|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 12/2024/DS-ST Ngày 10 tháng 7 năm 2024 V/v: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Bùi Vũ Tuyết Mỹ
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đỗ Ngọc Quý;
Bà Huỳnh Thị Thanh Nga
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quý Võ - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Phạm Tiến Huynh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 111/2023/TLST-DS ngày 30 tháng 10 năm 2023, về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2024/QĐXXST - DS ngày 04 tháng 6 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 10/2024/QĐST-DS ngày 21/6/2024; giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S1;
Địa chỉ trụ sở: 266 - B N, phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Hoài K - Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP S1 - Chi nhánh S2.
Người đại diện theo ủy quyền tham gia tố tụng: Ông Dương Xuân T - Chức vụ: Nhân viên Ngân hàng TMCP S1 (theo Giấy ủy quyền số 112/2024/GUQ-CNSG ngày 15/5/2024).
- Bị đơn: Ông Lê Thành S - sinh năm: 1993;
Trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa.
Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện gửi đến Tòa án đề ngày 26/12/2022; các lời khai tiếp theo và tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt ngày 10/7/2024, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Dương Xuân T trình bày:
Ngày 26/11/2019, ông Lê Thành S có ký với Ngân hàng thương mại cổ phần S1 (TMCP) Sài Gòn T - Chi nhánh S2 01 (một) Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng (các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ vào thu nhập của ông S, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng VS payWave Cre Gold với hạn mức sử dụng là 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng) với mục đích là tiêu dùng cá nhân; lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng (trong hạn) là 2,6%/tháng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông S đã thực hiện các giao dịch từ ngày 27/11/2019 đến nay với tổng số tiền là 99.080.800đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ 27/11/2019 đến nay, ông S chỉ mới thanh toán cho Ngân hàng với số tiền 60.727.230đồng (sáu mươi triệu bảy trăm hai mươi bảy nghìn hai trăm ba mươi đồng). Ông S sử dụng thẻ từ tháng 11/2019 đến ngày 22/5/2020 và có thanh toán cho Ngân hàng nhưng đến tháng 6/2020 thì ngưng thanh toán. Qua nhiều lần làm việc, nhắc nhở và liên hệ nhưng ông S vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Lê Thành S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán (quy định tại Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Do đó vào ngày 22/8/2020, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 24 của Bản Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng).
Mặc dù Ngân hàng đã nhiều lần yêu cầu ông Lê Thành S có trách nhiệm thanh toán, tuy nhiên ông S vẫn chưa thành toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký.
Tính đến ngày xét xử là ngày 10/7/2024, ông Lê Thành S còn nợ Ngân hàng TMCP S1 nợ gốc và lãi với số tiền cụ thể như sau:
+ Nợ gốc: 51.916.038đ (năm mươi mốt triệu chín trăm mười sáu nghìn không trăm ba mươi tám đồng);
+ Lãi quá hạn: 95.702.238đ (chín mươi lăm triệu bảy trăm lẻ hai nghìn hai trăm ba mươi tám đồng).
Tổng cộng: 147.618.276đ (một trăm bốn mươi bảy triệu sáu trăm mười tám nghìn hai trăm bảy mươi sáu đồng).
Tại đơn đề nghị xét xử vắng mặt, người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng TMCP S1 ông Dương Xuân T yêu cầu Tòa án giải quyết: Buộc ông Lê Thành S trả một lần toàn bộ số tiền gốc và lãi, tính đến ngày xét xử sơ thẩm là ngày 10/7/2024 với số tiền là 147.618.276đ (một trăm bốn mươi bảy triệu sáu trăm mười tám nghìn hai trăm bảy mươi sáu đồng), đồng thời ông S còn phải trả tiền lãi phát sinh tính từ ngày 11/7/2024 cho đến khi trả dứt nợ cho Ngân hàng S1 theo mức lãi suất đã thỏa thuận tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng đã ký.
* Trong quá trình giải quyết vụ án, Toà án đã xác minh, tống đạt hợp lệ nhiều lần các giấy triệu tập và các văn bản tố tụng đối với bị đơn ông Lê Thành S để lấy lời khai, để kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng bị đơn ông Lê Thành S đều không có mặt để làm việc theo giấy triệu tập, thông báo của Toà án, nên Toà án không lấy được lời khai của ông S, không tiến hành hòa giải được vụ án.
* Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án đến nay, Thẩm phán đã thực hiện đúng nội dung quy định tại Điều 48 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định về phiên tòa sơ thẩm; nguyên đơn, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định tại các Điều 70, 71 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 khởi kiện tranh chấp hợp đồng tín dụng đối với ông Lê Thành S có nơi cư trú tại: Thôn T, xã Đ, huyện V, tỉnh Khánh Hòa. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì đây là vụ án dân sự về tranh chấp hợp đồng tín dụng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông Dương Xuân T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn ông Lê Thành S đã được Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh triệu tập hợp lệ đến phiên tòa xét xử lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt. Căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt người đại diện hợp pháp của Ngân hàng TMCP S1 và bị đơn ông Lê Thành S.
[2] Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Căn cứ vào Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) được ký ngày 26/11/2019 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S1 (S3) - Chi nhánh S2 với ông Lê Thành S khi xác lập hợp đồng là hoàn toàn tự nguyện, không trái đạo đức xã hội và phù hợp với các quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử công nhận Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng) được ký ngày 26/11/2019 giữa Ngân hàng thương mại cổ phần S1 - Chi nhánh S2 với ông Lê Thành S là hợp pháp, có hiệu lực và có giá trị ràng buộc các bên.
[2.2] Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê Thành S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán được quy định của Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Điều 18 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), cụ thể: Ông S chỉ mới thanh toán cho Ngân hàng số tiền 60.727.230đồng, kể từ thời điểm tháng 6/2020, ông Lê Thành S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và phát sinh nợ quá hạn kể từ ngày 22/8/2020 cho đến nay; Ngân hàng thương mại cổ phần S1 - Chi nhánh S2 đã nhiều lần nhắc nhở và làm việc với ông S để thanh toán các khoản nợ quá hạn nhưng cho đến nay vẫn không nhận được sự hợp tác từ phía ông S. Như vậy có cơ sở xác định ông S đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán và thời hạn thanh toán, gây ảnh hưởng quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng nên Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Lê Thành S trả nợ gốc và lãi là có căn cứ. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S1 về việc buộc ông Lê Thành S phải thanh toán số tiền nợ gốc và lãi tính đến ngày 10/7/2024, cụ thể như sau:
+ Nợ gốc: 51.916.038đ (năm mươi mốt triệu chín trăm mười sáu nghìn không trăm ba mươi tám đồng);
+ Lãi quá hạn: 95.702.238đ (chín mươi lăm triệu bảy trăm lẻ hai nghìn hai trăm ba mươi tám đồng).
Tổng cộng: 147.618.276đ (một trăm bốn mươi bảy triệu sáu trăm mười tám nghìn hai trăm bảy mươi sáu đồng).
Ngoài ra, kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong tất cả các khoản tiền, ông Lê Thành S còn phải trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S1 tiền lãi phát sinh theo mức lãi suất đã được thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng đã ký.
[3] Trong suốt quá trình tố tụng giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng đối với ông Lê Thành S: Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; tại các văn bản trên, Tòa án nhân dân huyện Vạn Ninh đã thông báo rõ nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, các chứng cứ do nguyên đơn cung cấp cho Tòa án nhưng bị đơn vắng mặt, không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không có văn bản phản hồi ý kiến nên Hội đồng xét xử xét thấy không có căn cứ và không có cơ sở để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn ông Lê Thành S.
[4] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vạn Ninh đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu nguyên đơn là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật và phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
[5] Về án phí:
- Ông Lê Thành S phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật với số tiền là (147.618.276đồng x 5%) = 7.380.913đồng (bảy triệu ba trăm tám mươi nghìn chín trăm mười ba đồng).
- Hoàn lại toàn bộ tiền tạm ứng án phí cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; Điều 227; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 280, Điều 463, Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Căn cứ khoản 2 Điều 91; Điều 95, điểm d khoản 3 Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng năm 2010;
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 13 Nghị quyết số: 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Buộc ông Lê Thành S phải trả cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 số tiền tính đến ngày 10 tháng 7 năm 2024 là 147.618.276đ (một trăm bốn mươi bảy triệu sáu trăm mười tám nghìn hai trăm bảy mươi sáu đồng), trong đó:
+ Tiền gốc: 51.916.038đ (năm mươi mốt triệu chín trăm mười sáu nghìn không trăm ba mươi tám đồng);
+ Tiền lãi quá hạn: 95.702.238đ (chín mươi lăm triệu bảy trăm lẻ hai nghìn hai trăm ba mươi tám đồng).
Quy định: Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm là ngày 11 tháng 7 năm 2024 cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng trên.
2. Về án phí:
- Ông Lê Thành S phải chịu án dân sự sơ thẩm là 7.380.913đồng (bảy triệu ba trăm tám mươi nghìn chín trăm mười ba đồng).
- Hoàn trả lại cho Ngân hàng Thương mại cổ phần S1 2.570.106đ (hai triệu năm trăm bảy mươi nghìn một trăm lẻ sáu đồng) tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008207 ngày 23 tháng 02 năm 2023 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hồ Chí Minh.
3. Quyền kháng cáo của nguyên đơn, bị đơn là 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Khánh Hoà xét xử phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7,7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Vũ Tuyết Mỹ |
Bản án số 12/2024/DS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 12/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VẠN NINH - TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
