Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 1192/2024/HC-PT

Ngày 11 - 11 - 2024

V/v Khiếu kiện quyết định hành chính

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:Ông Trần Văn Mười

Các Thẩm phán: Ông Dương Anh Văn

Ông Trần Ngọc Tuấn

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Tường Vi, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Ông Đặng Quốc Hoàng – Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 11 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 620/2024/TLPT-HC ngày 26 tháng 7 năm 2024 về “Khiếu kiện quyết định hành chính".

Do Bản án hành chính sơ thẩm số 33/2024/HC-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3111/2024/QĐ-PT ngày 28/10/2024, giữa các đương sự:

1. Người khởi kiện: Ông Huỳnh Tấn L, sinh năm 1982 (có mặt);

Địa chỉ: D Ấp D, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền:

  1. Ông Nguyễn Sơn D, sinh năm 1996 (vắng mặt);
  2. Ông Trịnh Ngọc Anh K, sinh năm 1984 (vắng mặt);

Cùng đia chỉ: Số I đường T, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

  1. Bà Phan Thị Thu L1, sinh năm 1983 (Có mặt);

Địa chỉ: D Ấp D, xã T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người khởi kiện: Luật sư Phạm Thị N thuộc Văn phòng L2, Đoàn Luật sư Thành phố H (có mặt).

2. Người bị kiện:

  1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh;

Địa chỉ trụ sở: Số C T, thị trấn T, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B:

- Ông Bùi Trường S - Phó Trưởng Phòng quản lý đô thị huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Ông Thới Hoàng D1 – Chuyên viên Phòng quản lý đô thị huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

  1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H;

Địa chỉ: H L, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn xin vắng mặt).

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H: Ông Nguyễn Văn C – Phó Trưởng phòng pháp chế Sở Xây dựng thành phố H(có mặt).

  1. Người kháng cáo: Ông Huỳnh Tấn L là người khởi kiện.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại các đơn khởi kiện ngày 16/6/2023 và các lời khai tiếp theo, người khởi kiện ông Huỳnh Tấn L có đại diện theo ủy quyền là bà Phan Thị Thu L1 trình bày:

Ông Huỳnh Tấn L là chủ sở hữu của nhà, đất tại số D, ấp D, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc thửa đất số 702, tờ bản đồ số 71 (BĐĐC) được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất số CH03346 ngày 29 tháng 12 năm 2014.

Ngày 03/11/2021 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03/11/2021, cụ thể: Phạt tiền với mức phạt là 25.000.000 đồng; Các biện pháp khắc phục hậu quả: buộc tháo dỡ phần công trình xây dựng vi phạm đối với hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng, cụ thể diện tích vi phạm: (7m x 10m) + (7m x 2,1m) = 84.7m2; kết cấu: Cột BTCT + sắt, Vách gạch + cửa cuốn, mái tôn. (sau đây gọi tắt là Quyết định số 429);

Ông Huỳnh Tấn L không đồng ý và khiếu nại. Ngày 05/1/2023 Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 03/QĐ-UBND huyện B về việc giải quyết khiếu nại với nội dung không chấp nhận khiếu nại.

Ông Huỳnh Tấn L tiếp tục khiếu nại. Ngày 13/6/2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số 2431/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của ông Huỳnh Tấn L (lần hai), với nội dung không chấp nhận khiếu nại.

Nhận thấy, các Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03/11/2021, Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 05/01/2023 và Quyết định số 2431/QĐ-UBND ngày 13/6/2023 là không thỏa đáng, không đúng quy định của pháp luật, ảnh hưởng quyền lợi của ông L, bởi các lý do sau đây:

Thứ nhất, Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03/11/2021 được ban hành có vi phạm về mặt hình thức là ban hành không đúng về trình tự thủ tục.

Về thời điểm lập biên bản vi phạm hành chính:

Vào ngày 16/6/2021, Ủy ban nhân dân xã H có biên bản làm việc với ông L, liên quan đến công trình xây dựng tại số D, ấp D, xã H, huyện B, Tp Hồ Chí Minh thuộc thửa đất số 702, tờ bản đồ số 71 (BĐĐC) thì xác định thời điểm xây dựng công trình là tháng 4 năm 2020 và hoàn thành vào tháng 5 năm 2020. Như vậy, khi phát hiện ra hành vi vi phạm thì phải tiến hành lập biên bản ngay nhưng ngày 29/10/2021 không phải là ngày mà Ủy ban nhân dân xã H phát hiện ra hành vi vi phạm này. Ủy ban nhân dân xã H đã phát hiện sự việc này từ năm 2020 nhưng đến tháng 10 năm 2021 mới tiến hành lập biên bản vi phạm hành chính là trái với quy định về trình tự thủ tục lập biên bản vi phạm hành chính được quy định tại khoản 1 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Về trình tự, thủ tục lập biên bản, giao biên bản:

Ủy ban nhân dân xã H lập Biên bản vi phạm hành chính số 32/BB-VPHC ngày 29/10/2021, khi ông L không có mặt tại địa điểm vi phạm, không biết về việc lập biên bản này, cũng không có ký tên trên biên bản và khi lập biên bản xong cũng không có giao trực tiếp cho ông L 01 bản hoặc gửi qua bưu điện bằng hình thức bảo đảm là chưa thực hiện đúng theo quy định tại khoản 4, 5 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

Theo quy định tại khoản 8 Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012 sửa đổi, bổ sung năm 2020 quy định về Lập biên bản vi phạm hành chính: “Biên bản vi phạm hành chính phải được lập đúng nội dung, hình thức, thủ tục theo quy định của Luật này và là căn cứ ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính..."

Căn cứ vào những quy định nêu trên, Biên bản vi phạm hành chính số 32/BB-VPHC ngày 29/10/2021 của Ủy ban nhân dân xã H đã lập sai về nội dung, hình thức, thủ tục theo quy định của Luật xử lý vi phạm hành chính cho nên căn cứ vào đó để ban hành Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03/11/2021 cũng là không đúng quy định pháp luật.

Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03/11/2021 không chính xác, chưa phù hợp với quy định của pháp luật, nên các Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 05/01/2023 và Quyết định số 2431/QĐ-UBND ngày 13/6/2023 về giải quyết khiếu nại đối với ông Huỳnh Tấn L là chưa phù hợp với quy định của pháp luật.

Thứ hai, xử phạt ông L không không khách quan, không công bằng và không cần thiết.

Phần công trình xây dựng của ông L là để phục vụ nhu cầu hoạt động kinh doanh, công trình hiện tại không lấn chiếm hành lang an toàn, không ảnh hưởng đến giao thông, không ảnh hưởng trật tự công cộng, cần tạo điều kiện cho người dân được sử dụng để kinh doanh. Nhất là trong thời gian sau dịch bệnh, gia đình ông L mới phục hồi hoạt động kinh doanh trở lại, Nhà nước cần tạo điều kiện thuận lợi để người dân phục hồi kinh doanh, không xử phạt gây thêm khó khăn cho gia đình ông trong giai đoạn này.

Hiện nay, thực tế tại địa phương, có rất nhiều nhà, công trình khác cũng xây dựng giống như của ông L (có nhiều công trình còn xây dựng diện tích lớn hơn) nhưng không bị xử phạt. Nhưng chỉ xử phạt căn nhà mà ông L đang sử dụng, kinh doanh, như vậy là quản lý nhà nước không công bằng, không bình đẳng giữa những người dân với nhau.

Nay ông Huỳnh Tấn L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết với nội dung như sau:

  • Yêu câu hủy Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03/11/2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B.
  • Yêu cầu hủy Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 05/1/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B về việc giải quyết khiếu nại của ông Huỳnh Tấn L, địa chỉ: D, ấp D, xã H, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh (lần đầu).
  • Yêu cầu hủy Quyết định số 2431/QĐ-UBND ngày 13/6/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H về việc giải quyết khiếu nại của ông Huỳnh Tấn L (lần hai).

Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B có ý kiến trình bày tại Văn bản số 5525/UBND ngày 11/12/2023 như sau:

Căn cứ pháp lý, thẩm quyền ban hành; quá trình ban hành và nội dung các Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03 tháng 11 năm 2021, Quyết định số 468/QĐ-CCXP ngày 15 tháng 12 năm 2021, Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 03 tháng 01 năm 2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B.

1. Căn cứ pháp lý, thẩm quyền ban hành

Căn cứ Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở;

Căn cứ Nghị định số 97/2017/NĐ-CP ngày 18 tháng 8 năm 2017 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 81/2013/NĐ-CP ngày 19 tháng 7 năm 2013 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật xử lý vi phạm hành chính;

Căn cứ Quyết định số 30/2019/QĐ-UBND ngày 02 tháng 12 năm 2019 của Ủy ban nhân dân Thành phố H về việc ban hành quy chế phối hợp quản lý trật tự xây dựng trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh.

Căn cứ Quyết định số 224/QĐ-GQXP ngày 12 tháng 5 năm 2021 của Ủy ban nhân dân huyện B về giao quyền xử phạt vi phạm hành chính;

Căn cứ Biên bản vi phạm hành chính số 32/BB-VPHC ngày 29 tháng 10 năm 2021 do Ủy ban nhân dân xã H lập.

2. Về quy hoạch

Căn cứ Quyết định số 6013/QĐ-UBND ngày 26 tháng 11 năm 2012 của Ủy ban nhân dân thành phố H về phê duyệt đồ án quy hoạch chung xây dựng huyện B đến năm 2020; khu đất thuộc chức năng quy hoạch đất ở nông thôn hiện hữu và đất giao thông (vị trí công trình vi phạm thuộc quy hoạch đất giao thông).

Căn cứ Đồ án Quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã H, huyện B được Ủy ban nhân dân huyện B phê duyệt kèm Quyết định số 6679/QĐ-UBND ngày 29 tháng 10 năm 2013; khu đất thuộc chức năng quy hoạch đất công trình công cộng và đất giao thông (vị trí công trình vi phạm thuộc quy hoạch đất giao thông).

Căn cứ Quyết định số 4483/QĐ-UBND ngày 17 tháng 10 năm 2019 của Ủy ban nhân dân thành phố H về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất năm đầu của điều chỉnh quy hoạch huyện B; khu đất thuộc chức năng quy hoạch đất chợ và đất giao thông (vị trí công trình vi phạm thuộc quy hoạch đất giao thông).

3. Về pháp lý quyền sử dụng đất

Nhà, đất địa chỉ: D ấp D, xã H, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh thuộc thửa số 702 tờ bản đồ số 71 (BĐĐC) được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CH03346 ngày 29 tháng 12 năm 2014 (mục đích sử dụng đất: đất ở tại nông thôn). Vị trí khu đất xây dựng công trình vi phạm thuộc một phần thửa đất nêu trên.

4. Quá trình ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03 tháng 11 năm 2021 và Quyết định số 468/QĐ-CCXP ngày 15 tháng 12 năm 2021 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả

4.1. Về việc ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03 tháng 11 năm 2021 đối với ông Huỳnh Tấn L.

Ngày 16 tháng 6 năm 2021, Ủy ban nhân dân xã H lập Biên bản làm việc liên quan đến công trình xây dựng không phép do ông Huỳnh Tấn L làm chủ đầu tư.

Ngày 29 tháng 10 năm 2021, Ủy ban nhân dân xã H lập Biên bản vi phạm hành chính số 32/BB-VPHC về hoạt động xây dựng đối với ông Huỳnh Tấn L, tại một phần thửa đất số 702, tờ bản đồ số 71 (BĐĐC), Bộ địa chính xã H, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh, với hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng. Do vượt thẩm quyền ban hành Quyết định của Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã H, ngày 30 tháng 10 năm 2021, Ủy ban nhân dân xã H có Công văn số 6091/UBND trình Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực xây dựng đối với ông Huỳnh Tấn L.

Ngày 03 tháng 11 năm 2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC xử phạt vi phạm hành chính đối ông Huỳnh Tấn L, nội dung:

2. Đã thực hiện hành vi vi phạm hành chính:

Tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng, cụ thể:

-Diện tích vi phạm: (7m x 10m) + (7m x 2,1m) = 84,70m².

-Kết cấu: Cột BTCT + sắt, Vách gạch + cửa cuốn. mái tôn.

-Thời điểm vi phạm: tháng 5 năm 2020.

-Địa chỉ vi phạm: Tại một phần thửa đất số 702, tờ bản đồ số 71 (BĐĐC), Bộ địa chính xã H, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh.

3.Quy định tại: Điểm b, Khoản 5, Điều 15 của Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong hoạt động đầu tư xây dựng; khai thác, chế biến, kinh doanh khoáng sản làm vật liệu xây dựng, sản xuất, kinh doanh vật liệu xây dựng; quản lý công trình hạ tầng kỹ thuật; kinh doanh bất động sản, phát triển nhà ở, quản lý sử dụng nhà và công sở.

4. Các tình tiết tăng nặng/giảm nhẹ: Không.

5. Bị áp dụng hình thức xử phạt, biện pháp khắc phục hậu quả như sau:

a) Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền, với mức phạt là: 25.000.000 đồng (Bằng chữ: Hai mươi lăm triệu đồng).

b) Hình thức phạt bổ sung: Không.

c) Các biện pháp khắc phục hậu quả: Buộc tháo dỡ phần công trình xây dựng vi phạm đối với hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng, cụ thể diện tích vi phạm: (7m x 10m) + (7m x 2,1m) = 84,70m²; Kết cấu: Cột BTCT + sắt, V gạch + cửa cuốn, mái tôn”.

4.2. Về tống đạt và kiểm tra kết quả chấp hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03 tháng 11 năm 2021.

Ngày 15 tháng 11 năm 2021, Đội Quản lý trật tự đô thị phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H đến địa chỉ vi phạm của ông Huỳnh Tấn L để tiến hành giao Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03 tháng 11 năm 2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Huyện. Ông Huỳnh Tấn L có mặt và đồng ý nhận quyết định (Biên bản ngày 15 tháng 11 năm 2021 của Đội Quản lý trật tự đô thị về việc công bố và giao quyết định). Đồng thời, tiến hành niêm yết công khai Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03 tháng 11 năm 2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Huyện theo quy định (Biên bản niêm yết công khai quyết định ngày 15 tháng 11 năm 2021, Biên bản kết thúc niêm yết công khai quyết định ngày 25 tháng 11 năm 2021 của Đ).

Ngày 25 tháng 11 năm 2021, Đội Quản lý trật tự đô thị phối hợp Ủy ban nhân dân xã H mời ông Huỳnh Tấn L để tổ chức kiểm tra việc thực hiện Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03 tháng 11 năm 2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Huyện, kết quả: ông Huỳnh Tấn L không đến theo thư mời; ghi nhận thực tế tại công trình vi phạm, ông Huỳnh Tấn L chưa khắc phục hậu quả theo nội dung quyết định.

4.3. Về ban hành Quyết định số 468/QĐ-CCXP ngày 15 tháng 12 năm 2021 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Huỳnh Tấn L.

Do ông Huỳnh Tấn L chưa tự giác chấp hành theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03 tháng 11 năm 2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B (chưa tự giác tháo dỡ phần công trình vi phạm). Nhằm đảm bảo việc xử lý nghiêm công trình vi phạm, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B đã ban hành Quyết định số 468/QĐ-CCXP ngày 15 tháng 12 năm 2021 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Huỳnh Tấn L.

4.4. Về tống đạt và tổ chức thực hiện Quyết định số 468/QĐ-CCXP ngày 15 tháng 12 năm 2021 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Huỳnh Tấn L.

Ngày 21 tháng 12 năm 2021, Đội Quản lý trật tự đô thị phối hợp với Ủy ban nhân dân xã H đến địa chỉ vi phạm của ông Huỳnh Tấn L để tiến hành giao Quyết định số 468/QĐ-CCXP ngày 15 tháng 12 năm 2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Huyện về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Huỳnh Tấn L. Ông Huỳnh Tấn L có mặt và đồng ý nhận quyết định (Biên bản ngày 29 tháng 12 năm 2021 của Đội Quản lý trật tự đô thị về việc công bố và giao quyết định). Đồng thời, tiến hành niêm yết công khai Quyết định số 468/QĐ-CCXP ngày 15 tháng 12 năm 2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Huyện theo quy định (Biên bản niêm yết công khai quyết định ngày 21 tháng 12 năm 2021, Biên bản kết thúc niêm yết công khai quyết định ngày 05 tháng 01 năm 2022 của Đ).

5. Về giải quyết khiếu nại lần đầu đối với ông Huỳnh Tấn L.

Không đồng ý theo Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03 tháng 11 năm 2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B; ông Huỳnh Tấn L gửi Đơn đề ngày 16 tháng 11 năm 2021 khiếu nại toàn bộ nội dung Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC.

Ngày 26 tháng 9 năm 2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Thông báo số 1535/TB-UBND về thụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu.

Ngày 04 tháng 10 năm 2022, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 9777/QĐ-UBND xác minh nội dung khiếu nại.

Ngày 22 tháng 12 năm 2022, Ủy ban nhân dân huyện B tổ chức đối thoại với ông Huỳnh Tấn L tại Phòng Tiếp công dân Huyện để làm rõ báo cáo kết quả xác minh, đề xuất giải quyết vụ việc của các đơn vị tham mưu, phối hợp và nghe ý kiến, nguyện vọng của người khiếu nại.

Ngày 05 tháng 01 năm 2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 03/QĐ-UBND về giải quyết các nội dung khiếu nại của ông Huỳnh Tấn L (lần đầu) “Công nhận và giữ nguyên các Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03 tháng 11 năm 2021 và Quyết định 468/QĐ-CCXP ngày 15 tháng 12 năm 2021 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đối với ông Huỳnh Tấn L, tại địa chỉ D ấp D, xã H, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh”. Việc ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại của Ủy ban nhân dân huyện B là đảm bảo quy định.

Ngày 13 tháng 6 năm 2023, Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành Quyết định số 2431/QĐ-UBND về giải quyết các nội dung khiếu nại của ông Huỳnh Tấn L (lần hai) “Công nhận và giữ nguyên nội dung Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 05 tháng 01 năm 2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B về giải quyết khiếu nại (lần đầu) đối với ông Huỳnh Tấn L là đúng. Yêu cầu ông Huỳnh Tấn L và các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan thực hiện Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03 tháng 11 năm 2021 và Quyết định số 468/QĐ-CCXP ngày 15 tháng 12 năm 2021 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B”.

Từ cơ sở trình bày trên, khẳng định, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03 tháng 11 năm 2021 xử phạt vi phạm hành chính, Quyết định số 468/QĐ-CCXP ngày 15 tháng 12 năm 2021 cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 05 tháng 01 năm 2023 về giải quyết khiếu nại (lần đầu) đối với ông Huỳnh Tấn L là đúng quy định.

Yêu cầu Tòa án nhân dân Thành phố, Hội đồng xét xử tuyên xử: Giữ nguyên Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03 tháng 11 năm 2021 xử phạt vi phạm hành chính, Quyết định số 468/QĐ-CCXP ngày 15 tháng 12 năm 2021 cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả và Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 05 tháng 01 năm 2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Tấn L.

Người bị kiện Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H không có văn bản trình bày ý kiến.

Tại Bản án hành chính sơ thẩm số 33/2024/HC-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, đã căn cứ: Điều 3, Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 158, Điều 193, Điều 194, Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật Xây dựng năm 2014; Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính Phủ; Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Tấn L về việc hủy Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03/11/2021, Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 05/01/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 2431/QĐ-UBND ngày 13/6/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn giải quyết các vấn đề liên quan đến án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm,

Ngày 05/02/2024, người khởi kiện ông Huỳnh Tấn L có làm đơn kháng cáo, nêu lý do: Bản án sơ thẩm chưa đảm bảo quyền và lợi ích hợp của ông đề nghị Tòa phúc xử theo hướng sửa toàn bộ bản án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông L.

Tại phiên tòa phúc thẩm người khởi kiện ông Huỳnh Tấn L ủy quyền cho bà Phan Thị Thu L1 vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và giữ nguyên yêu kháng cáo, đề nghị: Hội đồng xét xử sửa toàn bộ án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện hủy các Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03/11/2021; Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 05/01/2023 của Chủ tịch UBND huyện B và Quyết định số 2431/QĐ-UBND ngày 13/6/2023 Chủ tịch ủy ban nhân dân Thành phố H.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người khởi kiện cũng đưa ra các chứng cứ cho rằng Quyết định số 429 của UBND huyện B vi phạm về mặt hình thức; nội dung án sơ thẩm chưa làm rõ đất này là loại đất nông thôn hay đô thị. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, sửa toàn bộ bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người bị kiện cũng đưa ra các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện, giữ nguyên quyết định án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm cho rằng:

- Về tố tụng: Quá trình thụ lý giải quyết vụ án Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của pháp luật. Những người tham gia phiên tòa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo luật định của pháp luật tố tụng hành chính,

- Về nội dung vụ án: Đại diện viên kiểm sát cũng phân tích toàn bộ các chứng cứ có thể hiện trong hồ sơ vụ án, và xét yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện ông Huỳnh Tấn L là không có căn cứ, vị Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng hành chính, không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người khởi kiện ông Huỳnh Tấn L; Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Các đương sự cũng không có cung cấp hay bổ sung thêm chứng cứ gì mới, và cũng không có thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục kháng cáo: Đơn Kháng cáo của người khởi kiện là ông Huỳnh Tấn L trong hạn luật định và hợp lệ được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

[2] Về nội dung giải quyết yêu cầu kháng cáo, Hội đồng xét xử xét thấy:

[2.1] Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, ông L không có yêu cầu khởi kiện đối với Quyết định số 468/QĐ-CCXP ngày 15/12/2021 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B. Tuy nhiên, tại phiên tòa sơ thẩm, người khởi kiện yêu cầu Tòa án xem xét Quyết định số 468/QĐ-CCXP ngày 15/12/2021 nêu trên. Thấy răng, Tòa án cấp sơ thẩm xác định, đây là quyết định hành chính có liên quan nên xem xét trong cùng vụ án là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2] Về hình thức, các Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03/11/2021, Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 05/01/2023; Quyết định số 468/QĐ-CCXP ngày 15/12/2021 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả đều của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 2431/QĐ-UBND ngày 13/6/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H đã được ban hành đúng theo quy định của pháp luật về thẩm quyền và trình tự thủ tục ban hành.

[2.3] Về nội dung:

[2.3.1] Xét Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03/11/2021:

Ông Huỳnh Tấn L đứng tên sử dụng nhà và đất tại số D ấp D, xã H, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh thuộc một phần thửa đất số 702, tờ bản đồ số 71 (BĐĐC), Bộ địa chính xã H, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh được Ủy ban nhân dân huyện B cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất số CH03346 ngày 29/12/2014. (Mục đích sử dụng đất: đất ở tại nông thôn).

Tại Biên bản vi phạm hành chính về trật tự xây dựng số 32/BB-VPHC ngày 29/10/2021 của Ủy ban nhân dân xã H, huyện B lập đối với ông Huỳnh Tấn L, Biên bản làm việc ngày 24/3/2023 của Thanh tra Sở Xây dựng Thành phố H, cho thấy ông Huỳnh Tấn L có hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép và người khởi kiện cũng xác nhận đã thực hiện hành vi xây dựng công trình vi phạm vào tháng 5/2020 để thực hiện kinh doanh với hiện trạng công trình được ghi nhận cụ thể như sau: Diện tích vi phạm: (7m x 10m) + (7m x 2,1m) = 84,70m²; Kết cấu: Cột BTCT + sắt, Vách gạch + cửa cuốn, mái tôn. Địa điểm vi phạm: Tại một thửa đất số 702, tờ bản đồ số 71 (BĐĐC), Bộ địa chính xã H, huyện B, thành phố Hồ Chí Minh.

Người khởi kiện cho rằng Biên bản vi phạm hành chính số 32/BB-VPHC ngày 29/10/2021 lập không ngay khi phát hiện hành vi vi phạm, không giao biên bản cho người vi phạm là không đúng quy định pháp luật về trình tự thủ tục lập biên bản vi phạm hành chính.

Xét thấy, Biên bản làm việc ngày 16/6/2021 của Ủy ban nhân dân xã H đã cho thấy thời điểm phát hiện hành vi vi phạm, nhưng đến ngày 29/10/2021, Ủy ban nhân dân xã H, huyện B mới lập Biên bản vi phạm hành chính đối với ông Huỳnh Tấn L là không kịp thời. Tuy nhiên việc không lập ngay biên bản vi phạm hành chính trên không ảnh hưởng đến quy trình lập biên bản vi phạm hành chính và nguyên tắc xử lý vi phạm hành chính đối với hành vi vi phạm.

Căn cứ Quyết định số 6013/QĐ-UBND ngày 26 tháng 11 năm 2012 của Ủy ban nhân dân thành phố H về phê duyệt đồ án quy hoạch chung xây dựng huyện B đến năm 2020, Đồ án Quy hoạch xây dựng nông thôn mới xã H, huyện B được Ủy ban nhân dân huyện B phê duyệt kèm Quyết định số 6679/QĐ-UBND ngày 29 tháng 10 năm 2013 và Quyết định số 4483/QĐ-UBND ngày 17 tháng 10 năm 2019 của Ủy ban nhân dân Thành phố H về phê duyệt điều chỉnh quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và kế hoạch sử dụng đất năm đầu của điều chỉnh quy hoạch huyện B, cho thấy vị trí khu đất có công trình vi phạm của ông Huỳnh Tấn L thuộc quy hoạch đất giao thông.

Như vậy, ông Huỳnh Tấn L đã có hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình bị nghiêm cấm theo quy định tại khoản 4 Điều 12 Luật Xây dựng năm 2014. Tuy nhiên, trong trường hợp đủ điều kiện cần phải xin cấp giấy phép xây dựng có thời hạn, ông Huỳnh Tấn L cần phải liên hệ Ủy ban nhân dân huyện B để xin cấp giấy phép xây dựng theo quy định tại Điều 94 Luật Xây dựng 2014khoản 33 Điều 1 Luật Xây dựng sửa đổi năm 2020Do ông Huỳnh Tấn L có hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng. Vì thế, ngày 03/11/2021, Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Huỳnh Tấn L tại vị trí khu đất xây dựng công trình vi phạm thuộc một phần thửa đất nêu trên. Hình thức xử phạt chính: Phạt tiền, với mức phạt là: 25.000.000 đồng (Hai mươi lăm triệu đồng); Buộc ông L tháo dỡ phần công trình xây dựng không có giấy phép xây dựng với diện tích vi phạm: (7m x 10m) + (7m x 2,1m) = 84,70m²; Kết cấu: Cột BTCT + sắt, Vách gạch + cửa cuốn, mái tôn, theo quy định tại điểm b, khoản 5, điểm d khoản 11 Điều 15 Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính Phủ. Thời điểm vi phạm: Tháng 5/2020.

Từ những căn cứ trên cho thấy, ông Huỳnh Tấn L đã có hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng là hành vi trái pháp luật. Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh xử lý hành chính theo quy định đối với hành vi tổ chức thi công xây dựng công trình không có giấy phép xây dựng mà theo quy định phải có giấy phép xây dựng của ông L là có căn cứ pháp luật.

[2.3.2] Xét Quyết định số 468/QĐ-CCXP ngày 15/12/2021 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B:

Do ông Huỳnh Tấn L không tự nguyện chấp hành quyết định xử phạt nên Chủ tịch UBND huyện B ban hành Quyết định số 468/QĐ-CCXP ngày 15/12/2021 về cưỡng chế buộc thực hiện biện pháp khắc phục hậu quả là đúng với Điều 86, Điều 73 Luật Xử lý vi phạm hành chính năm 2012.

[2.3.3] Xét Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 05/01/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 2431/QĐ-UBND ngày 13/6/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H:

Do Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03/11/2021 về xử phạt vi phạm hành chính đối với ông Huỳnh Tấn L là đúng quy định pháp luật nên Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B ban hành Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 05/01/2023 và Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H ban hành Quyết định số 2431/QĐ-UBND ngày 13/6/2023 là có căn cứ, đúng pháp luật.

[3] Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Tấn L về việc hủy các Quyết định nêu trên là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[4] Tại phiên tòa phúc thẩm, người khởi kiện ông Huỳnh Tấn L kháng cáo nhưng cũng không cung cấp được chứng cứ nào mới nên không có cơ sở chấp nhận. Phát biểu của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

[5] Về án phí hành chính phúc thẩm: Do không chấp nhận kháng cáo nên ông L phải chịu án phí phúc thẩm theo luật định.

[6] Các quyết định khác của bản án hành chính sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật Tố tụng Hành chính.

Không chấp nhận kháng cáo của ông Huỳnh Tấn L.

Giữ nguyên Bản án hành chính sơ thẩm số 33/2024/HC-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

Áp dụng Điều 3, Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 158, Điều 193, Điều 194, Điều 206 của Luật Tố tụng hành chính năm 2015; Luật xử lý vi phạm hành chính năm 2012; Luật Xây dựng năm 2014; Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính Phủ; Nghị định 166/2013/NĐ-CP ngày 12/11/2013 của Chính Phủ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của ông Huỳnh Tấn L về việc hủy Quyết định số 429/QĐ-XPVPHC ngày 03/11/2021, Quyết định số 03/QĐ-UBND ngày 05/01/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định số 2431/QĐ-UBND ngày 13/6/2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân Thành phố H.

2. Án phí hành chính phúc thẩm: Ông Huỳnh Tấn L chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí kháng cáo đã nộp theo Biên lai thu số 00319521 ngày 26/02/2024 tại Cục Thi hành ánh dân sự tỉnh Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, ông L đã nộp xong án phí hành chính phúc thẩm.

3. Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật thi hành.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.

Nơi nhận:

  • - Toà án nhân dân tối cao;
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND TP.HCM;
  • - TAND TP.HCM;
  • - Cục THADS TP.HCM;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu VP; HSVA; NTV.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Trần Văn Mười

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1192/2024/HC-PT ngày 11/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện quyết định hành chính

  • Số bản án: 1192/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 11/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger