|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG TỈNH BÌNH PHƯỚC Bản án số: 12/2021/DS-ST Ngày: 09/4/2021 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất” |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ PHƯỚC LONG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Phán
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Khoa Nam, ông Huỳnh Văn Đường
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Ý – Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Thảo – Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24 tháng 9 năm 2020, ngày 05 tháng 10 năm 2020 và 09 tháng 4 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ vụ án dân sự thụ lý số 14/2019/TLST-DS, ngày 17 tháng 12 năm 2019 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 24/2020/QĐ-ST ngày 11 tháng 9 năm 2020, giữa:
- - Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bạch M, sinh năm 1954, địa chỉ: Khu phố 3, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước (có mặt).
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà M: Ông Nguyễn Ghi Khâm – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bình Phước (có mặt).
- - Bị đơn: Chị Nguyễn Thị B, sinh năm 1987 (có mặt) và bà Nguyễn Thị Ngọc N, sinh năm 1966 (có mặt), cùng địa chỉ: Khu phố 3, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước.
- - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1955 (có mặt);
- Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1964 (có mặt);
- Ông Nguyễn Văn M, sinh năm 1970 (có mặt);
- Chị Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1993 (có mặt). Cùng địa chỉ: Khu phố 3, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước;
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1965 (vắng mặt);
- Chị Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1992 (vắng mặt), cùng địa chỉ: Thôn X, xã N, thị xã H, tỉnh Khánh Hòa;
- Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1989 (vắng mặt);
- Bà Nguyễn Thị Tuyết H, sinh năm 1959 (vắng mặt), cùng địa chỉ: Thôn B, xã Đ, huyện M, tỉnh Bình Phước;
- - Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1959, địa chỉ: Khu phố 3, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 12-12-2019 cũng như tại phiên tòa Nguyên đơn: Bà Trần Thị Bạch M và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Nguyễn Ghi Khâm thống nhất trình bày:
Ông Nguyễn Văn C và bà Trần Thị Bạch M chung sống với nhau từ năm 1992 nhưng đến ngày 06/12/2002 mới đăng ký kết hôn tại Thị trấn Phước Bình, huyện Phước Long (nay là Phường L, thị xã P), tỉnh Bình Phước. Ông C và bà M có 02 người con chung tên Nguyễn Thị Ngọc T, sinh năm 1992 và Nguyễn Thị Ngọc C, sinh năm 1993. Cụ Nguyễn Thị T (sau đây gọi là cụ Tám) là mẹ ông Chanh, được UBND huyện Phước Long cấp quyền sử dụng đất số Y 339181 ngày 26-5-2004 cho hộ bà Nguyễn Thị T diện tích 1.555m2 đất tọa lại tại Khu phố 3, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Năm 1992 cụ Tám cho ông C và bà M diện tích đất 229m2 nằm trong diện tích 1.555m2 dựng nhà tranh tre trên đất để ở. Đến năm 2007 khi cụ Tám còn sống thì ông C và bà M xây dựng căn nhà cấp 4 trên đất, ông Chanh và bà M cùng các con sử dụng căn nhà và phần diện tích đất 229m2 liên tục từ năm 1992 đến nay, đồng thời đóng thuế nhà đất theo quy định mà không có tranh chấp với anh em nào trong gia đình hay có khiếu nại gì về việc ông Chanh và bà M sử dụng đất và xây nhà trên đất. Năm 2009 cụ Tám chết, không để lại di chúc, các anh chị em trong nhà có làm giấy cam kết không tranh chấp thừa kế và có giao diện tích đất 1.555m2 cho bà Nguyễn Thị Ngọc N đứng tên quyền sử dụng đất. Năm 2017 thì bà Nguyễn Thị Ngọc N có ký hợp đồng tặng cho chị Nguyễn Thị B toàn bộ diện tích đất trên. Hiện chị Bích đã chuyển nhượng hết và chỉ còn lại diện tích 229m2 đang tranh chấp.
Nay bà M yêu cầu chị Bích và bà Nga trả lại diện tích đất diện tích đất 229m2 (trong đó có 50m2 đất ở đô thị), tại thửa số 425, tờ bản đồ số 24, tọa lạc tại khu phố 3, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Tòa án nhận định:
Về tố tụng: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà M yêu cầu bị đơn chị Bích và bà Nga phải trả lại diện tích đất 229m2 thuộc thửa số 425, tờ bản đồ số 24, tọa lạc tại khu phố 3, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Tại phiên tòa nguyên đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện theo kết quả đo đạc ngày 22/3/2021 là 233,6 m2 đất theo hiện trạng diện tích đất tranh chấp, nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về nội dung tranh chấp: Xác định nguồn gốc và quá trình sử dụng diện tích đất tranh chấp 229m2 tại khu phố 3, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước: Ông Chanh và bà M là vợ chồng chung sống với nhau từ năm 1992. Ông Chanh và bà M được cụ Tám là mẹ ông Chanh cho diện tích đất 229m2 nằm trong diện tích 1.555m2 đất tọa lại tại Khu phố 3, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước. Năm 1992 ông Chanh và bà M ra ở riêng, dựng nhà tranh tre trên đất để ở. Đến năm 2007 khi cụ Tám còn sống thì ông Chanh và bà M xây dựng căn nhà cấp 4 trên đất, ông Chanh và bà M cùng các con sử dụng căn nhà và phần diện tích đất 229m2, thực hiện nghĩa vụ đóng thuế nhà đất cho Nhà nước theo quy định liên tục từ năm 1992 đến nay mà không có tranh chấp với anh em nào trong gia đình.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm c khoản 1 Điều 39; các Điều 147, 157, 227, 228, 264 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự; Áp dụng khoản 1 Điều 688; Điều 8; Điều 221 và Điều 222 của Bộ luật dân sự năm 2015; Áp dụng các Điều 14 của Luật đất đai năm 1987; Điều 26 của Luật đất đai năm 1993; Điều 38 của Luật đất đai năm 2003; Điều 26 và Điều 106 của Luật đất đai năm 2013.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị Bạch M.
- Bà Trần Thị Bạch M được quyền sử dụng diện tích đất 229m2 (theo kết quả đo đạc ngày 22/3/2021 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã Phước Long là 233,6 m2), trong đó có 50m2 đất ở đô thị, thuộc thửa số 425, tờ bản đồ số 24, tọa lạc tại khu phố 3, phường L, thị xã P, tỉnh Bình Phước.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Nguyên đơn bà Trần Thị Bạch M không phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm. Bị đơn phải nộp tiền án phí dân sự sơ thẩm là 66.000.000 đồng.
|
Nơi nhận: - TAND, VKSND tỉnh Bình Phước; - VKSND thị xã Phước Long; - Chi cục THADS thị xã Phước Long; - Các Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án, Tòa án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA NGUYỄN VĂN PHÁN |
Bản án số 12/2021/DS-ST ngày 09/04/2021 của Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 12/2021/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/04/2021
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân thị xã Phước Long, tỉnh Bình Phước
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thị BM-Nguyễn Thị B, N tranh chấp quyền sử dụng đất
