Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯
Bản án số: 12/2021/HS-ST
Ngày 02-3-2021
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quang Kiên

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Phin;
  2. Bà Đinh Thị Kiều Nhung.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hương Thảo - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Vũ Thị Quyên - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 04/2021/TLST-HS, ngày 07 tháng 01 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 13/2021/QĐXXST-HS, ngày 18 tháng 02 năm 2021, đối với bị cáo:

BHT, sinh ngày 27 tháng 10 năm 1985 tại Hải Phòng; ĐKHKTT và trú tại: Số nhà 195, đường A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông D và bà E; có vợ là F, có hai con: Con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2010; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Bản án số 58/2005/HSST ngày 14-7-2005 Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xử phạt 18 tháng tù về tội Cố ý gây thương tích; bị tạm giữ ngày 28-7-2020, tạm giam ngày 01-8-2020; có mặt.

- Bị hại:

  • Chị BH1, sinh năm 1979; địa chỉ: Tổ 5, khu 2, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh; vắng mặt.
  • Chị BH2, sinh năm 1978; địa chỉ: Tổ dân phố I, xã J, huyện K, tỉnh Bắc Giang; vắng mặt.
  • Chị BH3, sinh năm 1982; địa chỉ: Thôn 10, xã L, huyện M, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  • Chị BH4, sinh năm 1989; địa chỉ: Thôn N, xã O, huyện P, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
  • Chị BH5, sinh năm 1968; địa chỉ: Thôn Q, xã R, huyện S, tỉnh Hải Dương; vắng mặt.
  • Chị BH6, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn T, xã U, huyện V, tỉnh Hưng Yên; vắng mặt.

- Người làm chứng: Anh NLC1, anh NLC2, anh NLC3, anh NLC4, anh NLC5 và ông NLC6; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 27-7-2020, tại khu vực trước số nhà 50, đường W, phường X, quận C, Hải Phòng, Cơ quan Công an bắt quả tang BHT có hành vi chiếm đoạt của chị BH1, trú tại: Tổ 5, khu 2, phường G, thành phố H, tỉnh Quảng Ninh số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng. Thu giữ 01 (một) điện thoại di động Iphone 6, màu xám đen, số IMEI: 352073063396254, lắp sim số điện thoại 0936888354 của BHT và 01 (một) tờ tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng, có số seri: FK 13449271.

Tiến hành xét hỏi BHT khai nhận: Khoảng đầu tháng 7 năm 2019, BHT phát hiện tại khu vực ngã tư Metro, phường X, quận C có một số phụ nữ gồm: Chị BH1, chị BH2, chị BH3, chị BH4, chị BH5 và chị BH6 làm công việc tẩm quất, mát xoa cho khách qua đường nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tiền của những người này để tiêu xài cá nhân. BHT đã thường xuyên gặp trực tiếp hoặc sử dụng các số điện thoại: 0936888354, 0795247219 và 0987120478 gọi điện, nhắn tin chửi bới, đe dọa, thậm chí dùng vũ lực đánh để đe dọa, nhằm uy hiếp tinh thần, ép buộc họ phải miễn cưỡng nộp tiền cho BHT hàng ngày để được làm tại khu vực ngã tư Metro. Nếu ai không nộp, nộp chậm hoặc nộp thiếu tiền thì sẽ bị BHT không cho làm. Hàng ngày, khoảng từ 23 giờ đến 24 giờ BHT sử dụng xe môtô Dream II màu trắng, nâu (chưa xác định được biển kiểm soát) mượn của bạn là NLC2, trú tại: Thôn Ngô Hùng, An Hồng, An Dương, Hải Phòng đến gặp trực tiếp các phụ nữ trên tại khu vực ngã tư Metro để thu tiền. Nếu không đến được thì BHT yêu cầu chị BH2 hoặc chị BH4 thu tiền của những người còn lại, kể cả tiền của chị BH2 và chị BH4 rồi mang đến khu vực ngã tư A, B, C để nộp cho BHT, nếu chưa có thì phải nộp vào ngày hôm sau, hoặc phải nạp thẻ điện thoại, thẻ game tương ứng với số tiền phải nộp mỗi ngày. Từ đầu tháng 7-2019 đến khoảng cuối tháng 6-2020 BHT thu 150.000 đồng/1 người/1 ngày. Từ đầu tháng 7-2020 BHT thu 100.000 đồng/1 người/1 ngày. Tính đến ngày 27-7-2020 BHT đã nhiều lần chiếm đoạt tài sản (tiền) của các chị: BH1, BH2, BH3, BH4, BH5 và BH6; số tiền chiếm đoạt của mỗi người cụ thể là: Chị BH1 khoảng 2.000.000 (hai triệu) đồng, chị BH2 khoảng 15.000.000 (mười năm triệu) đồng, chị BH3 khoảng 10.000.000 (mười triệu) đồng, chị BH4 khoảng 9.000.000 (chín triệu) đồng, chị BH5 khoảng 3.000.000 (ba triệu) đồng và chị BH6 khoảng 3.000.000 (ba triệu) đồng. Tổng số tiền chiếm đoạt khoảng 42.000.000 (bốn mươi hai triệu) đồng và BHT đã sử dụng vào mục đích cá nhân hết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên được phân công điều tra vụ án, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên được phân công kiểm sát điều tra và kiểm sát xét xử, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện, tuân thủ đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án đều hợp pháp.

[2] Chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên tòa, bị cáo BHT đã khai nhận về hành vi đe dọa bằng lời nói trực tiếp hoặc thông qua gọi điện thoại để cưỡng ép, buộc các người bị hại phải đưa tiền cho bị cáo nhiều lần trong khoảng thời gian từ đầu tháng 7 năm 2019 đến ngày 27-7-2020 (ngày bị cáo bị bắt giữ quả tang).

[5] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại và người làm chứng, phù hợp với vật chứng đã thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo BHT đã phạm tội “Cưỡng đoạt tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 170 Bộ luật Hình sự.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo BHT 04 (bốn) năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, ngày 28-7-2020.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ 01 điện thoại di động Iphone 6, màu xám đen, số IMEI: 352073063396254, lắp sim số điện thoại 0936888354.

Trả lại cho chị BH1 01 (một) tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng có số seri: FK13449271.

Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14: Bị cáo BHT phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng, án phí hình sự sơ thẩm.

Nơi nhận:
- TAND thành phố Hải Phòng;
- VKSND thành phố Hải Phòng;
- VKSND quận Hồng Bàng;
- Công an thành phố Hải Phòng;
- CQĐT - Công an quận Hồng Bàng;
- Chi cục THADS quận Hồng Bàng;
- Sở Tư pháp Hải Phòng;
- Trại tạm giam Công an TP. Hải Phòng;
- Bị cáo; bị hại;
- Lưu: HS, VT.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Nguyễn Quang Kiên
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 12/2021/HS-ST ngày 02/03/2021 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng về cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 12/2021/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/03/2021
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cưỡng đoạt tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger