| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Bản án số: 12/2021/KDTM-ST Ngày: 30-3-2021 V/v tranh chấp hợp đồng gia công và thuê nhà xưởng | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Mai Thị Bích Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Liên.
- Ông Nguyễn Bảo Lâm
- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Thủy là Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Trương Hà Linh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 3 năm 2021, tại phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Tân Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 128/2020/TLST-KDTM ngày 03 tháng 11 năm 2020 về : “Tranh chấp hợp đồng thuê nhà xưởng và hợp đồng gia công” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2021/QĐXXST-KDTM ngày 15 tháng 3 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên D; địa chỉ: Thôn O, xã Đ, huyện S, tỉnh Q.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Ông Phí Mạnh H; địa chỉ: Đường U, phường A, quận Bình Tân là người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn (giấy ủy quyền số x/UQ-DQS ngày x/x/202x). (Có mặt)
Bị đơn: Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1; trụ sở: Đường R, Phường B, quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn: Bà Lưu Thị Hoàng I; địa chỉ: Đường N, Phường Y, quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh là người đại diện theo ủy quyền (giấy ủy quyền không số ngày x/x/202x. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện nộp ngày 15 tháng 7 năm 2020 cũng như các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên D (sau đây gọi là nguyên đơn) do ông Phí Mạnh H là người đại diện theo ủy quyền trình bày: Ngày 04/5/2018, nguyên đơn và Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 (sau đây gọi là bị đơn) có ký kết Hợp đồng số 035/HĐKT-2018 về việc thuê mặt bằng nhà xưởng; gia công chế tạo và sơn ống. Thực hiện hợp đồng, nguyên đơn đã hoàn thành tất cả công việc và các nội dung cam kết đã thỏa thuận. Trong khoảng thời gian từ tháng 8/2018 đến tháng 12/2018, căn cứ theo tiến độ công việc đã thực hiện, nguyên đơn đã xuất hóa đơn với tổng số tiền 2.876.937.989 đồng, bị đơn chỉ tiến hành thanh toán được 2.648.753.128 đồng. Sau khi được nghiệm thu hoàn thành công việc theo hợp đồng đã ký, ngày 30/6/2019, hai bên tiến hành lập hồ sơ quyết toán, ký biên bản thanh lý hợp đồng với tổng giá trị quyết toán là 3.728.632.371 đồng và xác nhận giá trị còn lại mà bị đơn phải thanh toán cho nguyên đơn là 1.079.879.243 đồng. Cùng ngày, nguyên đơn cũng đã xuất hóa đơn với số tiền bị đơn còn thiếu chưa xuất hóa đơn 851.694.382 đồng.
Từ khoảng tháng 7/2019 đến thời điểm khởi kiện, nguyên đơn đã nhiều lần gửi công văn đề nghị bị đơn thanh toán số tiền còn thiếu nhưng bị đơn không thực hiện cũng như không có bất kỳ văn bản nào phản hồi.
Sau khi Tòa án thụ lý, qua nhiều buổi làm việc, hòa giải tuy bị đơn đề nghị được thanh toán thành nhiều đợt, gia hạn thời gian nhưng bị đơn chỉ chuyển trả cho nguyên đơn được 100.000.000 đồng tiền gốc vào ngày 29/12/2020. Do bị đơn kéo dài thời gian, không có thiện chí thanh toán công nợ nên nguyên đơn yêu cầu bị đơn trả ngay một lần số toàn bộ số tiền gốc còn thiếu là 979.879.243 đồng cùng với việc phải thanh toán tiền lãi phát sinh tạm tính từ ngày 01/8/2019 đến ngày xét xử theo quy định tại Điều 8, khoản 8.2 của hợp đồng tính trên số tiền còn thiếu theo mức lãi suất của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân đội.
Quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, bà Lưu Thị Hoàng I là người đại diện theo ủy quyền của bị đơn – Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 trình bày: B bị đơn xác nhận quá trình giao kết, thực hiện, việc ký biên bản nghiệm thu, xác nhận giá trị quyết toán cũng như số tiền gốc đã trả, số tiền gốc còn thiếu như đại diện nguyên đơn trình bày. Do bị đơn gặp khó khăn tài chính, tình hình dịch Covid nên chưa có khả năng thanh toán một lần toàn bộ số tiền gốc và lãi như nguyên đơn yêu cầu. Bị đơn mong được gia hạn thời gian thanh toán đến hết tháng 12/2021, phương thức thanh toán làm nhiều đợt và đề nghị nguyên đơn xem xét giảm, miễn lãi.
Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không thành.
Tại phiên tòa hôm nay:
Ông Phí Mạnh H trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ những lời trình bày trước đây. Theo thỏa thuận tại hợp đồng đã ký, hai bên thỏa thuận lãi suất chậm thực hiện nghĩa vụ theo lãi suất tín dụng của Ngân hàng Quân đội là 8,2%/năm. Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên phải chịu tiền lãi chậm thanh toán theo mức lãi suất nợ quá hạn là 12,3%/năm (8,2%/năm x 150%). Thời điểm bị đơn thanh toán sau 30 ngày kể từ ngày nhận nghiệm thu, quyết toán (là ngày 30/6/2019), do đó ngày 1/8/2019 là ngày bị đơn có nghĩa vụ thanh toán số tiền gốc 1.079.879.243 đồng. Đến ngày 29/12/2020, bị đơn thanh toán được số tiền gốc 100.000.000 đồng nên số tiền gốc còn lại 979.879.243 đồng được tính lãi từ ngày 30/12/2020 đến ngày xét xử. Vậy, thời điểm tính lãi được tính theo 2 giai đoạn, cụ thể:
- Giai đoạn tính từ ngày 01/8/2019 đến 29/12/2019: 1.079.879.243 đồng x 12,3% /365 ngày x 516 ngày = 187.774.728 đồng
- Giai đoạn tính từ ngày 30/12/2019 đến 30/3/2021: 979.879.243 đồng x 12,3% /365 ngày x 90 ngày = 29.718.529 đồng
Tổng số tiền bị đơn phải trả cho nguyên đơn là 1.197.327.500 đồng, gồm 979.879.243 đồng tiền gốc và 217.493.257 đồng tiền lãi. Yêu cầu trả một lần ngay sau khi bản án của Tòa có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra bị đơn phải tiếp tục trả tiền lãi phát sinh kể từ ngày 31/3/2021 cho đến khi thanh toán hết các khoản nợ.
Bà Lưu Thị Hoàng I trình bày: Bà vẫn giữ nguyên những lời trình bày trước đây. Bà đề nghị nguyên đơn xem xét và tạo điều kiện để bị đơn thanh toán như đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu:
Về tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến khi có Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Thẩm phán thực hiện đúng quy định của pháp luật và tại phiên tòa Hội đồng xét xử thực hiện đúng theo trình tự tố tụng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ và lời trình bày của đại diện nguyên đơn tại phiên tòa ngày hôm nay thì yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở chấp nhận nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ tranh chấp: Theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đây là vụ án “Tranh chấp hợp đồng gia công và thuê nhà xưởng” phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận theo quy định tại khoản 1 Điều 30 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.2] Về thẩm quyền: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện bị đơn có địa chỉ trụ sở chính tại quận Tân Bình nên Tòa án nhân dân quận Tân Bình thụ lý và giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[1.3] Về việc tham gia phiên tòa của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình: Trong vụ án này, Tòa án có thu thập chứng cứ nên Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình tham gia phiên tòa sơ thẩm theo quy định tại Điều 21 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
[2.1] Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc bị đơn thanh toán số tiền gốc 979.879.243 đồng, thấy: Theo hợp đồng kinh tế số 035/HĐKT-2018 do 2 bên ký ngày 04/5/2018, thể hiện tại thời điểm giao kết các chủ thể có đầy đủ năng lực pháp luật, trên nguyên tắc tự nguyện, bình đẳng, không trái pháp luật và về hình thức, nội dung của hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật nên phát sinh hiệu lực giữa các bên ký kết. Mặt khác, bị đơn xác nhận số tiền gốc còn thiếu như nguyên đơn yêu cầu nhưng lại không thực hiện nghĩa vụ thanh toán theo quy định tại Điều 183 Luật thương mại nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của nguyên đơn.
[2.2] Về yêu cầu bị đơn trả số tiền lãi do chậm thanh toán là 217.493.257 đồng: Theo mục 8.2 Điều 8 của hợp đồng trên, các bên thỏa thuận về việc thanh toán trễ hạn. Xét, do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán quá thời hạn thỏa thuận nên phải chịu lãi theo Điều 306 Luật Thương mại năm 2005. Về mức lãi suất, nguyên đơn yêu cầu 12.3%/năm là có lợi cho bị đơn so với mức lãi suất nợ quá hạn trung bình của 3 ngân hàng (15,3%/năm) nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Về thời gian tính lãi, đối chiếu với thỏa thuận tại Điều 4, Hội đồng xét xử xác định thời điểm tính lãi từ ngày 30/12/2020 đến ngày xét xử là có cơ sở.
[2.3] Về thời hạn và phương thức thanh toán: Xét bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán và nguyên đơn không đồng ý đề nghị của bị đơn nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn về việc buộc bị đơn thanh toán một lần toàn bộ số nợ gốc và lãi trên.
[2.4] Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí trên toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các quy định pháp luật tố tụng và nội dung, Hội đồng xét xử tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn – Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên D.
- Buộc Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 có trách nhiệm thanh toán cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên D tổng số tiền tính đến ngày 30/3/2021 là: 1.197.327.500 đồng (Một tỷ một trăm chín mươi bảy triệu ba trăm hai mươi bảy ngàn năm trăm đồng).
- Án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm: Bị đơn phải chịu án phí 47.919.825 đồng.
| Nơi nhận: - TAND TP.HCM; - VKSND Q.TB; - CCTHADS Q.TB; - Các đương sự; - Lưu VP, Hồ sơ (...). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Mai Thị Bích Thảo |
Bản án số 12/2021/KDTM-ST ngày 30/03/2021 của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng gia công và thuê nhà xưởng
- Số bản án: 12/2021/KDTM-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng gia công và thuê nhà xưởng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/03/2021
- Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Công ty Trách nhiệm hữu hạn Một thành viên D yêu cầu Công ty Trách nhiệm hữu hạn H1 có trách nhiệm thanh toán số tiền còn thiếu theo Hợp đồng đã ký
