|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2024/DS-ST Ngày 18 tháng 9 năm 2024 V/v: “Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn San.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Văn Thành và bà Hà Thị Vân Anh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải Yến - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 03/2024/TLST-DS ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2024/QĐXXST-DS ngày 09 tháng 8 năm 2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 06/2024/QĐST-DS ngày 27 tháng 8 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Đỗ Xuân N, sinh năm 1954; địa chỉ: Số nhà B, ngõ A, Tổ F, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt.
Bị đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1954; địa chỉ: Thôn G, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam; có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Hà Nam; Người đại diện theo pháp luật là ông Đào Tuấn A, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T; Người đại diện theo ủy quyền là bà Lại Thị Ngọc T, chức vụ: Phó Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T; có đơn xin vắng mặt.
- + Ủy ban nhân dân xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam; Người đại diện theo pháp luật là ông Phạm Đức V, chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã L; Người đại diện theo ủy quyền là ông Phạm Xuân Q, chức vụ: Phó Chủ tịch UBND xã L; có đơn xin vắng mặt.
- + Bà Đỗ Thị Bích L1, sinh năm 1949; địa chỉ: Số nhà C, tổ A, K, quận Đ, thành phố Hà Nội; Người đại diện theo ủy quyền của bà L1 là ông Đỗ Xuân N, sinh năm 1954; địa chỉ: Số nhà B, ngõ A, Tổ F, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt.
- + Ông Đỗ Xuân C, sinh năm 1952; địa chỉ: Số nhà C, đường P, phường A, quận G, thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo ủy quyền: Anh Đỗ Văn S, sinh năm 1977; địa chỉ: Số D, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
- + Anh Đỗ Văn H, sinh năm 1985 và chị Lê Thị H1, sinh năm 1981 (Tên gọi khác là T1); cùng địa chỉ: Thôn G, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam; đều có mặt.
- + Bà Nguyễn Thị Phương N1, sinh năm 1967; địa chỉ: Số nhà B, ngõ A, Tổ F, phường P, quận H, thành phố Hà Nội; có mặt
- + Anh Đỗ Văn S, sinh năm 1977; địa chỉ: Số D, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, lời khai của nguyên đơn, bị đơn, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ý kiến trình bày của các đương sự tại phiên tòa sơ thẩm thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cụ Đỗ Văn D (chết năm 1960) và cụ Nguyễn Thị Q1 (tên gọi khác là C1, chết năm 1998), sinh được 03 người con là ông Đỗ Xuân C, ông Đỗ Xuân N và bà Nguyễn Thị Bích L2; cụ D và cụ Q1 không có con riêng, con nuôi; hai cụ chết không để lại di chúc, tài sản để lại là thửa đất số 102, tờ bản đồ PL2, diện tích 199m², trên đất có ngôi nhà mái ngói diện tích 51m² tại thôn G, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam. Năm 1988, vợ chồng ông Đỗ Xuân C, bà Nguyễn Thị L ly hôn; tại Bản án số 13/DS-ST ngày 10/4/1988, Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm đã quyết định công nhận thuận tình ly hôn cho ông C, bà L và giao cho bà L được sở hữu, sử dụng 02 gian nhà ngói, xây tường thuộc thửa đất nêu trên. Sau khi cụ Q1 chết thì bà L là người quản lý, sử dụng thửa đất cùng toàn bộ tài sản trên đất. Ngày 10/11/2003, Ủy ban nhân dân huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Nguyễn Thị L. Năm 2008, vợ chồng anh Đỗ Văn H, chị Lê Thị H1 xây nhà mái bằng diện tích 44m² trên thửa đất và ở cùng bà Nguyễn Thị L từ đó đến nay.
Nguyên đơn ông Đỗ Xuân N trình bày: Thửa đất số 102, tờ bản đồ PL2, diện tích 199m² tại thôn G, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam là di sản thừa kế chưa phân chia của bố mẹ ông để lại. Gần đây ông mới phát hiện thửa đất đã được cấp giấy chứng nhận cho bà Nguyễn Thị L. Không nhất trí với việc cấp giấy nêu trên nên ông khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết: Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 583549 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 10/11/2003 mang tên bà Nguyễn Thị L; Buộc bà Nguyễn Thị L phải trả lại ông Đỗ Xuân N, ông Đỗ Xuân C và bà Đỗ Thị L1 diện tích 199m² tại thửa đất số 102, tờ bản đồ PL 2 tại thôn G, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam; Chia di sản thừa kế diện tích 199m² tại thửa đất số 102, tờ bản đồ PL2 cho ông Đỗ Xuân N, ông Đỗ Xuân C và bà Đỗ Thị L1 theo quy định của pháp luật.
Bị đơn là bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà xác định thửa đất ông Đỗ Xuân N khởi kiện là di sản của cụ D, cụ Q1 để lại. Bà ở trên thửa đất từ khi kết hôn với ông C cho đến thời điểm hiện nay. Đối với yêu cầu khởi kiện của ông N, bà đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và đảm bảo quyền, lợi ích hợp pháp cho bà. Đối với 02 gian nhà bà được chia theo bản án ly hôn, bà tự nguyện đề nghị nhập vào kỷ phần thừa kế ông C được hưởng, bà không yêu cầu ông C thanh toán cho bà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Đỗ Xuân C trình bày: Ông Nhất trí với yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Xuân N đề nghị hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên bà Nguyễn Thị L. Tuy nhiên, ông không nhất trí chia thửa đất mà để thửa đất là sở hữu chung mang tên 03 anh em là ông C, ông N và bà L1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đỗ Thị Bích L1 trình bày: Bà xác định diện tích đất ông Đỗ Xuân N khởi kiện chia di sản thừa kế là của cụ D, cụ Q1 để lại. Khi chia thừa kế, bà tự nguyện đề nghị xin được tặng cho ông Đỗ Xuân N toàn bộ kỷ phần bà được hưởng, bà không đề nghị ông N phải thanh toán cho bà.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là anh Đỗ Văn H, chị Lê Thị H1 trình bày: Anh chị đều xác định thửa đất đang tranh chấp là của cụ D, cụ Q1 để lại. Năm 2008, anh chị xây nhà mái bằng 1 tầng trên thửa đất nhưng không ai có ý kiến gì. Nay ông N khởi kiện chia di sản thừa kế, anh chị đề nghị chia cho ông C phần đất có ngôi nhà vợ chồng anh xây dựng, anh chị không đề nghị ông C phải thanh toán giá trị nhà và các tài sản trên đất. Đối với sân, cổng và một số tài sản khác, nếu chia thừa kế ai được hưởng thì phải thanh toán giá trị tài sản cho vợ chồng anh. Nếu Tòa án chia kỷ phần thừa kế cho ông N vào phần mái tôn của nhà anh xây dựng, vợ chồng anh sẽ tự nguyện tháo dỡ.
Đối với việc ma chay, công sức trông nom, bảo quản di sản, công sức tôn tạo, vượt lập và tiền thuế đất các đương sự đều không có yêu cầu, đề nghị gì.
Quan điểm của Ủy ban nhân dân huyện T: Thửa đất số 102, phụ lục 2, bản đồ xã L có nguồn gốc là của cụ D và cụ C1 (Q2), gia đình không cung cấp được di chúc của hai cụ. Quá trình đo đạc hiện trạng, phân loại hộ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do các con của cụ D, cụ C1 không có nhà nên việc xác định đối tượng, nguồn gốc sử dụng đất chưa chính xác. Do vậy, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho họ bà L đối với thửa đất trên là chưa đúng đối tượng và nguồn gốc sử dụng đất. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho hộ bà Nguyễn Thị L.
Quan điểm của Ủy ban nhân dân xã L: Nhất trí với quan điểm của UBND huyện T và đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam hủy Giấy chứng nhận quyền sử sụng đất đã cấp cho hộ bà Nguyễn Thị L.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tiến hành xem xét thẩm định tại chỗ và định giá kết quả như sau: Thửa đất số 102, tờ bản đồ PL2, diện tích 199m². Trên đất gồm các tài sản: Nhà cấp 4 mái ngói diện tích 51m² do cụ Q1 (Cầm) xây năm 1964 (trong đó có 02 gian nhà diện tích 19m² Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm đã giao cho bà L); Nhà mái bằng 1 tầng diện tích 44m² do vợ chồng anh H xây dựng năm 2008; Nhà vệ sinh diện tích 15m² do vợ chồng ông N xậy dựng năm 2012; Ngoài ra còn có các tài sản là cầu thang, trụ cổng, mái tôn, sân bê tông do vợ chồng anh H xây dựng.
Tại phiên toà:
Nguyên đơn ông Đỗ Xuân N bổ sung yêu cầu khởi kiện: Đề nghị Tòa án hủy một phần Quyết định số 704/QĐUB ngày 10/11/2003 của Ủy ban nhân dân huyện T đối với phần cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị L.
Tại phiên tòa các đương sự thỏa thuận các nội dung cụ thể như sau:
- - Về hàng thừa kế: Cụ Đỗ Văn D (chết năm 1960) và cụ Nguyễn Thị Q1 (tức Cầm, chết năm 1998), hai cụ sinh được 03 người con gồm: ông Đỗ Xuân C, ông Đỗ Xuân N và bà Đỗ Thị Bích L1.
- - Về di sản thừa kế: Cụ Đỗ Văn D và cụ Nguyễn Thị Q1 chết không để lại di chúc. Di sản thừa kế của hai cụ để lại gồm: Thửa đất số 102, tờ bản đồ PL2, diện tích 199m² đất thổ cư, trên đất có ngôi nhà cấp 4 mái ngói diện tích 51m² do cụ Q1 xây dựng.
- - Về phân chia di sản thừa kế: Ông N, anh S, anh H, chị H1, bà N1 tự nguyện thỏa thuận như sau:
- + Cắt 8m² đất thổ cư (T) làm lối đi chung.
- + Giao cho ông N quản lý, sử dụng 60m² đất thổ cư (T); trên đất có diện tích 07m² nhà cấp 4 mái ngói của cụ Q1 để lại và 14m² nhà vệ sinh do vợ chồng ông N, bà N1 xây dựng. Ông N không phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho anh H, chị H1 đối với sân bê tông, mái tôn, cánh cổng sắt và trụ cổng. Thửa đất có cận: Phía Bắc giáp đất của hộ ông H2 gồm dài 1,96m + 2,48; Phía Nam giáp phần đất cắt làm lối đi chung 4,24m; Phía Tây giáp phần đất chia cho ông C, bà L dài 13,68m; Phía Đông giáp hộ ông L3 dài 14,13m + 0,34m.
- + Giao cho ông Đỗ Xuân C, bà Nguyễn Thi L4 được quản lý, sử dụng 139m² đất thổ cư (T), trên đất có nhà mái ngói cấp 4 diện tích 44m² do cụ Q1 xây dựng và nhà mái bằng 1 tầng diện tích 44m² do anh H, chị H1 xây dựng. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp đất của hộ ông H2 dài 9,24m; Phía Nam thửa đất hộ ông Đ dài 8,02m + 1,13m; Phía Tây giáp thửa đất của hộ ông N2, hộ ông H2 dài 8,44m + 1,08m + 3,43m + 2,33m; Phía Đông giáp phần đất chia cho ông N dài 13,68m và không phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho ông N. Đối với tài sản trên diện tích đất giao cho ông C, bà L4 thì ông C, bà L4, anh H, chị H1 không đề nghị giải quyết.
Ông C bà L4 không phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho anh H, chị H1 đối với sân bê tông, mái tôn, cánh cổng sắt và trụ cổng.
Anh H, chị H1 tự nguyện để trụ cổng và cánh cổng sắt để gia đình ông C, bà L4, ông N, bà N1 sử dụng chung.
Buộc anh Đỗ Văn H, chị Lê Thị H1 phải tháo dỡ phần mái tôn trên diện tích đất đã chia cho ông N.
Về ruộng đất nông nghiệp, công sức trông nom, bảo quản di sản, công sức tôn tạo, vượt lập và tiền thuế đất các đương sự đều không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét
Quan điểm của Kiểm sát viên tại phiên tòa xác định:
Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án và các đương sự đã tuân thủ các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự.
Quan điểm giải quyết vụ án: Tại phiên tòa các đương sự đã thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận của các đương sự theo quy định của pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên hủy một phần Quyết định số Quyết định số 704/QĐUB ngày 10/11/2003 của Ủy ban nhân dân huyện T đối với phần cấp giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị L; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 583549 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 10/11/2023 mang tên bà Nguyễn Thị L đối với thửa đất thửa đất số 102, tờ bản đồ PL2, diện
tích 199m² đất (T) tại thôn G, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam.Về án phí dân sự sơ thẩm: Miễn án phí cho ông N, ông C, bà L1, bà L. Các đương sự khác không phải chịu án phí án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; trên cơ sở ý kiến trình bày của các bên đương sự, ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Ủy ban nhân dân xã L, Ủy ban nhân dân huyện T vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
[2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Xuân N đề nghị chia di sản thừa kế và hủy một phần Quyết định cấp giấy và giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án án nhân dân tỉnh H theo quy định tại Điều 26, Điều 34 và Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính và khoản 1 Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.
[3] Về yêu cầu khởi kiện của ông Đỗ Xuân C đề nghị hủy một phần quyết định hành chính cá biệt về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 102, tờ bản đồ PL2, diện tích 199m² cho hộ bà Nguyễn Thị L thấy rằng: Nguồn gốc thửa đất các đương sự đều xác định là của cụ D, cụ Q1, các cụ chết không để lại di chúc. Bà Nguyễn Thị L là vợ của ông Đỗ Văn C2 đã được Tòa án nhân dân huyện Thanh Liêm giải quyết ly hôn tại bản án số 13/DS-ST ngày 10/4/1988. Tại Văn bản số 552/UBND-TNMT, ngày 17/4/2024, Ủy ban nhân dân huyện T xác định: Thửa đất số 102, phụ lục số 2, bản đồ xã L có nguồn gốc đất của bố, mẹ chồng bà Nguyễn Thị L. Trong quá trình xử lý theo T2 trị 25, Kế hoạch 566 của UBND tỉnh: Quá trình đo đạc hiện trạng, phân loại hộ và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do các con của cụ D, cụ Q1 (Cầm) không có nhà nên việc xác định đối tượng, nguồn gốc sử dụng đất chưa chính xác, đầy đủ theo quy định. Việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị L là không đúng đối tượng và nguồn gốc sử dụng đất. Do vậy, Hội đồng xét xử hủy một phần Quyết định số 704/QĐ-UBND ngày 10/11/2003 của UBND huyện T, tỉnh Hà Nam về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị L và hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T, tỉnh Hà Nam đã cấp cho hộ bà Nguyễn Thị L ngày 10/11/2003.
[4] Về chia di sản thừa kế:
[4.1] Về thời hiệu chia di sản thừa kế: Cụ Đỗ Văn D (chết năm 1960) và cụ Nguyễn Thị Q1 (tên gọi khác là cụ C1, chết năm 1998). Căn cứ Điều 623 Bộ luật Dân sự xác định yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của nguyên đơn đối với di sản của Diêm hết thời hiệu khởi kiện; đối với phần di sản của cụ Q1 đã còn thời hiệu khởi kiện nhưng các đương sự đều không đề nghị áp dụng thời hiệu nên Tòa án không áp dụng thời hiệu là phù hợp quy định tại Khoản 2 Điều 149 Bộ Luật dân sự và khoản 2 Điều 184 Bộ luật tố tụng dân sự.
[4.2] Về quan hệ huyết thống và hàng thừa kế: Cụ Đỗ Văn D (chết năm 1960) và cụ Nguyễn Thị Q1 (tức Cầm, chết năm 1998), hai cụ sinh được 03 người con gồm: ông Đỗ Xuân C, ông Đỗ Xuân N và bà Đỗ Thị Bích L1.
[4.3] Về phân chia di sản thừa kế: Xét thấy, việc các đương sự tặng cho nhau kỷ phần thừa kế, tặng cho nhau tài sản trên đất và việc thỏa thuận về phân chia di sản thừa kế của các đương sự tại phiên tòa là hoàn toàn tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật và đạo đức xã hội. Do vậy, Hội đồng xét xử ghi nhận thỏa thuận này của đương sự, cụ thể như sau:
- - Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đỗ Thị Bích L1 tặng cho ông Đỗ Xuân N toàn bộ kỷ phần thừa kế được hưởng tại thửa đất số 102, tờ bản đồ PL2, diện tích 199m² ở thôn G, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam.
- - Ghi nhận sự thỏa thuận của ông Đỗ Xuân C, ông Đỗ Xuân N và bà Nguyễn Thị L, anh Đỗ Văn H và chị Lê Thị H1, cụ thể:
- + Cắt 8m² đất thổ cư (T) làm lối đi chung, cụ thể: Phía Bắc giáp phần đất chia cho ông N dài 4, 24m; Phía Nam đoạn 1 giáp đất hộ ông Đ dài 2,95m, đoạn 2 giáp ngõ đi chung dài 1,48m; Phía Tây giáp phần đất chia cho ông C, bà L dài 2m; Phía Đông giáp hộ ông L3 dài 1,38m (Có sơ đồ chia đất kèm theo).
- + Giao cho ông N quản lý, sử dụng 60m² đất thổ cư (T); trên đất có diện tích 07m² nhà cấp 4 mái ngói của cụ Q1 để lại và 14m² nhà vệ sinh do vợ chồng ông N, bà N1 xây dựng. Ông N không phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho anh H, chị H1 đối với sân bê tông, mái tôn, cánh cổng sắt và trụ cổng. Thửa đất có cận: Phía Bắc giáp đất của hộ ông H2 gồm dài 1,96m + 2,48; Phía Nam giáp phần đất cắt làm lối đi chung 4,24m; Phía Tây giáp phần đất chia cho ông C, bà L dài 13,68m; Phía Đông giáp hộ ông L3 dài 14,13m + 0,34m (Có sơ đồ chia đất kèm theo).
- + Giao cho ông Đỗ Xuân C, bà Nguyễn Thi L4 được quản lý, sử dụng 139m² đất thổ cư (T), trên đất có nhà mái ngói cấp 4 diện tích 44m² do cụ Q1 xây dựng và nhà mái bằng 1 tầng diện tích 44m² do anh H, chị H1 xây dựng. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp đất của hộ ông H2 dài 9,24m; Phía Nam thửa
- đất hộ ông Đ dài 8,02m + 1,13m; Phía Tây giáp thửa đất của hộ ông N2, hộ ông H2 dài 8,44m + 1,08m + 3,43m + 2,33m; Phía Đông giáp phần đất chia cho ông N dài 13,68m (Có sơ đồ chia đất kèm theo) và không phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho ông N. Đối với tài sản trên diện tích đất giao cho ông C, bà L4 thì ông C, bà L4, anh H, chị H1 không đề nghị giải quyết.
Ông C bà L4 không phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho anh H, chị H1 đối với sân bê tông, mái tôn, cánh cổng sắt và trụ cổng.
Anh H, chị H1 tự nguyện để trụ cổng và cánh cổng sắt để gia đình ông C, bà L4, ông N, bà N1 sử dụng chung.
Buộc anh Đỗ Văn H, chị Lê Thị H1 phải tháo dỡ phần mái tôn trên diện tích đất đã chia cho ông N.
Về ruộng đất nông nghiệp, công sức trông nom, bảo quản di sản, công sức tôn tạo, vượt lập và tiền thuế đất các đương sự đều không đề nghị Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét
[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do ông Đỗ Xuân C, ông Đỗ Xuân N, bà Nguyễn Thị Bích L2 và bà Nguyễn Thị L là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí. Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 và Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng xét xử miễn toàn bộ án phí cho các ông bà; các đương sự khác không phải chịu án phí theo quy định.
[6] Về chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản: Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá tài sản và đo đạc hiện trạng thửa đất hết số tiền 6.693.000 đồng. Số tiền này ông N đã nộp và quyết toán xong. Ông N có quan điểm sẽ chịu toàn bộ chi phí, không đề nghị các đương sự khác phải thanh toán cho ông. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 26, 34, 37, 38, 39, 147, 157, 184, khoản 2 Điều 244, Điều 246, 266, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 32 Luật Tố tụng hành chính. Các Điều 149, 611, 612, 613, 614, 620, 623, 649, 650 Bộ luật Dân sự và khoản 1 Điều 203 của Luật Đất đai năm 2013. Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn tuyên hủy một phần Quyết định số 704/QĐUB ngày 10/11/2003 của Ủy ban nhân dân huyện T đối
với phần cấp giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho hộ bà Nguyễn Thị L; Hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số X 583549 do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 10/11/2003 cho hộ bà Nguyễn Thị L tại thửa đất thửa đất số 102, tờ bản đồ PL2, diện tích 199m² đất (T) tại thôn G, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam.
2. Ghi nhận sự tự nguyện của bà Đỗ Thị Bích L1 tặng cho ông Đỗ Xuân N toàn bộ kỷ phần thừa kế được hưởng tại thửa đất số 102, tờ bản đồ PL2, diện tích 199m² ở thôn G, xã L, huyện T, tỉnh Hà Nam.
3. Ghi nhận sự thỏa thuận của ông Đỗ Xuân C, ông Đỗ Xuân N và bà Nguyễn Thị L, anh Đỗ Văn H và chị Lê Thị H1, cụ thể:
- + Cắt 8m² đất thổ cư (T) làm lối đi chung, cụ thể: Phía Bắc giáp phần đất chia cho ông N dài 4,24m; Phía Nam giáp đất hộ ông Đ và ngõ đi chung dài 2,95m + 1,48m; Phía Tây giáp phần đất chia cho ông C, bà L dài 2m; Phía Đông giáp hộ ông L3 dài 1,38m (Có sơ đồ chia đất kèm theo).
- + Giao cho ông N quản lý, sử dụng 60m² đất thổ cư (T); trên đất có diện tích 07m² nhà cấp 4 mái ngói của cụ Q1 để lại và 14m² nhà vệ sinh do vợ chồng ông N, bà N1 xây dựng. Ông N không phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho anh H, chị H1 đối với sân bê tông, mái tôn, cánh cổng sắt và trụ cổng. Thửa đất có cận: Phía Bắc giáp đất của hộ ông H2 gồm dài 1,96m + 2,48; Phía Nam giáp phần đất cắt làm lối đi chung 4,24m; Phía Tây giáp phần đất chia cho ông C, bà L dài 13,68m; Phía Đông giáp hộ ông L3 dài 14,13m + 0,34m (Có sơ đồ chia đất kèm theo).
- + Giao cho ông Đỗ Xuân C, bà Nguyễn Thi L4 được quản lý, sử dụng 139m² đất thổ cư (T), trên đất có nhà mái ngói cấp 4 diện tích 44m² do cụ Q1 xây dựng và nhà mái bằng 1 tầng diện tích 44m² do anh H, chị H1 xây dựng. Thửa đất có tứ cận: Phía Bắc giáp đất của hộ ông H2 dài 9,24m; Phía Nam thửa đất hộ ông Đ dài 8,02m + 1,13m; Phía Tây giáp thửa đất của hộ ông N2, hộ ông H2 dài 8,44m + 1,08m + 3,43m + 2,33m; Phía Đông giáp phần đất chia cho ông N dài 13,68m (Có sơ đồ chia đất kèm theo) và không phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho ông N. Đối với tài sản trên diện tích đất giao cho ông C, bà L4 thì ông C, bà L4, anh H, chị H1 không đề nghị giải quyết.
Ông C bà L4 không phải thanh toán chênh lệch giá trị tài sản cho anh H, chị H1 đối với sân bê tông, mái tôn, cánh cổng sắt và trụ cổng.
4. Ghi nhận sự tự nguyện của anh Đỗ Văn H, chị Lê Thị H1 để trụ cổng và cánh cổng sắt cho gia đình ông C, bà L4, ông N, bà N1 sử dụng chung.
5. Buộc anh Đỗ Văn H, chị Lê Thị H1 phải tháo dỡ phần mái tôn trên diện tích đất đã chia cho ông N.
6. Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Đỗ Xuân N, ông Đỗ Xuân C, bà Nguyễn Thị Bích L2 và bà Nguyễn Thị L được miễn án phí theo quy định. Anh H, chị H1, bà N1 không phải chịu.
7. Chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản hết số tiền 6.693.000 đồng. Chấp nhận sự tự nguyện của ông Đỗ Xuân N đề nghị được chịu toàn bộ số tiền trên (ông N đã thanh toán xong).
8. Bác các yêu cầu khác của đương sự.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyên thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm các đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Trần Văn San |
Bản án số 12/2024/DS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM về tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Số bản án: 12/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản và yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về thừa kế tài sản
