Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT

NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1191/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 30/9/2024

V/v tranh chấp ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hồ Thị Nga

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thúy Hoa
  2. Bà Lâm Thị Nga

- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng - Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 455/2024/TLST-HNGĐ ngày 26/4/2024 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 1445/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28/8/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 1635/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13/9/2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1980;
  2. Địa chỉ: 9 khu phố C, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt)

  3. Bị đơn: Ông Trần Cảnh T, sinh năm 1972;
  4. Địa chỉ: 4 khu phố H, phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, tại bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, biên bản ghi nhận không tiến hành hoà giải được bà Nguyễn Thị N trình bày:

Bà và ông Trần Cảnh T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận kết hôn số 77, Quyển số I tại UBND phường N, Quận A. Năm 2020 vợ chồng nảy sinh nhiều mâu thuẫn, đỉnh điểm của mâu thuẫn là bà và ông T đã sống ly thân từ năm 2022 đến nay. Bà xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà yêu cầu Toà án giải quyết ly hôn với ông Trần Cảnh T.

Về con chung: không có

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết

Tòa án nhân dân Quận 12 đã nhiều lần triệu tập ông T làm việc để lấy lời khai và tham gia các phiên hòa giải, tham gia phiên tòa nhưng ông thường xuyên liên tục vắng mặt không có lý do nên việc hòa giải đã không thể tiến hành và vụ án được đưa ra xét xử vắng mặt bị đơn.

Nguyên đơn có lời khai và trình bày xuyên suốt quá trình tham gia tố tụng là giữ nguyên yêu cầu khởi kiện ly hôn với bị đơn, không yêu cầu giải quyết tài sản chung và nợ chung.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân thủ đúng pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình, bị đơn vắng mặt trong quá trình hòa giải, xét xử. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Bà Nguyễn Thị N yêu cầu giải quyết ly hôn với ông Trần Cảnh T. Đây là quan hệ pháp luật tranh chấp ly hôn.

Căn cứ vào kết quả xác minh của Công an phường Đ, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh thì “ Đương sự Trần Cảnh T cư trú tại 4 Khu phố H, phường Đ, Quận A ” Kết quả xác minh thể hiện ông T đang thực tế cư trú, sinh sống tại địa phương, ông T đã được tống đạt các văn bản tố tụng hợp lệ.

Căn cứ vào các Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Tại phiên tòa ngày 13/9/2024 ông Trần Cảnh T vắng mặt mà không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa theo quy định Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn tiếp tục vắng mặt đến lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án tống đạt văn bản tham gia phiên tòa hợp lệ; nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Do vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[3] Về các yêu cầu của đương sự:

- Về quan hệ hôn nhân: bà N và ông T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn, cuộc sống giữa hai vợ chồng không hạnh phúc. Bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông T

Ngày 15/5/2024 Tòa án đã tiến hành xác minh về tình trạng hôn nhân giữa bà N và ông T tại Ủy ban nhân dân phường T, Quận A. Kết quả xác minh “ Về vấn đề mâu thuẫn hôn nhân giữa bà N và ông T văn phòng khu phố không nắm rõ do ông bà không sinh sống cùng địa phương và không có đơn hòa giải tại khu phố”

Căn cứ vào lời khai của đương sự, căn cứ vào các giấy tờ, tài liệu do đương sự cung cấp và kết quả xác minh Hội đồng xét xử xét thấy:

Bà N và ông T chung sống với nhau có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật nên đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Kết quả xác minh không xác định được mâu thuẫn hôn nhân, nhưng trong suốt quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã nhiều lần triệu tập ông T để tiến hành thu thập chứng cứ và hòa giải nhằm hàn gắn tình cảm vợ chồng, mặc dù ông T nhận được thư mời của Tòa nhưng vẫn không có mặt và không có bất kỳ hành động nào thể hiện sự tha thiết hàn gắn tình cảm vợ chồng mà bỏ mặc cho sự phán xét của Hội đồng xét xử. Do đó, mục đích của hôn nhân là thương yêu và cùng nhau chăm lo cho gia đình đã không đạt được.

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của nguyên đơn bà Nguyễn Thị N

  • Về con chung: không có
  • Tòa cấp sơ thẩm không giải quyết về tài sản chung, nợ chung do trong quá trình giải quyết đương sự không có yêu cầu.

[4] Xét án phí ly hôn: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng. Nguyên đơn đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022297, ngày 26/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12. Sau khi cấn trừ, nguyên đơn đã nộp đủ án phí.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, các Điều 147, 227, 228, 271 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ các Điều 19, 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
  • Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án;
  • Căn cứ Luật Thi hành án dân sự

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn:
    • Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Trần Cảnh T.
    • Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật thì Giấy chứng nhận kết hôn số 77, Quyển số I do UBND phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 12/5/2003 không còn giá trị pháp lý.

    • Về con chung: không có
    • Về tài sản chung và nợ chung: Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết do các đương sự không có yêu cầu.
  2. Về án phí:
  3. Buộc bà Nguyễn Thị N phải chịu án phí sơ thẩm đối với vụ án về tranh chấp hôn nhân và gia đình không có giá ngạch là 300.000 (ba trăm ngàn) đồng. Bà N đã nộp 300.000 (ba trăm ngàn) đồng tiền tạm ứng án phí khi khởi kiện, theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0022297, ngày 26/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh. Cấn trừ tiền tạm ứng án phí đã nộp và án phí phải chịu. Bà N đã nộp đủ án phí sơ thẩm.

    Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

  4. Quyền kháng cáo:
  5. Các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm ngày) kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ

Nơi nhận:

  • - Viện kiểm sát cùng cấp ;
  • - Chi cục Thi hành án dân sự Q12;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Hồ Thị Nga

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 1191/2024/HNGĐ-ST ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 1191/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 30/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ÁN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger