Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ HÒA

TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2024/DS-ST

Ngày: 04/6/2024

V/v tranh chấp “Lối đi chung,

chấm dứt hành vi cản trở trái

pháp luật và tháo gỡ vật kiến

trúc trên đất”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Minh Tâm

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lê Văn Trưởng và ông Nguyễn Xuân Nghi

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Công Tân – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Ông Bùi Xuân Tùng, Kiểm sát viên

Trong ngày 04 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa, tỉnh Phú Yên xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 160/2023/TLST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2023 về việc tranh chấp “Lối đi chung, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật và tháo dỡ vật kiến trúc trên đất”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 16/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Huỳnh Thị S: 1972.

Địa chỉ: Thôn Â, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phạm Hồng P, Luật sư của Công ty L thuộc Đoàn Luật sư tỉnh P

Bị đơn:

1. Ông Đào Thanh T, sinh năm: 1963

Trú tại: 5/4 Lê Thánh Tôn, phường 1, thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên

2. Ông Đào Thanh V, sinh năm: 1969

3. Ông Đào Thanh T1, sinh năm: 1974

4. Ông Đào Thanh V1, sinh năm: 1976

Địa chỉ: Thôn Â, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1936; Trú tại: thôn Â, xã H, huyện P, tỉnh Phú Yên.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Nguyễn Thị T2: Ông Phạm Hồng P, Luật sư ký hợp đồng của Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P. Do Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh P cử theo Quyết định số 140/QĐ-TGPL ngày 14/5/2024.

2. Ủy ban nhân dân xã H, huyện P.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Thanh S1; Chức vụ: Công chức địa chính xã H, huyện P (Theo giấy ủy quyền số 723/GUO-UBND ngày 24/11/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H).

Bà S, Luật sư P, ông V1, ông T1 đều có mặt. Ông T, ông V, ông S1 và bà T2 đều có đơn xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện ngày 29/9/2023 và quá trình tố tụng tại Tòa án, nguyên đơn bà Huỳnh Thị S trình bày:

Thứ nhất, về nguồn gốc của lối đi chung đang tranh chấp: Tôi (Huỳnh Thị S) được biết và nghe ông Đào Đ, sinh năm 1918; Trú tại: thôn Â, xã H, huyện P (hiện nay còn sống và còn minh mẫn) nói lại: Nguyên trước đây, cha ông Đ có bán phần đất phía sau nhà cho ông nội của các bị đơn (Viên, T1, V1, T) đồng thời có mở lối đi từ đường liên thôn vào phần đất đã bán. Trước đây, lối đi này nhỏ hẹp sau đó gia đình ông Đào Đ mở rộng thêm để các hộ phía trong đi cho rộng rãi, thuận lợi. Từ nhỏ tôi đã thấy và biết lối đi này đã được hình thành.

Thứ hai, về quá trình sử dụng lối đi chung này: Nguyên trước đây, mẹ tôi có một đám đất, phía sau đám đất của mẹ tôi là bụi tre và bụi dúi; giáp với lối đi chung vào nhà bà Đặng Thị D (mẹ của các bị đơn) và nhà bà Đào Thị H (mẹ ông Đào Minh T3). Từ trước cho đến nay, để đi ra đường liên thôn thì gia đình mẹ tôi cũng có lối đi riêng. Từ năm 2017, Nhà nước có chủ trương làm đường bê tông nông thôn thì đã sửa chữa, nâng cấp lối đi chung này thành đường bê tông. Khoảng năm 2018, gia đình tôi bị ảnh hưởng cơn bão lớn, sập nhà và được sự tài trợ của nhà nước, các nhà hảo tâm, tôi xây dựng ngôi nhà như hiện nay có mặt tiền xoay về con đường đi vào nhà bà Đào Thị D1, ông Đào Minh T3. Để được đi trên lối đi chung này tôi đã đến gặp bà Đào Thị D1, ông Đào Minh T3 nói chuyện. Tuy nhiên các bị đơn (Viên, T1, V1, T) không cho tôi đi trên lối đi chung này, các bị đơn đã dùng các thanh sắt hàn và bít lối đi vào nhà của tôi.

Do đó, tôi yêu cầu Tòa án công nhận lối đi đang tranh chấp này là lối đi chung; buộc các bị đơn (Viên, T1, V1, T) chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật là ngăn cản đi trên lối đi chung này; buộc các bị đơn tháo dỡ các thanh sắt mà các ông hàn bít ngay cổng nhà để tôi có lối đi vào nhà. Tôi tự nguyên góp 3.000.000 đồng tiền phụ làm đường bê tông cho hộ Đặng Thị D (mẹ của các bị đơn)

Bị đơn ông Đào Thanh T1, Đào Thanh V1 thống nhất trình bày:

Thứ nhất, về nguồn gốc lối đi chung đang tranh chấp: Trước đây ông nội tôi có mua phần đất phía sau của cha ông Đào Đ; khi đấy mua đất là mua luôn con đường đi để ra đường lớn liên thôn. Hiện nay trên khu đất mà ông nội tôi mua có nhà của cha mẹ tôi là ông Đào Đ1 bà Đặng Thị D và nhà ông Đào Minh T3 (tức con ông bác là Đào Ngại bà Đào Thị H). Liên quan đến giấy tờ mua đất, mua lối đi đang tranh chấp này thì chúng tôi không lưu giữ, đã thất lạc. Đến giờ này, phần đất của cha mẹ tôi và phần đất của ông bác ruột là Đào N bà Đào Thị H đều chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Hiện nay trên lối đi này có 03 hộ đang sử dụng: Hộ bà Đặng Thị D, hộ ông Đào Minh T3 và hộ bà Đào Thị N1 (cũng bà con trong họ).

Thứ hai, về quá trình sử dụng lối đi chung này: Chúng tôi khẳng định đây là lối đi chung của dòng họ chúng tôi nên từ khi mua đất ông bà tôi đã sử dụng lối đi này để ra đường lớn liên thôn chứ không phải là lối đi của cộng đồng dân cư. Khoảng năm 2017, Nhà nước có chủ trương bê tông hóa nên đã nâng cấp lối đi chung này thành đường bê tông sạch sẽ. Trước đây gia đình bà S có một mảnh đất, phía sau vườn là giáp với lối đi chung của gia đình chúng tôi và đề ra đường lớn liên thôn thì gia đình bà S có lối đi khác. Khi bà S xây dựng nhà đã xoay mặt tiền nhà và đi trên lối đi chung này. Khi bà S xây dựng nhà theo tôi được biết thì bà cam kết không đi trên lối đi chung này, chỉ xoay mặt nhà cho hợp hướng thôi.

Tôi khẳng định lối đi đang tranh chấp là lối đi chung của gia đình, họ tộc nhà tôi không phải là lối đi chung của cộng đồng, dân cư. Lối đi này chỉ dành cho các hộ gia đình họ Đào như hiện nay gồm gia đình tôi, hộ Đào Minh T3 và hộ Đào Thị N1. Việc bà S đã có lối đi riêng nên không được đi trên lối đi này. Do đó chúng tôi yêu cầu Tòa không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và không đồng ý nhận tiền hỗ trợ bê tông của bà S.

Đại diện gười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã H trình bày:

Thứ nhất, về nguồn gốc lối đi đang tranh chấp: Theo hồ sơ địa chính xã và Bản đồ đo đạc năm 1993 được lưu trữ tại Ủy ban nhân dân xã H tại bản đồ số 302D thôn Â, xã H thể hiện khi đo đạc bản đồ năm 1993 đã thể hiện con đường đi từ đầu là hộ Đào Đức N2 đến cuối đường là nhà ông Đào Đ1 bà Đào Thị H có chiều dài khoảng 65m. Bản đồ năm 1993 thể hiện đây là đường đi chung do Ủy ban nhân dân xã Q, không cân đối cho bất cứ hộ gia đình nào và không hộ gia đình nào kê khai trong quá trình sử dụng đất. Đến khi bản đồ đo đạc năm 2016 cũng thể hiện đây là lối đi chung, không phải của riêng của bất kỳ hộ gia đình nào.

Thứ hai, nguyên nhân xảy ra tranh chấp: Bà Huỳnh Thị S cất nhà năm 2018 mở cổng đi trên lối đi này nên xảy ra tranh chấp với gia đình ông Đào Đ1 (chết) có các con là Đào Thanh T, Đào Thanh V và Đào Thanh T1 và Đào Thanh V1. Ngoài lối đi này ra, bà Huỳnh Thị S muốn ra đường liên thôn thì phải băng qua đất của mẹ bà là Nguyễn Thị T2. Trước đây, bà Huỳnh Thị S đi qua đất mẹ bà theo con đường hướng T. Đến năm 2018, bà S được nhà nước cho phép sửa chữa xây dựng lại nhà nên bà S xoay mặt nhà xuống hướng Đông Bắc nên mới xảy ra tranh chấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị T2 trình bày:

Con đường đang tranh chấp với các đồng bị đơn đã tồn tại từ trước giải phóng. Việc các đồng bị đơn cho rằng đường đi này là đất của nhà mấy ông là không đúng.

Tòa án nhân dân huyện Phú Hòa đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.

Tại phiên tòa:

- Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện. Yêu cầu Tòa án xác định lối đi có chiều dài 64,15m điểm đầu giáp đường đi liên thôn điểm cuối vào nhà bà Đặng Thị D (nhà mẹ của các đồng bị đơn); buộc bị đơn chấm dứt hành ngăn cản bà đi lại trên lối đi này và buộc bị đơn phải tháo dỡ hàng rào sắt trước cổng nhà để có lối đi vào nhà. Nguyên đơn xác định chưa bao giờ cam kết không đi trên lối đi chung này; xác định hộ bà Đặng Thị D (mẹ các đồng bị đơn) và hộ ông Đào Minh T3 là người đóng góp kinh phí để bê tông hóa lối đi này và đồng ý đóng góp kinh phí 3.000.000 đồng để tu sửa, làm đường bê tông.

- Các đồng bị đơn khẳng định lối đi đang tranh chấp là lối đi chung của gia đình, họ tộc không phải là lối đi chung của cộng đồng, dân cư. Lối đi này chỉ dành cho các hộ gia đình họ Đào như hiện nay gồm gia đình các đồng bị đơn, gia đình ông Đào Minh T3 và gia đình bà Đào Thị N1. Việc bà S đã có lối đi riêng nên không được đi trên lối đi này và đồng thời bà S khi cất nhà có cam kết không đi trên lối đi này.

- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Công nhận lối đi có chiều dài 64,15m điểm đầu giáp đường đi liên thôn điểm cuối vào nhà bà Đặng Thị D (nhà mẹ của các đồng bị đơn) là lối đi chung; buộc bị đơn chấm dứt hành ngăn cản bà S đi lại trên lối đi này và buộc bị đơn phải tháo dỡ hàng rào sắt trước cổng nhà bà S để bà S có lối đi vào nhà

- Đại diện Viện kiểm sát huyện P tham gia phiên tòa phát biểu: Trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán và Hội đồng xét xử tuân thủ đúng quy định pháp luật. Xác định đúng quan hệ tranh chấp và tư cách người tham gia tố tụng trong vụ án. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 170, Điều 203 Luật Đất đai. Các Điều 175, 245, 246, 247, 248 và Điều 254 Bộ luật Dân sự, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị S. Công nhận lối đi có chiều dài 64,15m (Bản vẽ do Văn phòng Đ3 chi nhánh huyện P lập ngày 08/4/2024) là lối đi chung; buộc các đồng bị đơn chấm dứt hành vi cản trở bà S đi lại trên lối đi này và các đồng bị đơn phải tháo dỡ hàng rào sắt trước cổng nhà bà S để bà S có lối đi vào nhà. Ghi nhận sự tự nguyện của bà S về khoản đóng góp kinh phí 3.000.000 đồng để tu sửa đường bê tông và ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà S về chi phí tố tụng. Các đồng bị đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tại phiên tòa, các đương sự đều thống nhất chiều dài của lối đi đang tranh chấp là 64,15m (theo bản vẽ của Văn phòng Đ3 chi nhánh huyện P lập ngày 08/4/2024) có điểm đầu phía Nam giáp đường liên thôn gáp nhà ông Đoàn N3 điểm cuối phía Bắc lối đi vào nhà bà Đặng Thị D (mẹ của các đồng bị đơn). Hiện trên lối đi này có ba hộ đang sử dụng: Hộ Đặng Thị D, hộ ông Đào Minh T3 và hộ bà Đào Thị N1. Khi làm đường bê tông thì các hộ bà Đặng Thị D (mẹ của các đồng bị đơn) và hộ ông Đào Minh T3 bỏ kinh phí ra. Đây là những tình tiết sự kiện không phải chứng minh theo Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

[2.1] Xét các tài liệu có tại hồ sơ vụ án:

- Bản đồ địa chính lập năm 1993 (B198) thể hiện giữa các thửa đất 690 (đứng tên Đào Thị K), thửa 689 (đứng tên Đ), thửa số 688 (đứng tên Đặng thị Bích Thủy), thửa số 684 (đứng tên Nguyễn Thị T2) có một lối đi chiều dài phía Tây 50,87m và chiều dài phía Nam 53,84m. Lối đi này có điểm đầu giáp ngã tư đường liên thôn và điểm cuối ngay ranh đất thửa đất 685 (đứng tên Đào Đ1 và bà Đào Thị H).

- Bản đồ địa chính năm 2016 thể hiện giữa nhà đất ông Đoàn N3, Đào Đức N2, Huỳnh Thị S, Đào Đ, Đào Minh T3, Nguyễn Thị T2 có một lối đi. Lối đi này có điểm đầu giáp đường liên thôn và điểm cuối giáp ranh nhà đất bà Đặng Thị D (chiều rộng lối đi ngay trước ranh đất bà Đặng Thị D là 3.53m).

- Biên bản xác minh ngày ngày 05/4/2024 tại Ban nhân dân thôn Â, xã H thể hiện: “Theo thông tin mà Ban N7 nắm được từ những người cao tuổi tại khu vực có lối đi đang tranh chấp này thì lối đi này là lối đi chung có từ trước chế độ cũ. Lối đi này ban đầu đầu dẫn vào nhà bà Đặng Thị D (mẹ các đồng bị đơn) và ông Đào Minh T3. Trải qua nhiều lần đo đạc, kê khai ruộng đất cho đến nay thì vẫn xác định lối đi đang tranh chấp này vẫn là lối đi chung, không thuộc quyền sử dụng của riêng ai. Quan điểm của Ban N7 xác định lối đi đang tranh chấp này là lối đi chung, bà S vẫn được quyền đi lại trên lối đi chung này. Tuy nhiên, bà S vẫn phải có trách nhiệm chia sẻ kinh phí xây dựng để bê tông hóa lối đi chung này. Hiện nay, trên lối đi chung này chỉ có các hộ bà S, bà D, ông T3 và bà N2 sử dụng. Các ông V1, T, V, T1 ở nơi khác trong thôn”.

- Biên bản xác minh ngày 05/4/3024, bà Đào Thị N4 cung cấp: "Theo tôi được biết thông qua cha tôi là ông Đào Đ (hiện nay đã 99 tuổi còn minh mẫn, nghe được nói, nói được) nói lại: Trước đây ông bà nội tôi (tức Đào N5) có đất rộng vì muốn có người ở cho vui nên có bán phần đất phía sau nhà cho ông bà N6 (tức ông nội của Đào Minh T3 và là cha chồng bà Đặng Thị D) một diện tích đất và có mở lối đi nhỏ để vào đất của ông bà Năm tức lối đi hiện nay các bên đang tranh chấp. Trong quá trình sử dụng thì cha tôi là Đào Đ có mở rộng lối đi này thêm về phía đất nhà ông Đào Đ để các hộ phía trong đi cho rộng rãi. Như vậy lối đi này là lối đi chung đã tổn tại từ rất lâu”

Tại biên bản xác minh ngày 11/01/2024, Ủy ban nhân dân xã H cung cấp: “Theo hồ sơ địa chính xã và Bản đồ đo đạc năm 1993 được lưu trữ tại Ủy ban nhân dân xã H tại bản đồ số 302D thôn Â, xã H thể hiện khi đo đạc bản đồ năm 1993 đã thể hiện con đường đi từ đầu là hộ Đào Đức N2 đến cuối đường là nhà ông Đào Đ1 bà Đào Thị H có chiều dài khoảng 65m. Bản đồ năm 1993 thể hiện đây là đường đi chung do Ủy ban nhân dân xã Q, không cân đối cho bất cứ hộ gia đình nào và không hộ gia đình nào kê khai trong quá trình sử dụng đất. Đến khi bản đồ đo đạc năm 2016 cũng thể hiện đây là lối đi chung, không phải của riêng của bất kỳ hộ gia đình nào".

Các tài liệu nêu trên được Tòa án thu thập đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự nên là chứng cứ của vụ án. Với các chứng cứ này, Hội đồng xét xử có căn cứ khẳng định: Lối đi dài 64,15m (theo bản vẽ của Văn phòng Đ3 chi nhánh huyện P lập ngày 08/4/2024) hiện các bên đang tranh chấp là lối đi chung. Lối đi chung này được tồn tại từ trước năm 1993, đến khi đo đạc bản đồ địa chính năm 1993, 2016 cũng thể hiện đây là lối đi chung. Nội dung này phù hợp với các nhân chứng là người cao tuổi tại khu vực này, phù hợp với các ý kiến của các thành viên Hội đồng hòa giải tại buổi hòa giải tại Ủy ban nhân dân xã H và phù hợp với giấy thuận cho đường đi chung lập ngày 06/11/2018 của ông Đào Đ (B1 26). Việc các bị đơn ông V1, ông T1 cho rằng lối đi này là do cha mẹ ông mua lại, lối đi này là của gia đình ông nhưng các ông không xuất trình tài liệu chứng cứ gì để chứng minh.

[2.2] Như trên đã nhận định lối đi đang tranh chấp hiện nay là lối đi chung do đó mọi chủ thể đều có quyền tiếp cận, đi lại trên lối đi chung này mà không được bất kỳ ai có quyền cản trở. Các đồng bị đơn chỉ đồng ý dành cho các hộ gia đình họ Đ2 sử dụng lối đi chung như hộ gia đình các đồng bị đơn, hộ gia đình Đào Minh T3 và hộ gia đình Đào Thị N1 mà không cho gia đình hộ bà Huỳnh Thị S tiếp cận, đi lại và sử dụng lối đi chung này là phân biệt, vô lý, vi phạm lẽ công bằng, vi phạm nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại khoản 1 Điều 3 Bộ luật Dân sự và thuộc hành vi bị nghiêm cấm được quy định tại khoản 10 Điều 12 Luật Đất đai. Mặt khác, đồng bị đơn cho rằng bà S có cam kết không đi lại, sử dụng, tiếp cận lối đi này nhưng không có tài liệu chứng cứ gì để chứng minh. Do đó việc các đồng bị đơn có hành vi dùng các thanh sắt hàn lại với nhau, trồng trụ bê tông để bít cổng ra vào nhà nguyên đơn bà S là hành vi cản trở nguyên đơn bà S quyền tiếp cận sử dụng lối đi chung, đây là hành vi cản trở là trái pháp luật và cần phải tháo dỡ.

[3] Về sự tự nguyện đóng góp kinh phí sửa chữa đường bê tông chung: Nguyên đơn bà S tự nguyện đóng góp kinh phí 3.000.000 đồng để xây dựng, sửa chữa đường bê tông chung. Xét đây là sự tự nguyên không trái pháp luật, đạo đức xã hội nên cần ghi nhận. Tại phiên tòa, các đương sự đều thống nhất kinh phí bê tông hóa lối đi do hộ bà Đặng Thị D (mẹ các đồng bị đơn) và hộ ông Đào Minh T3 bỏ ra nên số tiền 3.000.000 đồng sẽ được giao lại cho đại diện của hai hộ nhận.

[4] Về chi phí thẩm định tại chỗ và chi phí định giá tài sản: Nguyên đơn bà Huỳnh Thị S tự nguyện chịu chi phí thẩm định tại chỗ, chi phí đo vẽ là 3.282.000 đồng. Xét đây là sự tự nguyên không trái pháp luật, đạo đức xã hội. Căn cứ Điều 157 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị S.

[5] Về án phí dân sự sơ thẩm: Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Các đồng bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả lại tiền tạm ứng án phí cho nguyên đơn đã nộp.

Quan điểm giải quyết vụ án của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Hòa tại phiên tòa là có căn cứ nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 26, 45, 92, 147, 157, 158, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Căn cứ Điều 12, 170, 203 Luật Đất đai năm 2013.

Căn cứ các Điều 3, 10, 11, 175 Bộ luật Dân sự 2015.

Tuyên xử:

1. Chấp yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Huỳnh Thị S đối với các đồng bị đơn (Đào Thanh V, Đào Thanh T1, Đào Thanh V1, Đào Thanh T) về việc tranh chấp lối đi chung; buộc chấm dứt hành vi cản trở quyền đi lại trên lối đi chung và buộc tháo dỡ vật kiến trúc cản trở lối đi vào nhà của nguyên đơn bà Huỳnh Thị S.

2. Xác định lối đi (đường bê tông) có chiều dài 64,15m (theo bản vẽ của Văn phòng Đ3 chi nhánh huyện P lập ngày 08/4/2024) là lối đi chung do Ủy ban nhân dân xã H quản lý. Lối đi chung (đường bê tông) này có điểm đầu giáp đường liên thôn  (giáp nhà ông Đoàn N3) và điểm cuối giáp ranh nhà đất bà Đặng Thị D.

3. Nguyên đơn bà Huỳnh Thị S được quyền đi lại, tiếp cận lối đi chung (đường bê tông). Buộc các đồng bị đơn (Đào Thanh V, Đào Thanh T1, Đào Thanh V1, Đào Thanh T) chấm dứt hành vi cản trở quyền đi lại, tiếp cận lối đi chung của bà Huỳnh Thị S. Buộc các đồng bị đơn (Đào Thanh V, Đào Thanh T1, Đào Thanh V1, Đào Thanh T) tháo dỡ 03 trụ bê tông (trụ thứ 3 đến trụ thứ 5 tính từ mép nhà bà Huỳnh Thị S theo hướng từ N ra B) cùng 03 thanh sắt phi 18 và 01 cây sắt hộp 2x4 rào đứng; 03 hàng sắt rào ngang gồm sắt 2x4cm; 2x2cm vuông và sắt V3 được hàn dính vào các trụ sắt. Chiều dài của đoạn buộc tháo dỡ là 3,35m ngay trước cổng nhà bà Huỳnh Thị S.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Ghi nhận sự tự nguyện của Nguyên đơn bà Huỳnh Thị S đóng góp kinh phí 3.000.000 đồng để xây dựng, sửa chữa đường bê tông chung. Số tiền này được giao cho đại diện của hộ bà Đặng Thị D (mẹ các đồng bị đơn) và hộ ông Đào Minh T3.

5. Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự. Buộc các đồng bị đơn (Đào Thanh V, Đào Thanh T1, Đào Thanh V1, Đào Thanh T) phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho nguyên đơn bà Huỳnh Thị S 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp đủ tại biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010197 ngày 24/10/2023 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Hòa.

6. Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và chi phí bản vẽ: Ghi nhận tự nguyện chịu chi phí thẩm định tại chỗ, chi phí đo vẽ là 3.282.000 đồng của nguyên đơn bà Huỳnh Thị S, đã nộp đủ không phải nộp thêm.

7. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

- TAND tỉnh Phú Yên(01);

- VKSND H. Phú Hòa (02);

- CC THADS H. Phú Hòa (01);

- Các đương sự (02);

- Lưu HS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Lê Minh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2024/DS-ST ngày 04/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN về tranh chấp lối đi chung, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật và tháo gỡ vật kiến trúc trên đất

  • Số bản án: 12/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Lối đi chung, chấm dứt hành vi cản trở trái pháp luật và tháo gỡ vật kiến trúc trên đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 04/06/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ HÒA, TỈNH PHÚ YÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger