|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 12/2021/HNGĐ-PT Ngày: 01/7/2021 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, về cấp dưỡng, chia tài sản và nợ khi ly hôn”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Ông Phạm Tiến Hiệp |
| Các Thẩm phán: | Ông Bùi Văn Bình Ông Nguyễn Văn Thư |
Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thúy Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Chuyên - Kiểm sát viên.
Trong ngày 24 tháng 6 và ngày 01 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số 03/2021/HNGĐ-PT ngày 11 tháng 3 năm 2021 về “Ly hôn, tranh chấp nuôi con, chia tài sản và nợ khi ly hôn”.
Do Bản án Hôn nhân gia đình sơ thẩm số 04/2021/HNGĐ - ST ngày 29 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Bình Phước bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 06/2021/QĐXXPT-HNGĐ ngày 11 tháng 5 năm 2021, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1984; HKTT: tổ 7, ấp 4, thị trấn T, huyện HQ, tỉnh Bình Phước; tạm trú tại: tổ 03, ấp 03, xã M, huyện CT, tỉnh Bình Phước. Có mặt.
- Bị đơn: Ông Th, sinh năm 1979; HKTT: tổ 7, ấp 4, thị trấn T, huyện HQ, tỉnh Bình Phước; tạm trú tại: tổ 03, ấp 03, xã M, huyện CT, tỉnh Bình Phước. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam; địa chỉ trụ sở: số 2, Láng Hạ, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T, chức vụ: Tổng Giám đốc; người đại diện theo ủy quyền: Ông Trương Minh Tr, chức vụ: Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện HQ Tây Bình Phước; người đại diện theo ủy quyền lại: Ông Nguyễn Minh M, chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam – Chi nhánh huyện H Tây Bình Phước. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Q trình bày:
Bà Nguyễn Thị Q và ông Th tự nguyện kết hôn năm 2007 theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08 ngày 25/01/2007 của Ủy ban nhân dân xã Tân Khai, huyện Bình Long (nay là thị trấn TK, huyện HQ), tỉnh Bình Phước. Từ đầu năm 2019, cuộc sống hôn nhân của bà Q và ông Th phát sinh mâu thuẫn do ông Th ham chơi, không chăm lo cho gia đình. Từ tháng 02/2019 đến nay, vợ chồng đã sống ly thân không còn quan tâm, yêu thương nhau. Nay bà Q nhận thấy mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho ly hôn với ông Th.
Trong thời gian chung sống, bà Q và ông Th có 02 con chung tên Mạc Duy Đ, sinh ngày 18/11/2007 và Mạc Anh T, sinh ngày 05/8/2012. Bà Q yêu cầu Tòa án giao hai con cho bà trực tiếp nuôi dưỡng. Bà Q yêu cầu ông Th có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 con chung mỗi tháng 2.000.000 đồng trên mỗi con, cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Quá trình chung sống bà Q và ông Th có tạo lập được tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất diện tích 8030.2m2, thuộc thửa đất số 138, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp 3, xã M, huyện CT, tỉnh Bình Phước, Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS 502493 mang tên ông Th và bà Nguyễn Thị Q và toàn bộ tài sản gắn liền với đất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào hồ sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Đơn kháng cáo của bị đơn ông Th làm trong thời hạn luật định, có nội dung và hình thức phù hợp với quy định pháp luật, nên được xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
[2] Ông Th và bà Nguyễn Thị Q kết hôn ngày 25/01/2007. Trong thời kỳ hôn nhân, ông bà đều thừa nhận cùng tạo lập được khối tài sản chung là quyền sử dụng thửa đất diện tích 8030.2m2, thuộc thửa đất số 138, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp 3, xã M, huyện CT, tỉnh Bình Phước.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Th. Sửa một phần Bản án hôn nhân gia đình sơ thẩm số 04/2021/HNGĐ - ST ngày 29 tháng 01 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện CT, tỉnh Bình Phước về phần chia tài sản và nợ chung.
Tuyên xử:
1. Về tài sản:
- Chia cho bà Nguyễn Thị Q được quyền sử dụng phần đất (ký hiệu là thửa đất số 2) diện tích 3751,8m2 (trong đó có 300m2 đất ở nông thôn, còn lại là đất trồng cây hàng năm) trong thửa đất số 138, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp 3, xã M, huyện CT, tỉnh Bình Phước.
- Chia cho ông Th quyền sử dụng phần đất (ký hiệu là thửa đất số 1) diện tích 4.278,4m2 đất trồng cây hàng năm trong thửa đất số 138, tờ bản đồ số 11, tọa lạc tại ấp 3, xã M, huyện CT, tỉnh Bình Phước.
2. Về nghĩa vụ thanh toán giá trị tài sản chênh lệch: Ghi nhận sự thoả thuận, bà Nguyễn Thị Q có nghĩa vụ trả ông Th 250.000.000 đồng.
|
Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Phước; - TAND huyện CT; - Chi cục THADS huyện CT; - Các đương sự; - Lưu: Tổ HCTP, T.GĐ&NCTN; - Hồ sơ vụ án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Phạm Tiến Hiệp |
Bản án số 12/2021/HNGĐ-PT ngày 01/07/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước về ly hôn, tranh chấp về nuôi con, về cấp dưỡng, chia tài sản và nợ khi ly hôn
- Số bản án: 12/2021/HNGĐ-PT
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, về cấp dưỡng, chia tài sản và nợ khi ly hôn
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 01/07/2021
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Bình Phước
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chia tài chung của vợ chồng khi ly hôn
