Nguyễn Thị H có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP N1 số tiền nợ tạm tính đến ngày 16/4/2024 là 6.686.084.027 đồng. Trong đó: nợ gốc là 6.261.038.380 đồng; dư nợ lãi là 409.890.209 đồng; lãi phạt trên nợ gốc quá hạn là 4.154.542 đồng; lãi phạt trên nợ lãi quá hạn là 11.000.896 đồng.

- Bà Nguyễn Thị H phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng TMCP N1 theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng tín dụng, kể từ ngày 17/4/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị H thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP N1.

- Trường hợp bà Nguyễn Thị H không thực hiện hoặc không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ trả nợ thì Ngân hàng TMCP N1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự xử lý tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa đất 45, tờ bản đồ số 22, địa chỉ tại xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DC 284614 cấp ngày 27/05/2021, số vào sổ cấp GCN: CS 10868 theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 20220015/HĐTC/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022 được công chứng tại Văn phòng C, huyện T, tỉnh Đồng Nai; số công chứng 000411, quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD.

Nếu số tiền thu được từ việc xử lý tài sản thế chấp không đủ trả nợ thì bà H vẫn phải tiếp tục trả nợ cho đến khi thanh toán hết số tiền nợ trên.

* Quá trình tố tụng, bị đơn – bà Nguyễn Thị H trình bày:

Ngày 25/01/2022 bà H có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần N1 - Chi nhánh Đ – Phòng G (Gọi tắt là Ngân hàng) để vay số tiền 7.000.000.000 đồng (Bảy tỷ đồng) theo Hợp đồng cho vay số 20220015/HĐTD/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022. Ngân hàng đã đồng ý cấp cho cho bà H tổng số tiền vay là 7.000.000.000 VND (Bằng chữ: Bảy tỷ đồng), mục đích để nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, thửa đất số 45 tờ bản đồ số 22 xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai. Thời hạn cấp tín dụng: 180 tháng. Ngân hàng đã tiến hành giải ngân cho bà H tổng số tiền 7.000.000.000 VND tại Giấy nhận nợ số 01 ngày 25/01/2022, lãi suất theo quy định của Ngân hàng trong từng thời kỳ. Định kỳ vào ngày 26 hàng tháng, bà H có nghĩa vụ thanh toán một phần tiền gốc và lãi vay cho Ngân hàng. Quá trình thực hiện hợp đồng, do gặp kinh tế gặp khó khăn nên từ ngày 26/09/2023 đến ngày 02/11/2023 bà H đã chậm thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng. Bà H thừa nhận tính đến ngày 05/3/2024 bà H còn nợ Ngân hàng số tiền 6.610.193.400 đồng (Trong đó: nợ gốc là 6.261.038.380 đồng; tiền lãi là 340.006.728 đồng; tiền lãi trên nợ gốc quá hạn là 2.558.090 đồng; tiền lãi trên nợ lãi quá hạn là 6.590.202 đồng). Bà Hiệp đồng ý trả số tiền này cho Ngân hàng và tiếp tục trả tiền lãi phát sinh theo thỏa thuận trong hợp đồng kể từ ngày 06/3/2024 cho đến khi trả hết nợ. Tuy nhiên do hiện nay kinh tế khó khăn, bà H không có nguồn nào để trả nợ nên bà H đề nghị Ngân hàng gia hạn cho bà H thời hạn để bà H chuẩn bị tiền để trả nợ cho Ngân hàng là 2 tháng kể từ ngày hôm nay. Nếu Ngân hàng không đồng ý với đề nghị của bà H thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Để đảm bảo cho khoản vay trên, bà H có thế chấp cho Ngân hàng Quyền sử dụng đất tại thửa đất số thửa đất 45, tờ bản đồ số 22, địa chỉ tại xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DC 284614 cấp ngày 27/05/2021, số vào sổ cấp GCN: CS 10868 theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 20220015/HĐTC/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022 được công chứng tại Văn phòng C, huyện T, tỉnh Đồng Nai; số công chứng 000411, quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD. Bà H đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật đối với tài sản đã thế chấp.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trảng Bom phát biểu quan điểm: Về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án được tiến hành theo quy định pháp luật.

Đối với việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử:

- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 đối với bà Nguyễn Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Buộc bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 các khoản nợ theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số: 20220015/HĐTD/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022:

+ Tổng số tiền nợ tính đến hết ngày 16/4/2024 của khoản vay theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số: 20220015/HĐTD/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022 được giao kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 với bà Nguyễn Thị H là: 6.686.084.027 đồng (Sáu tỷ sáu trăm tám mươi sáu triệu không trăm tám mươi tư ngàn không trăm hai mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 6.261.038.380 đồng (Sáu tỷ hai trăm sáu mươi mốt triệu không trăm ba mươi tám ngàn ba trăm tám mươi đồng), nợ lãi là 425.045.647 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm triệu không trăm bốn mươi lăm ngàn sáu trăm bốn mươi bảy đồng).

+ Tiền lãi phát sinh tiếp theo tính từ ngày 17/4/2024 cho đến khi trả hết các khoản nợ trên theo lãi suất đã được thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số: 20220015/HĐTD/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022 được giao kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 với bà Nguyễn Thị H.

+ Trong trường hợp bà Nguyễn Thị H không thanh toán đầy đủ dư nợ gốc và lãi phát sinh thì Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 45, tờ bản đồ số 22, địa chỉ tại xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DC 284614 cấp ngày 27/05/2021, số vào sổ cấp GCN: CS 10868 theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 20220015/HĐTC/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022 được công chứng tại Văn phòng C, huyện T, tỉnh Đồng Nai: số công chứng 000411, quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD.

+ Trong trường hợp phát mãi tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết nợ gốc và lãi cho Ngân hàng thì bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm tiếp tục thanh toán phần nợ còn thiếu và lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số: 20220015/HĐTD/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022 cho đến khi bà Nguyễn Thị H trả hết nợ.

- Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

- Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14, buộc bà Nguyễn Thị H phải nộp án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

1.1. Về thẩm quyền: Các bên tranh chấp về hợp đồng tín dụng, bị đơn cư trú tại tổ E, khu phố C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên theo quy định tại Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án trên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

1.2. Về quan hệ pháp luật: Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 khởi kiện yêu cầu bà Nguyễn Thị H thực hiện nghĩa vụ thanh toán đối với hợp đồng tín dụng đã ký kết nên đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.

1.3. Về thủ tục ủy quyền: Người đại diện theo pháp luật Ngân hàng Thương mại Cổ phần N1 ông Phạm Quang D – Chủ tịch Hội đồng quản trị ủy quyền cho ông Trần Thành N – Giám đốc Ngân hàng TMCP N1 – chi nhánh Đ (Theo giấy ủy quyền số: 61/UQ-VCB-PC ngày 13/02/2023). Ông Trần Thành N ủy quyền cho ông Phạm Minh K – Trưởng phòng G và ông Lê Hoàng T – Cán bộ tín dụng(Theo Giấy ủy quyền số 66/UQ-VCB-ĐĐN ngày 19/12/2023) theo quy định pháp luật.

1.4. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ lần thứ hai đối với bị đơn bà Nguyễn Thị H nhưng vẫn vắng mặt không có lý do nên căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xết xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.

[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 đã ký kết Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số: 20220015/HĐTD/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022. Ngày 25/01/2022, Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 đã giải ngân theo Giấy nhận nợ số 01 với số tiền 7.000.000.000 đồng (Bảy tỷ đồng). Theo Hợp đồng định kỳ vào ngày 26 hàng tháng, bà H có nghĩa vụ thanh toán một phần tiền gốc và lãi vay cho Ngân hàng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng từ ngày 26/09/2023 đến ngày 02/11/2023 bà H đã không thực hiện việc trả nợ gốc, lãi theo như thỏa thuận trong hợp đồng. Bà H vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Nguyễn Thị H phải thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 số tiền tổng cộng là: 6.686.084.027 đồng (Sáu tỷ sáu trăm tám mươi sáu triệu không trăm tám mươi tư ngàn không trăm hai mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 6.261.038.380 đồng (Sáu tỷ hai trăm sáu mươi mốt triệu không trăm ba mươi tám ngàn ba trăm tám mươi đồng), nợ lãi là 425.045.647 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm triệu không trăm bốn mươi lăm ngàn sáu trăm bốn mươi bảy đồng).

H xác định, bà H có ký hợp đồng tín dụng với Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 vào ngày 25/01/2022. Khi vay bà H có thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đối với thửa đất số 45, tờ bản đồ số 22, địa chỉ tại xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DC 284614 cấp ngày 27/05/2021, số vào sổ cấp GCN: CS 10868 theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 20220015/HĐTC/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022 được công chứng tại Văn phòng C, huyện T, tỉnh Đồng Nai: số công chứng 000411, quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD. Tuy nhiên do hiện nay kinh tế khó khăn, bà H không có nguồn nào để trả nợ nên bà H đề nghị Ngân hàng gia hạn để bà H chuẩn bị tiền để trả nợ cho Ngân hàng. Nếu Ngân hàng không đồng ý với đề nghị của bà H thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Xét thấy, đối với Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số: 20220015/HĐTD/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022 được giải ngân theo theo Giấy nhận nợ số 01 ngày 25/01/2022 giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 với bà Nguyễn Thị H là có thật nên Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 khởi kiện yêu cầu bà H phải trả là 6.261.038.380 đồng (Sáu tỷ hai trăm sáu mươi mốt triệu không trăm ba mươi tám ngàn ba trăm tám mươi đồng), nợ lãi là 425.045.647 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm triệu không trăm bốn mươi lăm ngàn sáu trăm bốn mươi bảy đồng) là có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

Ngoài ra, khi các bên ký hợp đồng tín dụng, để đảm bảo khoản nợ vay theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số: 20220015/HĐTD/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022, bên thế chấp bà Nguyễn Thị H đã đồng ý thế chấp tài sản là Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 45, tờ bản đồ số 22, địa chỉ tại xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DC 284614 cấp ngày 27/05/2021, số vào sổ cấp GCN: CS 10868 theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 20220015/HĐTC/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022 được công chứng tại Văn phòng C, huyện T, tỉnh Đồng Nai: số công chứng 000411, quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD. Xét thấy, Hợp đồng thế chấp nêu trên được công chứng, được đăng ký thế chấp phù hợp quy định tại Điều 9, Điều 12 Nghị định số 163/2006/NĐ - CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ về giao dịch bảo đảm; Điều 298, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 327 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về thế chấp tài sản và hình thức thế chấp tài sản. Tại Điều 1 Hợp đồng thế chấp thể hiện nội dung nghĩa vụ được bảo đảm: bên thế chấp tự nguyện đem tài sản thế chấp cho Ngân hàng để đảm bảo cho nghĩa vụ trả nợ của bên vay tại các hợp đồng tín dụng được ký giữa bên Ngân hàng và bên vay. Hiện nay bên vay vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền vay, bên Ngân hàng yêu cầu phát mãi tài sản bảo đảm là toàn bộ Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: 45, tờ bản đồ số 22, địa chỉ tại xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai nên theo quy định tại Điều 58, Điều 59 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính Phủ về giao dịch bảo đảm và Điều 293, Điều 299, Điều 325 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định về xử lý tài sản thế chấp nên có cơ sở đề Hội đồng xét xử xem xét.

Đối với yêu cầu tiếp tục tính lãi, phí phát sinh kể từ ngày 17/4/2024 cho đến khi bà Nguyễn Thị H thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Hợp đồng đã ký là có căn cứ để Hội đồng xét xử xem xét.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bà Nguyễn Thị H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 tổng số tiền theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số: 20220015/HĐTD/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022 là 6.261.038.380 đồng (Sáu tỷ hai trăm sáu mươi mốt triệu không trăm ba mươi tám ngàn ba trăm tám mươi đồng), nợ lãi là 425.045.647 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm triệu không trăm bốn mươi lăm ngàn sáu trăm bốn mươi bảy đồng).

Nguyễn Thị H có nghĩa vụ thanh toán số nợ lãi tiếp tục phát sinh kể từ ngày 17/4/2024 trở đi theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số: 20220015/HĐTD/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022 cho đến khi trả hết nợ gốc và lãi

Trường hợp bà Nguyễn Thị H không thanh toán đầy đủ dư nợ gốc và lãi phát sinh thì Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số: thửa đất số 45, tờ bản đồ số 22, địa chỉ tại Xã B, Huyện T, Tỉnh Đồng Nai, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DC 284614 cấp ngày 27/05/2021, số vào sổ cấp GCN: CS 10868 theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 20220015/HĐTC/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022 được công chứng tại Văn phòng C, huyện T, tỉnh Đồng Nai: số công chứng 000411, quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD do bà Nguyễn Thị HNgân hàng Thương mại cổ phần N1 – Phòng G để thu hồi nợ.

Trong trường hợp phát mãi tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết nợ gốc và lãi cho Ngân hàng thì bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm tiếp tục thanh toán phần nợ còn thiếu và lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số: 20220015/HĐTD/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022 cho đến khi bà Nguyễn Thị H trả hết nợ.

[3]. Về chi phí tố tụng: Buộc bà H phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 số tiền tạm ứng chi phí tố tụng về xem xét thẩm định tại chỗ là 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

[4]. Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn bà Nguyễn Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 114.686.084 đồng (Một trăm mười bốn triệu sáu trăm tám mươi sáu ngàn không trăm tám mươi tư đồng). Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 57.186.000 đồng (Năm mươi bảy triệu một trăm tám mươi sáu ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0006376 ngày 22/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

[5]. Đối với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 203, Điều 217, Điều 218, Điều 220, Điều 227, Điều 228, Điều 264, Điều 266, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Căn cứ Điều 293, Điều 298, Điều 299, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 327, Điều 357, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015; khoản 16 Điều 4, Điều 91 và Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 9, Điều 12, Điều 58 và Điều 59 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội khóa 14.

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 đối với bà Nguyễn Thị H về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”. Buộc bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 các khoản nợ theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số: 20220015/HĐTD/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022:

- Tổng số tiền nợ tính đến hết ngày 16/4/2024 của khoản vay theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số: 20220015/HĐTD/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022 được giao kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 với bà Nguyễn Thị H là: 6.686.084.027 đồng (Sáu tỷ sáu trăm tám mươi sáu triệu không trăm tám mươi tư ngàn không trăm hai mươi bảy đồng), trong đó nợ gốc là 6.261.038.380 đồng (Sáu tỷ hai trăm sáu mươi mốt triệu không trăm ba mươi tám ngàn ba trăm tám mươi đồng), nợ lãi là 425.045.647 đồng (Bốn trăm hai mươi lăm triệu không trăm bốn mươi lăm ngàn sáu trăm bốn mươi bảy đồng).

- Tiền lãi phát sinh tiếp theo tính từ ngày 17/4/2024 cho đến khi trả hết các khoản nợ trên theo lãi suất đã được thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số: 20220015/HĐTD/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022 được giao kết giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 với bà Nguyễn Thị H.

- Ngay sau khi bà Nguyễn Thị H thanh toán hết số nợ trên thì Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 có trách nhiệm hoàn trả lại toàn bộ giấy tờ pháp lý (Bản chính) liên quan đến tài sản thế chấp cho bà Nguyễn Thị H.

- Trong trường hợp bà Nguyễn Thị H không thanh toán đầy đủ dư nợ gốc và lãi phát sinh thì Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 được quyền yêu cầu cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản đảm bảo là toàn bộ quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất tại thửa đất số 45, tờ bản đồ số 22, địa chỉ tại xã B, huyện T, tỉnh Đồng Nai, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số DC 284614 cấp ngày 27/05/2021, số vào sổ cấp GCN: CS 10868 theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất số 20220015/HĐTC/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022 được công chứng tại Văn phòng C, huyện T, tỉnh Đồng Nai: số công chứng 000411, quyển số 01/2022/TP/CC-SCC/HĐGD.

- Trong trường hợp phát mãi tài sản thế chấp không đủ thanh toán hết nợ gốc và lãi cho Ngân hàng thì bà Nguyễn Thị H có trách nhiệm tiếp tục thanh toán phần nợ còn thiếu và lãi phát sinh theo Hợp đồng cho vay từng lần trung dài hạn số: 20220015/HĐTD/NHNT.TBOM ngày 25/01/2022 cho đến khi bà Nguyễn Thị H trả hết nợ.

2. Về chi phí tố tụng: Bà Nguyễn Thị H phải có nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng)

3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị H phải nộp án phí dân sự sơ thẩm là 114.686.084 đồng (Một trăm mười bốn triệu sáu trăm tám mươi sáu ngàn không trăm tám mươi tư đồng). Hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần N1 số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 57.186.000 đồng (Năm mươi bảy triệu một trăm tám mươi sáu ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0006376 ngày 22/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trảng Bom, tỉnh Đồng Nai.

4. Về quyền kháng cáo: Ông K, ông T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bà H vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Đồng Nai;

- VKSND huyện Trảng Bom;

- THADS huyện Trảng Bom;

- Đương sự;

- Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Bá Đức

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/DSST ngày 16/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 12/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/04/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRẢNG BOM, TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BA - DS - NH Ngoại thương VCB - Hiệp - T4-2024
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger