|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2024/DS-ST Ngày: 27-5-2024 V/v “T/c quyền sử dụng đất, huỷ văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, hủy văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Bích Hải
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Khánh Vinh
Ông Nguyễn Trần Hiếu
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa:
Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên.
Trong ngày 23 và 27 tháng 05 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số 03/2020/TLST-DS ngày 13 tháng 1 năm 2020 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, hủy văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 43/2023/QĐXXST - DS ngày 04 tháng 12 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1958.
Địa chỉ: Khu V T, phường P, quận Ô, Thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của ông T: Ông Trần Văn Á, sinh năm 1990.
Địa chỉ liên hệ: 116A đường T, phường H, quận N, thành phố Cần Thơ. (Theo Văn bản ủy quyền ngày 08/2/2021)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Võ Thái H – Công ty L4.
Địa chỉ: Số C T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
* Bị đơn: Ông Nguyễn Bá N, sinh năm 1964.
Địa chỉ: Khu V T, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của ông N: Ông Nguyễn Bá C, sinh năm 1961. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (Văn bản ủy quyền ngày 03/8/2018)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Vũ Ngọc C1, Văn phòng L5, Đoàn luật sư thành phố C. Địa chỉ: số A đường N, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị T1, sinh năm 1967. (vắng mặt)
- Bà Nguyễn Ngọc Tuyết L, sinh năm 1990. (có mặt)
- Nguyễn Bá K, sinh năm 2000.(có mặt)
- Ông Nguyễn Văn B, sinh năm 1957. Địa chỉ: khu V, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (vắng mặt)
- Văn phòng C4 (trước đây là Văn phòng C5). Địa chỉ: số C T, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ L1, sinh năm 1932 (chết năm 2019).
- Bà Nguyễn Thị Phương T2, sinh năm 1963;
- Bà Nguyễn Kim N1, sinh năm 1932;
- Ông Nguyễn Thanh T3, sinh năm 1964. Địa chỉ: F H, W Australia.
- Ủy ban nhân dân quận Ô, thành phố Cần Thơ.
- Văn phòng công chứng Nguyễn Hồng Ái A. Địa chỉ: số A Quốc lộ I, phường C, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (xin vắng mặt)
Cùng địa chỉ: Số D khu vực T, phường P, quận Ô thành phố Cần Thơ.
Địa chỉ: khu V, phường P, quận Ô, thành phố Cần Thơ.
Cùng địa chỉ: C Linderman Crescent H Australia.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện ngày 20/5/2018 và quá trình giải quyết vụ án, phía nguyên đơn trình bày: Nguồn gốc thửa đất 48, 50, 53 là của ông T4 (ông nội của ông T), đến năm 1992 thì bà K1 (con ông T4) được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 1997, bà K1 chết, không có chồng, không có con, không để lại di chúc nên những người thừa kế của bà K1 đã làm thủ tục giao cho ông T được hưởng di sản của bà K1 để tiếp tục thờ cúng tổ tiên.
Vào khoàng năm 1998, gia đình ông T cho ông N ở nhờ trên đất, do anh em trong dòng họ nên không làm giấy tờ. Sau đó ông N tự đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 28/9/2005. Theo tờ trình số 53/TTr-UBND ngày 03/02/2005 kết luận: giấy chứng nhận cấp cho ông N không đúng quy định, đã bị thu hồi và hủy theo đúng quy định.
Như vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho bà Nguyễn Thị K2 vẫn còn giá trị pháp lý. Bà K2 chỉ có một người thừa kế duy nhất là bà Nguyễn Thị Mỹ L1, bà L1 đã chuyển giao quyền thừa kế cho ông T. Nay ông T khởi kiện, yêu cầu ông N di dời trả lại thửa đất 48, 50, 53.
- Theo đơn phản tố ngày 19/4/2019 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Nguyễn Bá N trình bày: Nguồn gốc thửa đất 48, 50, 53 là đất hương hỏa của dòng tộc. Năm 1975, ông T4 thừa kế phần đất này, lúc này ông T4 tuổi cao sức yếu có ý định hiến đất cho chính quyền và giao cho bà K2 đứng ra làm thủ tục nhưng chưa thực hiện được.
Năm 1997, bà K2 chết, không có chồng con nên những người thừa kế ở hàng thứ 2 gồm bà C2, ông L2, ông T5, ông Đ, bà Y, bà L1, ông S đã thống nhất thỏa thuận, ký tên từ chối nhận di sản và lập văn bản “Giao quyền bảo quản canh tác và thừa kế” cho ông N là cháu trong họ tộc. Năm 2005, hộ ông N được cấp giấy chứng nhận.
Sau khi bà K2 chết, từ năm 1997 đến năm 2000 bà L1 quản lý, sử dụng đất. Từ năm 2000 đến năm 2015, ông N đứng tên và trực tiếp quản lý, canh tác, thừa kế phần đất hương hỏa. Năm 2013, ông T là con của ông T5 từ Úc về, năm 2015 lợi dụng bà L1 tuổi cao, bị bệnh tâm thần đã làm khống hồ sơ thừa kế, buộc bà L1 giao quyền thừa kế cho ông T. Do đó, ông N không đồng ý yêu cầu khởi kiện của ông T, đồng thời yêu cầu hủy văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế công chứng ngày 12/4/2017, hủy văn bản tự cho quyền hưởng di sản thừa kế công chứng ngày 08/3/2016.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Bà Lê Thị T1, bà Nguyễn Ngọc Tuyết L, ông Nguyễn Bá K trình bày: Năm 2000, họ tộc ông bà có ký tên trao quyền canh tác và thừa kế phần đất của bà Nguyễn Thị K2, có đầy đủ các anh chị em của bà K2 ký tên trao quyền thừa kế cho gia đình ông bà. Do đó, gia đình ông bà đã canh tác từ năm 2000 đến nay. Do vậy, nguyên đơn khởi khởi kiện đòi lại phần đất tranh chấp là không phù hợp với quy định của pháp luật. Các văn bản ông T nộp là hoàn toàn không đúng sự thật do bà Nguyễn Thị Mỹ L1 từ năm 2013 đã mất trí nhớ không đủ năng lực hành vi dân sự. Các ông bà thống nhất lời trình bày và yêu cầu của ông N, không trình bày gì thêm.
+ Ông Nguyễn Văn Bi trình bày: Năm 1950, gia đình ông B được ông Nguyễn Kim T6 cho ở nhờ trên đất. Đến năm 1995, bà K2 là con ruột ông T6 chính thức cho ở luôn và tách đất cho gia đình ông, hiện nay ông đã được cấp giấy chứng nhận và sử dụng ổn định.
+ Ông Nguyễn Thanh T3, bà Nguyễn Thị Phương T2, bà Nguyễn Kim N1 trình bày: Các ông bà đã tặng cho quyền hưởng di sản cho ông T, đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông T. Các ông bà xin vắng mặt.
Do hòa giải không thành nên Tòa án ra Quyết định đưa vụ án ra xét xử ngày 27/11/2023.
Tại phiên tòa;
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T – Luật sư Võ Thái H trình bày: Nguyên đơn yêu cầu ông Nguyễn Bá N di dời tài sản trên đất giao trả lại toàn bộ tổng diện tích đất tại các thửa đất 48, 50, 53, tọa lạc khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ, buộc bị đơn di dời tài sản vật kiến trúc ra khỏi phần đất tranh chấp, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thanh T. Ông N cho rằng phần đất tranh chấp đã được những người thừa kế của bà K2 giao cho ông N theo “Tờ giao quyền bảo quản, canh tác và thừa kế” ngày 07/8/2000, nên phản tố yêu cầu hủy văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế lập ngày 08/3/2016, hủy văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 12/4/2017. Tại phiên tòa, người đại diện cho bị đơn là ông Nguyễn Bá C thừa nhận văn bản được đánh máy gửi cho người thừa kế của bà K2 ký tên, sau đó mới đem đến xác nhận tại Ủy ban, việc này không chứng minh được người ký tên là các ông bà đã có tên trong tờ giao quyền ký, cũng như không có cơ sở xác định đã thể hiện ý chí của người ký tên, phía ông T không thừa nhận cha ông đã ký vào văn bản. Đồng thời ông C cũng thừa nhận ông N không phải là người thừa kế của bà K2 và ông T6 nên ông N không có tư cách hưởng di sản thừa kế. Do đó, ông T yêu cầu được giao tài sản để quản lý, bảo quản di sản là phù hợp, vì: Bà K2 là người sử dụng hợp pháp tài sản, đăng ký sổ mục kê, được cấp giấy chứng nhận, thừa kế tài sản của ông T6 không ai tranh chấp; trên đất có nhiều mồ mã của người thân trong gia đình ông T, có nhà thờ họ tộc của ông T nên ông N không có cơ sở xác lập quyền sở hữu theo quy định,
Ngoài ra bà Nguyễn Thị Mỹ L1 tuổi cao, sức yếu không thể canh tác phần đất đang quản lý nên nhờ ông Nguyễn Bá N vào canh tác đất và cho hưởng huê lợi, lúc ông N đến thì đã có nhà thờ, nhà ở. Ông C cũng trình bày khi gia đình ông N đến ở nhà đã có sẵn, chỉ vào ở, điều này chứng minh quyền sử dụng đất và tài sản trên đất không phải của ông N đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Nguyễn Văn Á1 trình bày: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tòa án thụ lý vụ án xác định quan hệ pháp luật tranh chấp quyền sử dụng đất là chưa phù hợp vì nguyên đơn khởi kiện yêu cầu đòi lại tài sản và phân chia di sản thừa kế.
Ông T đã cung cấp văn bản khai nhận di sản thừa kế, khi xác lập được niêm yết đúng theo quy định, theo khoản 1 điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, văn bản công chứng có giá trị chứng minh ông T được thừa kế tài sản là hợp pháp. Theo quy định tại điểm b khoản 3, khoản 4 Điều 104 Luật đất đai, yêu cầu khởi kiện của ông T là phù hợp với quy định của pháp luật.
Ông N phản tố yêu cầu hủy văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế lập ngày 08/3/2016, hủy văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 12/4/2017, nhưng ông N không phải là người thừa kế thuộc hàng thừa kế thứ hai của bà Nguyễn Thị Mỹ L1 nên không có quyền yêu cầu này.
Ông N dựa vào tờ giao quyền quản lý bảo quản, canh tác và thừa kế để thực hiện thủ tục đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng 2 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H00634 và H00635 do UBND quận Ô, thành phố Cần Thơ cấp cùng ngày 28/9/2005 cho ông Nguyễn Bá N đã bị UBND quận Ô, thành phố Cần Thơ ban hành quyết định thu hồi và hủy bỏ, quyết định đã có hiệu lực, đây là tình tiết không phải chứng minh theo điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự. Do vậy, tờ giao quyền quản lý bảo quản, canh tác và thừa kế cho ông N không có giá trị pháp lý; Tại phiên toà, ông C khai không biết ai lập và không biết ai ký, trong khi chính ông N là người đem giấy này đến ủy ban xác nhận, đồng thời những người ký tên trong tờ giao quyền có người đang định cư ở nước ngoài, có ý kiến nhưng chưa được hợp thức hóa lãnh sự, ông N không phải là người thừa kế di sản nên việc ông N được cấp giấy chứng nhận đối với tài sản của bà K2 không phù hợp với quy định nên tờ giao quyền quản lý bảo quản, canh tác và thừa kế không được chấp nhận trong quyết định của UBND quận Ô khi thu hồi giấy chứng nhận cấp cho ông N.
Tại phiên tòa, bà L, ông C xác định khi đến ở năm 2000 thì trên đất đã có nhà thờ, nhà ở nên phần tài sản này không phải do ông N xây dựng. Khi giải quyết vụ án, ông N không có yêu cầu gì đối với phần này nên đề nghị tách ra giải quyết thành vụ kiện khác. Nguyên đơn đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị dơn ông Nguyễn Bá N – Luật sư Vũ Ngọc C1 trình bày: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, nội dung yêu cầu giải quyết buộc bị đơn giao trả thửa đất 48, 50, 53 và di dời tài sản vật kiến trúc trên đất. Căn cứ yêu cầu khởi kiện: Nguyên đơn cung cấp Văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế công chứng ngày 08/3/2016; Văn bản khai nhận và thoả thuận phân chia di sản thừa kế công chứng ngày 12/4/2017, bà K2 có 7 người thừa kế nhưng tại thời điểm lập văn bản có 6 người chết chỉ còn lại bà L1, những người thuộc hàng thừa kế còn lại của 06 người không ký tên và có tên trong văn bản. Đồng thời, tại thời điểm ký tên trong văn bản, bà L1 không minh mẫn, người bị liệt nhưng vẫn ký tên trong văn bản công chứng. Do vậy, công chứng viên chứng nhận không đúng, bà L1 không minh mẫn khi lập văn bản, người yêu cầu công chứng không có chứng cứ chứng minh bà L1 ký vào văn bản.
Trong quá trình tranh chấp, ông Nguyễn Minh T7 con ông Đ tranh chấp khiếu nại nhưng ông T không xác minh sự việc trên, theo điểm b Điều 7 Luật công chứng là chưa phù hợp.
Trong hồ sơ thể hiện 2 văn bản khác: Thứ nhất là văn bản khai nhận ngày 22/01/2015, bà Nguyễn Thị Mỹ L1 cho rằng là hàng thừa kế thứ hai và duy nhất của bà K2 là vi phạm vì có 7 người thuộc hàng thừa kế thứ hai của bà K2. Thứ hai Văn bản tặng cho ông T năm 2017, bà L1 không còn minh mẫn, mất trí nhớ năm 2013 có 5 người hàng xóm ký tên làm chứng và có xác nhận của Ủy ban, trong văn bản không có chữ ký của bà L1. Phòng C6 trong công chứng, người yêu cầu công chứng tự cung cấp trong khi có người tranh chấp.
Bị đơn phản tố: Căn cứ tờ giao quyền cho ông N, tính hợp pháp của tờ giao quyền đã được chính quyền địa phương xác nhận và được xem xét trong vụ án khác.
Về yêu cầu hủy văn bản khai nhận và văn bản tặng cho, ông N được giao quyền quản lý và sử dụng đất trong 24 năm qua, người xâm phạm đất là ông Nguyễn Văn B đã bị ông N kiện ra Tòa đã giải quyết bằng Bản án của toà.
Phần chăm sóc, quản lý tài sản của ông N, có bức thư của ông S gởi từ nước ngoài về chứng minh. Ông N có quyền quản lý phần đất này hợp pháp đề nghị xem xét không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Nguyên đơn không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên không có quyền khởi kiện yêu cầu bị đơn di dời trả đất cho nguyên đơn. Đề nghị tuyên hủy hai văn bản công chứng do văn phòng C5 chứng nhận của bà Nguyễn Thị Mỹ L1 và đình chỉ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Nguyễn Bá N- ông Nguyễn Bá C trình bày: Bà L1 yêu cầu công chứng các văn bản khai nhận di sản và thoả thuận tặng cho tài sản, thì thủ tục phải có chứng minh nhân dân, sổ hộ khẩu để chứng minh có quan hệ với người thừa kế nhưng thời điểm công chứng bản chính các giấy tờ này ông N là người đang cất giữ, trong văn bản không có người làm chứng, không có chính quyền địa phương xác nhận nên không hợp pháp
Khi lập Văn bản từ chối hưởng di sản thừa kế, hợp đồng tặng cho quyền hưởng di sản tại công chứng không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của người để lại di sản thừa kế, đề nghị huỷ hai văn bản này vì sai quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Ngọc Tuyết L, ông Nguyễn Bá K thống nhất với ý kiến trình bày của Luật sư Vũ Ngọc C1 và của ông Nguyễn Bá C.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T - ông Nguyễn Văn Á1 trình bày bổ sung: Qua lời trình bày của ông T và ông N và chứng cứ trong hồ sơ, xác định tài sản là quyền sử dụng đất tại các thửa 48, 50, 53 là của bà Nguyễn Thị K2. Ông T là người thừa kế của bà L1, bà K2 nên được quyền quản lý tài sản, tài sản tranh chấp không thuộc quyền sử dụng của hai bên nên việc xác định quan hệ pháp luật là tranh chấp quyền sử dụng đất là không phù hợp. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu đình chỉ vụ án của bị đơn vì vượt quá phạm vi phản tố.
Luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho ông N đưa ra nhiều loại giấy tờ để cho rằng người khai nhận di sản là không hợp pháp, công chứng không đúng sự thật, bà L1 không minh mẫn....là đánh tráo khái niệm, ông N phải chứng minh được là một trong những người thừa kế của bà K2 thì mới có quyền yêu cầu huỷ các văn bản trên.
Đối với việc bà Nguyễn Thị Mỹ L1 có minh mẫn hay không thì phải do một cơ quan có thẩm quyền giám định chứ không phải trên ý kiến người làm chứng, trong khi thời điểm công chứng có giấy chứng nhận tâm thần của bà L1.
Người đại diện của ông N cho rằng là người sử dụng hợp pháp theo tờ giao quyền bảo quản, canh tác và thừa kế nhưng theo quyết định số 6872/QĐ-UBND ngày 19/12/2013 là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng không chấp nhận tờ giao quyền bảo quản, canh tác và thừa kế do hình thức và nội dung không đúng quy định, theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, tình tiết đã được xác định trong quyết định có hiệu lực thì không phải chứng minh. Đề nghị không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi thụ lý theo thủ tục sơ thẩm và tại phiên tòa hôm nay, đương sự và Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung giải quyết vụ án: Qua diễn biến tại phiên tòa và căn cứ vào tài liệu trong hồ sơ vụ kiện, kiểm sát viên đề nghị áp dụng Điều 166, 221, 234 Bộ luật Dân sự, Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T, buộc bị đơn và gia đình phải giao trả toàn bộ diện tích đất tại các thửa 48, 1035 (gộp từ thửa 50 và 53) cho nguyên đơn. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Bá N về việc yêu cầu hủy văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế lập ngày 08/3/2016, hủy văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 12/4/2017. Tách phần yêu cầu sửa chữa công trình vật liệu kiến trúc trên đất thành vụ kiện khác khi có yêu cầu. Dành quyền yêu cầu nhận phần hưởng di sản của bà K2 cho người thừa kế của bà C2, ông Đ, ông S khi có yêu cầu. Về phần chi phí tố tụng, án phí đề nghị giải quyết theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, qua tranh luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:
-
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Xét tại thời điểm khởi kiện nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Thanh T3, bà Nguyễn Thị Phương T2, bà Nguyễn Kim N1 đang định cư ở Australia nên vụ án có yếu tố nước ngoài, Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ thụ lý, giải quyết sơ thẩm là đúng thẩm quyền theo quy định tại Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T1, ông Nguyễn Văn B, Văn phòng C5, Ủy ban nhân dân quận Ô, thành phố Cần Thơ, Văn phòng C7, được toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt không có lý do. Do vậy, Hội đồng xét xử căn cứ theo quy định tại Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét vắng mặt các đương sự.
- [2] Về quan hệ tranh chấp: Nguyên đơn khởi kiện, yêu cầu bị đơn giao trả thửa đất 48, 50, 53 và di dời tài sản trên đất; bị đơn phản tố, yêu cầu hủy văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, hủy văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế. Do vậy, quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, hủy văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại khoản 2, khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố Tụng dân sự.
-
[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn nhận thấy:
- [3.1] Về nguồn gốc đất tranh chấp: Theo tài liệu chứng cứ trong hồ sơ và lời thừa nhận của các đương sự, quyền sử dụng đất tổng diện tích 20.060m², tại thửa đất 48, 50, 53 có nguồn gốc của ông Nguyễn Kim T6. Sau đó ông T6 đã giao lại phần đất này cho bà Nguyễn Thị K2 và bà K2 đã kê khai số mục kê (BL 11-13), làm thủ tục đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2997/QSDĐ ngày 26/10/1992, tuy giấy chứng nhận chưa ký tên, đóng dấu nhưng trong hồ sơ lưu trữ có phiếu xác nhận về việc cấp giấy chứng nhận cho bà K2 nên xác định diện tích 20.060m², tại thửa đất 48, 50, 53 là tài sản của bà K2. Năm 1997, bà K2 chết không để lại di chúc nên tài sản của bà K2 để lại là di sản.
-
[3.2] Về hàng thừa kế của bà K2: Bà K2 không có chồng, con nhưng có tất cả 07 anh chị em ruột, gồm:
- - Bà Nguyễn Thị Mỹ L1 (chết năm 2019), không chồng con.
- - Ông Nguyễn Kim T8 (chết năm 2008), có vợ là bà Nguyễn Kim N1 và 04 con chung là: Nguyễn Thanh T, Nguyễn Thị Phương T2, Nguyễn Thanh T3, Võ Thu P.
- - Bà Nguyễn Thị C3 (chết năm 2010)
- - Ông Nguyễn Kim Đ1 (chết năm 2000)
- - Ông Nguyễn Kim L3 (chết năm 1989)
- - Bà Nguyễn Kim Y1 (chết năm 1994)
- - Ông Nguyễn Kim S1 (chết năm 2008)
Bà K2 chết năm 1997, nên đã phát sinh thừa kế. Thời điểm này, chỉ có bà L1, bà C3, ông T8, ông Đ1, ông S1 còn sống, nên căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 679 Bộ luật dân sự năm 2005, xác định hàng thừa kế thứ hai của bà K2 là bà L1, bà C3, ông T8, ông Đ1, ông S1. Sau khi bà K2 chết thì bà C3, ông T8, ông Đ1, ông S1 cũng chết nên những người thừa kế của bà C3, ông Đ1, ông T8, ông S1 sẽ được hưởng phần di sản mà bà C3, ông Đ1, ông T8, ông S1 được hưởng.
Tuy nhiên, ngày 28/01/2015 bà Nguyễn Thị Mỹ L1 lập Văn bản khai nhận di sản thừa kế, văn bản được công chứng tại Văn phòng C8. Ngày 08/3/2016, bà L1 lập Văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế (BL 79), tặng cho ông Nguyễn Thanh T toàn bộ di sản là tổng diện tích đất 20.060m² tại các thửa 48, 50, 53, văn bản được công chứng tại Văn phòng C5.
Xét thấy, tại thời điểm bà L1 lập văn bản khai nhận di sản thừa kế ngày 28/01/2015 thì người thừa kế di sản của bà K2 gồm có: Bà L1 và những người thừa kế của bà C3, ông Đ1, ông T8, ông S1 nhưng nội dung văn bản xác định bà L1 là người thừa kế duy nhất của bà K2 là chưa chính xác. Tuy nhiên, bà L1 cam đoan “...có phát sinh thừa kế mới thì tôi sẽ thực hiện việc phân chia lại di sản thừa kế...”. Quá trình giải quyết vụ kiện, các đương sự cung cấp chứng cứ và lời khai thống nhất bà L1 không phải là người thừa kế duy nhất của bà K2 mà còn có những người thừa kế khác thuộc hàng thừa kế thứ hai nên đây là tình tiết phát sinh thừa kế mới, nên việc bà L1 lập văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế ngày 08/3/2016 cho ông Nguyễn Thanh T toàn bộ di sản của bà K2 là chưa phù hợp mặc dù văn bản được công chứng và có giấy chứng nhận Bệnh viện tâm thần thành phố C số 1554/2015/CN-BVTT ngày 08/122015 xác nhận bà Nguyễn Thị Mỹ L1 “Hiện tại không rối loạn tâm thần”. Do đó, xác định việc tặng cho di sản thừa kế của bà K2 chỉ có hiệu lực đối với phần di sản của bà L1 được thừa hưởng, ông T chỉ nhận được phần thừa kế của L1 được hưởng.
-
[4] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, nhận thấy: Nguyên đơn cho rằng bà L1 là hàng thừa kế thứ hai và duy nhất của bà K2, bà L1 đã tặng cho nguyên đơn toàn bộ di sản thừa kế nên khởi kiện, yêu cầu bị đơn di dời công trình, vật liệu kiến trúc, cây trồng ra khỏi phần đất trên đất để giao trả di sản, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cho nguyên đơn được quyền đăng ký cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.
Như đã nhận định trên thời điểm bà L1 lập văn bản khai nhận di sản thừa kế thì bà L1 không phải là người thừa kế duy nhất của bà K2, nên văn bản tặng cho nguyên đơn toàn bộ di sản của bà K2 chỉ có hiệu lực đối với phần di sản của bà L1 được thừa hưởng thừa kế từ bà K2.
Quá trình giải quyết vụ kiện, Tòa án yêu cầu các đương sự cung cấp họ, tên, địa chỉ những người thừa kế của bà C3, ông Đ1, ông S1 nhưng các đương sự không xác định được họ, tên và địa chỉ của họ và cũng không xác định còn sống hay đã chết. Về phía những người thừa kế của ông T8 đã lập văn bản tặng cho nguyên đơn quyền hưởng di sản, nguyên đơn cũng là một trong những người thừa kế di sản của bà K2 và ông T8. Căn cứ khoản 1 Điều 166 Bộ luật dân sự quy định: “Chủ sở hữu, chủ thể có quyền khác đối với tài sản có quyền đòi lại tài sản từ người chiếm hữu, người sử dụng tài sản, người được lợi về tài sản không có căn cứ pháp luật”. Do nguyên đơn được hưởng 02 suất thừa kế từ bà L1 và ông T8 nên có quyền đòi lại di sản thừa kế do bà K2 để lại, bị đơn chiếm giữ tài sản trên là không có căn cứ. Từ các cơ sở trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ chấp nhận một phần nên cần buộc bị đơn và ngững người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà T1, bà L, ông K phải giao trả lại toàn bộ diện tích đất tại các thửa 48 diện tích 15320m², thửa 50 diện tích 2275m², thửa 53 diện tích 2465m² (hiện tại thửa 50 và 53 đã gộp thành thửa 1035), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 2997/QSDĐ cấp ngày 26/10/1992 cho bà Nguyễn Thị K2 cho nguyên đơn, diện tích thực tế tăng hay giảm được xác định trong giai đoạn thi hành án.
Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho nguyên đơn là vượt quá yêu cầu khởi kiện ban đầu nên không có cơ sở để xem xét chấp nhận.
-
[5] Xét yêu cầu phản tố của bị đơn, nhận thấy: Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng, di sản này đã được những người thừa kế của bà K2 giao cho bị đơn theo “Tờ giao quyền bảo quản, canh tác và thừa kế” ngày 07/8/2000, nên yêu cầu hủy văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế lập ngày 08/3/2016, hủy văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 12/4/2017.
Qua xem xét nội dung tờ giao quyền bảo quản, canh tác và thừa kế thấy rằng nội dung chỉ thể hiện bị đơn được quyền bảo quản, canh tác hưởng hoa lợi trên đất. Tại phiên tòa, bị đơn thừa nhận văn bản này được đánh máy và gửi cho các người thừa kế của bà K2 ký tên, sau đó bị đơn đem đến chính quyền địa phương xác nhận. Từ điều này cho thấy chưa có chứng cứ chứng minh những người thừa kế của bà K2 đồng ý ký tên trong văn bản này, bởi lẽ văn bản có phần đánh máy, có phần viết tay và thời điểm này có một số người đang định cư ở nước ngoài, bị đơn cũng không xuất trình được chứng cứ họ có mặt tại Việt Nam nhưng văn bản được lập ngày 07/8/2000, trong phần ký xác nhận có vợ ông Nguyễn Kim L3 là bà Nguyễn Thị B1; ông Nguyễn Kim T8 và vợ là bà Võ Kim N2; ông Nguyễn Kim S1 và bà Nguyễn Kim T9 đang định cư Ú đã ký tên và được UBND xác nhận vào ngày 18/8/2000 chỉ trong 11 ngày là không có cơ sở, chưa phù hợp với quy định của pháp luật.
Ngoài ra vào năm 1950 gia đình ông T6 có cho gia đình bà Nguyễn Thị B1 (mẹ ông Nguyễn Văn B) ở nhờ trên đất. Năm 1992, bà K2 làm thủ tục cấp giấy thì ông Nguyễn Văn B đang là cán bộ địa chính đã tự trừ một phần thửa 48 diện tích 420m² thành thửa 48A. Sau đó ông B được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 003038 ngày 06/7/1993, diện tích 420m² thửa 48A, tọa lạc ấp T, xã T. Khi phát hiện sự việc, bà K2 đã khiếu nại, sau khi bà K2 mất thì ông N tiếp tục khiếu nại. Tại quyết định số 3258/QĐ-CT.UB ngày 14/10/2002 có nội dung “Bác đơn khiếu nại của ông Nguyễn Văn B sửa điều 1 của quyết định 2047/2001/QĐ-UB ngày 08/10/2001 của UBND huyện Ô, ổn định diện tích 361,20m² thuộc thửa 48A cho hộ bà Nguyễn Thị B1 (mẹ ông B), nội dung quyết định này cũng không chấp nhận “Tờ giao quyền bảo quản, canh tác và thừa kế” lập ngày 17/8/2000, của họ tộc bà Nguyễn Thị K2 cho ông Nguyễn Bá N, do hình thức và nội dung không phù hợp với pháp luật và đây là quyết định giải quyết khiếu nại cuối cùng của Chủ tịch UBND tỉnh C.
Tuy nhiên, ngày 29/7/2005 ông N đã làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định 2047/2001/QĐ-UB ngày 08/10/2001 của UBND huyện Ô, kèm theo Tờ giao quyền bảo quản, canh tác và thừa kế lập ngày 17/8/2000 được UBND xã T xác nhận. Đến ngày 28/9/2005, hộ ông Nguyễn Bá N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00634 thửa 48 diện tích 15740m² và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất H00635 thửa đất số 1035 (hợp thửa 50 và 53), hai giấy chứng nhận này được chỉnh lý từ giấy chứng nhận của bà Nguyễn Thị K2. Việc cấp giấy cho ông N đã trùm lên phần diện tích đất Quyết định số 3258/QĐ-CT.UB ngày 14/10/2002 đã công nhận cho bà Nguyễn Thị B1 nên bà B2 không thực hiện được thủ tục xin cấp giấy chứng nhận. Sau đó UBND quận Ô Môn đã ban hành quyết định số 2363/QĐ-UBND ngày 30/10/2006, nội dung thu hồi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00634 cấp ngày 28/9/2005 cho hộ ông Nguyễn Bá N. Không đồng ý với nội dung của quyết định số 2363/QĐ-UBND, ông N đã khởi kiện vụ án hành chính và đã được giải quyết tại Toà án hai cấp quyết định công nhận và giữ nguyên quyết định số 2363/QĐ-UBND.
Đến năm 2013, trên cơ sở đơn yêu cầu của ông Nguyễn Minh T7 (con ông Nguyễn Kim T8) về việc thẩm tra trình tự thủ tục cấp giấy cho ông Nguyễn Bá N. Căn cứ vào hồ sơ có liên quan và qua xác minh, UBND quận Ô đã ban hành 02 quyết định:
- - Quyết định số 6872/QĐ-UBND, ngày 19/12/2013, nội dung huỷ bỏ một phần nội dung quyết định số 2363/QĐ-UBND ngày 30/10/2006, huỷ bỏ nội dung giao phần diện tích còn lại 15378.8m² tiếp tục ổn định cho hộ ông Nguyễn Bá N đứng tên đăng ký sử dụng.
- - Quyết định số 6873/QĐ-UBND, ngày 19/12/2013 thu hồi và huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00635 cấp ngày 28/9/2005 cho hộ ông Nguyễn Bá N, thửa đất 1035 (do hợp thửa 50 và 53), diện tích 4740m², loại đất LUA.
Như vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số H00634 và số H00635 cùng ngày 28/9/2005 cấp cho hộ ông Nguyễn Bá N đã bị thu hồi và huỷ bỏ. Do vậy, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 2997 cấp cho bà Nguyễn Thị K2 vẫn còn giá trị sử dụng.
Từ các cơ sở trên, xác định Tờ giao quyền bảo quản, canh tác và thừa kế ngày 07/8/2000, của ông N cung cấp không có giá trị để thực hiện thủ tục thừa kế quyền sử dụng đất tại thời điểm xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại Điều 151 của Nghị định 181/2004/NĐ-CP ngày 29/10/2004.
Xét việc ông N yêu cầu hủy văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế lập ngày 08/3/2016, hủy văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 12/4/2017. Tại phiên toà, bị đơn xác nhận không phải là con cháu ruột của hàng thừa kế thứ 2 của bà K2, lời thừa nhận của bị đơn đối chiếu tài liệu chứng cứ trong hồ sơ là hoàn toàn phù hợp. Do vậy, các văn bản trên chỉ liên quan đến quyền và lợi ích hợp pháp của những người thừa kế của bà K2 nhưng họ không có bất kỳ yêu cầu nào, bị đơn không phải là người thừa kế của bà K2, không liên quan đến việc phân chia di sản của bà K2 nên không có cơ sở chấp nhận yêu cầu phản tố của bị dơn về việc hủy các văn bản nêu trên.
- [6] Đối với công trình vật kiến trúc, cây trồng và sửa chữa tài sản trên đất, quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhiều lần tiến hành xem xét thẩm định tài sản vào ngày 17/10/2018, ngày 20/8/2020, ngày 29/4/2021, ngày 29/8/2022, để xem xét thẩm định hiện trạng tài sản đang tranh chấp nhưng bị đơn không hợp tác. Tuy nhiên trong quá trình toà án đang thụ lý giải quyết vụ án, bị đơn đã tiến hành sửa chữa nhà thờ, làm hàng rào. Tại phiên toà, bị đơn và người có quyền lợi liên quan bà Nguyễn Ngọc Tuyết L xác định gia đình ông Nguyễn Bá N đã đến ở trên đất tranh chấp vào năm 2000, thời điểm đến gia đình ông N đã ở trong căn nhà cấp 4 có sẵn do bà K2 cất tạm để chứa củi, sau đó do nhà xuống cấp ông N đã lợp lại mái tole và dừng vách tole xung quanh, không xây dựng mới. Đối với căn nhà thờ trên đất cũng là nhà cấp 4 đã xuống cấp nên ông N đã nâng mái, nâng nền, xây thêm vách, hành lang mặt tiền phía trước, việc này ông N không cung cấp chứng cứ chứng minh chi phí sửa chữa tài sản. Đối với cây trồng trên đất, bà L thừa nhận phần nhiều là đất trống, trên đất chỉ có các loại cây tạp. Xét thấy, đối với công trình kiến trúc trên đất có một phần nhà thờ và nhà chứa củi là do bà K2 xây dựng, phía bị đơn chỉ sửa chửa, xây dựng thêm trên nền nhà cũ không kiên cố đã có sẵn phía bị đơn không yêu cầu giải quyết nên không xem xét mà tách ra giải quyết thành vụ kiện khác khi có yêu cầu. Do vậy, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn buộc bị đơn và bà T1, bà L, ông K phải giao lại toàn bộ các công trình vật kiến trúc, cây trồng, mồ mã đang hiện hữu trên đất cho nguyên đơn là phù hợp.
- [7] Đối với yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời: Theo đơn yêu cầu của nguyên đơn, Tòa án sơ thẩm ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp đối với quyền sử dụng đất thuộc thửa đất số 48, diện tích 15.320m² (LNK); thửa đất số 50, diện tích 2.275m² (2L); thửa đất số 53 diện tích 2.465m² (2L), toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện Ô theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 2997/QSDĐ ngày 26/10/1992 mang tên bà Nguyễn Thị K2. Căn cứ theo quy định tại Điều 138 Bộ luật tố tụng dân sự, sau khi bản án có hiệu lực pháp luật các đương sự có liên quan đến biện pháp này có quyền liên hệ với Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu xem xét thay đổi hoặc hủy bỏ biện pháp này.
Từ các phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T về việc buộc bị đơn ông Nguyễn Bá N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà T1, bà L, ông K phải giao trả lại toàn bộ diện tích đất tại các thửa 48 diện tích 15.320m², thửa 50 diện tích 2.275m², thửa 53 diện tích 2.465m² (hiện tại thửa 50 và 53 đã gộp thành thửa 1035), theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 2997/QSDĐ cấp ngày 26/10/1992 cho bà Nguyễn Thị K2, diện tích thực tế tăng hay giảm được xác định trong giai đoạn thi hành án. Trong đó ông T được hưởng 02 phần thừa kế của bà K2 (phần bà L1 và ông T8) và giao cho ông T quản lý 03 phần thừa kế di sản đối với phần diện tích còn lại và có trách nhiệm giao cho những người thừa kế của bà C3, ông Đ1, ông S1 khi họ có yêu cầu.
Tách phần chi phí sửa chữa công trình vật liệu kiến trúc, cây trồng trên đất tranh chấp thành vụ kiện khác khi gia đình ông Nguyễn Bá N có yêu cầu.
Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Bá N.
Xét thấy quan điểm của đại diện viện kiểm sát tại phiên toà là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên có căn cứ chấp nhận.
- [8] Về chi phí thẩm định: Tồng số tiền thực hiện công tác thậm định là 15.150.000 đồng. Do yêu cầu khởi kiện của nguyên dơn được chấp nhận nên bị dơn phải chịu toàn bộ chi phí này.
-
[9] Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí và được nhận lại tiền tạm ứng án phí đã nộp.
- Yêu cầu phản tố của bị dơn không được chấp nhận nên phải chịu án phí.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ Điều 26, Điều 35, Điều 37, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015
Căn cứ khoản 1 Điều 166, khoản 2 Điều 221, Điều 234 Bộ luật dân sự năm 2015
Căn cứ Khoản 3 Điều 100, khoản 1 Điều 166, khoản 1 Điều 203 Luật đất đai năm 2013.
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
-
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Nguyễn Thanh Tùng
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Bá N và bị đơn ông Nguyễn Bá N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T1, bà Nguyễn Ngọc Tuyết L, ông Nguyễn Bá K phải giao trả lại toàn bộ diện tích đất tại thửa đất số 48, diện tích 15.320m²(LNK); thửa đất số 50, diện tích 2.275m² (2L); thửa đất số 53 diện tích 2.465m² (2L), toạ lạc tại ấp T, xã T, huyện Ô theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 2997/QSDĐ ngày 26/10/1992 mang tên bà Nguyễn Thị K2. Nay là thửa đất số 48, thửa đất số 1035 (LUA) (hợp hai thửa 50 và 53), thuộc tờ bản đồ số 09, toạ lạc tại khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Diện tích đất thực tế tại thửa 48, 50, 53 tăng hay giảm được xác định trong giai đoạn thi hành án (trong đó ông Nguyễn Thanh T được hường 2 suất di sản của bà Nguyễn Thị K2 thuộc thửa 48, 50,53 và giao cho ông T quản lý 03 suất di sản thừa kế đối với phần diện tích còn lại thuộc thửa 48, 50, 53 và có trách nhiệm giao trả lại cho người thừa kế của bà C3, ông Đ1, ông S1 khi họ có yêu cầu. (Vị trí, hiện trạng, diện tích thửa đất số 48, 50, 53, thuộc tờ bản đồ số 09 được xác định theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ 2997/QSDĐ ngày 26/10/1992 mang tên bà Nguyễn Thị K2).
- Buộc bị đơn ông Nguyễn Bá N, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị T1, bà Nguyễn Ngọc Tuyết L, ông Nguyễn Bá K phải giao lại toàn bộ các công trình vật kiến trúc, nhà thờ, nhà tạm, hàng rào, cây trồng, mồ mã đang hiện hữu trên đất cho nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Thanh T về việc kiến nghị cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận cho ông Nguyễn Thanh T theo quy định của pháp luật.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn ông Nguyễn Bá N về việc yêu cầu hủy văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế lập ngày 08/3/2016, hủy văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế lập ngày 12/4/2017.
- Tách phần chi phí sửa chữa công trình vật liệu kiến trúc, cây trồng trên đất tranh chấp thành vụ kiện khác khi gia đình ông Nguyễn Bá N có yêu cầu.
- Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 05/2022/QĐ-BPKCTT ngày 22/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ cho đến khi có quyết định khác thay đổi, hủy bỏ.
-
Về các vấn đề khác:
- Về chi phí thẩm định: Tổng số tiền chi vào ngày 17/10/2018, ngày 20/8/2020, ngày 29/4/2021, ngày 29/8/2022 là 15.150.000 đồng. Bị đơn ông Nguyễn Bá N phải chịu, do nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T đã nộp và chi xong nên buộc bị đơn phải nộp tại cơ quan thi hành án để trả lại cho nguyên đơn.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Nguyên đơn ông Nguyễn Thanh T không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm nên được nhận lại số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 002014 ngày 03/07/2018 tại Chi cục thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ
- Bị đơn ông Nguyễn Bá N phải chịu 300.000 đồng, chuyển tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 000114 ngày 03/6/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ thành án phí.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Bích Hải |
Bản án số 12/2024/DS-ST ngày 27/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, hủy văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế
- Số bản án: 12/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, hủy văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/05/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất, hủy văn bản khai nhận và thỏa thuận phân chia di sản thừa kế, hủy văn bản tặng cho quyền hưởng di sản thừa kế
