TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI TỈNH QUẢNG NGÃI Bản án số: 119/2024/HS-ST Ngày: 20/8/2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Kim Loan.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Phùng Xuân Thu
Bà Đoàn Thị Hoa.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Nương, là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Mỹ Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 16 và ngày 20 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xử án Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 83/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 290/2024/QĐXXST-HS ngày 26 tháng 7 năm 2024, đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 02 tháng 10 năm 2000, tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): 06/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Thành T1 và bà Nguyễn Thị P; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024 cho đến nay, bị cáo đang bị tạm giam có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Ngọc T2, sinh ngày 08 tháng 3 năm 1995, tại tỉnh Quảng Ngãi; nơi cư trú: Thôn A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc A và bà Nguyễn Thị B, vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Nhân thân: Tại Bản án số 19/2019/HSST ngày 26/3/2019, Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xử phạt Nguyễn Ngọc T2 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, ngày 07/5/2020 chấp hành xong hình phạt tù, đã được xoá án tích.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024 cho đến nay, bị cáo đang bị tạm giam có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Nguyễn Khắc Đ, sinh ngày 25 tháng 6 năm 1990, tại tỉnh Khánh Hoà; nơi cư trú: Tổ B T, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hóa (học vấn): 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà Võ Thị Kiều N, vợ, con chưa có; tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/01/2024 cho đến nay, bị cáo đang bị tạm giam có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Thông qua bạn bè ngoài xã hội, Nguyễn Văn T biết người sử dụng số điện thoại 0377.558.xxx có bán ma tuý “đá” (T không rõ nhân thân, lai lịch của người bán ma tuý). T lưu số điện thoại 0377.558.xxx trong danh bạ điện thoại, tên là “T3”. Khoảng 15 giờ 30 phút ngày 08/01/2024, T đến nhà Nguyễn Ngọc T2 ở thôn A, xã T, thành phố Q, tỉnh Quảng Ngãi chơi. Khi đến nơi thì có Nguyễn Ngọc T2 và Nguyễn Khắc Đ đang ở trong nhà của T2. Do có nhu cầu sử dụng ma tuý “đá”, T nói với T2 và Đ là: “Lấy cái đồ về chơi” (tức là mua ma tuý “đá” về cùng nhau sử dụng), T2 và Đ đồng ý. T hỏi mượn điện thoại của Đ và nói: “Để gọi điện cho T3 lấy cái đồ về chơi” (tức là gọi điện thoại hỏi mua ma tuý). Đ đồng ý và đưa điện thoại cho T mượn. T sử dụng điện thoại và số điện thoại của Đ liên lạc vào số điện thoại của T3 hỏi mua 01 (một) tép ma tuý “đá”. Thương nhắn tin và gửi số điện thoại 0387.894.xxx của đối tượng tên “Chó” (T không rõ nhân thân lai lịch đối tượng “Chó”) qua số điện thoại của Đ để T liên lạc mua ma tuý “đá”. T tiếp tục sử dụng điện thoại của Đ liên lạc vào số điện thoại 0387.894.xxx của đối tượng “Chó” và hỏi mua 01 (một) tép ma tuý “đá”; đối tượng “Chó” đồng ý bán cho T với giá tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng). T hướng dẫn đối tượng “Chó” đến địa chỉ nhà của T2 để giao bán ma túy, đối tượng C đồng ý. Một lúc sau, đối tượng “Chó” đến nhà của T2, đối tượng “Chó” đi bộ vào nhà rồi vứt 01 (một) tép ma tuý “đá” lên bàn nơi T, T2 và Đ đang ngồi; T đưa cho đối tượng “Chó” số tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng), đối tượng “Chó” nhận tiền xong rồi bỏ đi.
Sau khi mua được ma tuý, T2 lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy “đá” của mình cất giấu trong tủ ở phòng khách và lấy ma túy “đá” cho vào nỏ thủy tinh; T2 dùng bật lửa đốt nóng nỏ với mục đích nấu ma túy “đá” rồi đưa cho T sử dụng, sau đó lần lượt T2 và Đ cùng nhau sử dụng. Khi T, T2 và Đ đang sử dụng ma tuý “đá” thì Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q kiểm tra, bắt quả tang và lập biên bản tạm giữ, niêm phong các đồ vật, tài liệu có liên quan.
- Ngày 15/01/2024, Phòng K (PC09) Công an tỉnh Q kết luận giám định số 29/KL-KTHS, kết luận:
Chất rắn màu trắng dạng vết bám dính trong nỏ thuỷ tinh gửi giám định là ma túy; loại: Methamphetamine. Chất rắn màu trắng bám dính trong nỏ thuỷ tinh ở dạng vết nên không tiến hành cân khối lượng.
Tại bản Cáo trạng số 75/CT-VKSTPQN ngày 24/5/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi truy tố bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Khắc Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Khắc Đ và đề nghị Hội đồng xét xử, áp dụng: Điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Điều 38, 17, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù; Nguyễn Ngọc T2 từ 07 năm 06 tháng tù đến 8 năm tù; Nguyễn Khắc Đ từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Và đề nghị xử lý vật chứng.
Các bị cáo thống nhất với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến tranh luận. Đồng thời tất cả các bị cáo đều đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như như phần tóm tắt nội dung vụ án. Lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại giai đoạn điều tra, truy tố, phù hợp với với các tài liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án nên có cơ sở kết luận:
Với mục đích sử dụng trái phép chất ma túy, vào lúc 15 giờ 30 phút ngày 08/01/2024, Nguyễn Văn T đến nhà Nguyễn Ngọc T2 rủ T2 và Nguyễn Khắc Đ mua ma túy về sử dụng. T mượn điện thoại của Đ để liên lạc mua 01 (một) tép ma túy “đá” với giá tiền 400.000 đồng (bốn trăm nghìn đồng). Sau khi mua được ma túy, T2 lấy nỏ thủy tinh để “nấu” ma túy cho cả T, T2, Đ cùng sử dụng . Khi T, T2, Đ đang sử dụng ma túy thì bị Công an thành phố Q bắt quả tang.
Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Khắc Đ có hành vi tổ chức cho nhiều người sử dụng trái phép chất ma túy, thuộc trường hợp phạm tội “Đối với 02 người trở lên”, do đó hành vi của các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Khắc Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm, thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, vai trò của từng bị cáo như sau:
Bị cáo Nguyễn Văn T: là người rủ rê, khởi xướng Nguyễn Ngọc T2 và Nguyễn Khắc Đ cùng nhau sử dụng ma tuý “đá”; trực tiếp liên lạc và trả tiền mua ma túy “đá” về sử dụng. Bị cáo Nguyễn Ngọc T2: là người chuẩn bị địa điểm, bộ D sử dụng ma túy, nấu ma túy đá để cho T2, Đàn, T cùng sử dụng ma túy tại nhà của T2. Bị cáo Nguyễn Khắc Đ: là người đưa điện thoại và số điện thoại của mình cho T, giúp sức cho T liên lạc mua ma tuý về cho Đ, T2 và T cùng nhau sử dụng.
[3] Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, vi phạm chính sách quản lý độc quyền của Nhà nước về ma túy và các chất gây nghiện, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội tại địa phương, ngoài ra còn gián tiếp xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của người khác, làm cho quần chúng Nhân dân hoang mang lo sợ. Bản thân các bị cáo là người đủ năng lực hành vi, nhận thức được tác hại của ma túy. Các bị cáo biết được việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy bị pháp luật nghiêm cấm; nhưng các bị cáo cố tình thực hiện hành vi phạm tội nên cần xử lý nghiêm minh; cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục các bị cáo có ý thức tuân thủ pháp luật và phòng ngừa chung, nhất là trong giai đoạn hiện nay, tình hình tội phạm về ma túy diễn ra ngày càng nhiều, thủ đoạn ngày càng tinh vi, để lại những hậu quả nặng nề, gây nhiều bức xúc cho xã hội.
[4] Khi quyết định hình phạt cho bị cáo, Hội đồng xét xử xét các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo, tiền án tiền sự, nhân thân của các bị cáo.
- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Khắc Đ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Ngọc T2 có nhân thân xấu. Ngày 26/3/2019, bị Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”, ngày 07/5/2020 chấp hành xong hình phạt tù, đã được xoá án tích.
[5] Về vật chứng trong vụ án: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- 01 bộ dụng cụ gồm một chai nhựa không màu có nắp màu xanh, trên nắp có gắn một ống nhựa màu đen, một nỏ thuỷ tinh; 02 (hai) bật lửa; 01 (một) đoạn ống nhựa rỗng, không màu là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên tuyên tiêu huỷ.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen; đây là điện thoại của bị cáo Nguyễn Văn T sử dụng lưu số điện thoại của đối tượng bán ma tuý nên không liên quan đến hành vi phạm tội nên tuyên trả lại cho bị cáo.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen; đây là điện thoại của bị cáo Nguyễn Khắc Đ dùng liên lạc hỏi mua ma tuý nên tuyên tịch thu sung ngân sách nhà nước.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, đây là điện thoại của bị cáo Nguyễn Khắc Đ không liên quan đến hành vi phạm tội tuyên trả lại cho bị cáo Đ.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu vàng trắng, đây là điện thoại của bị cáo Nguyễn Ngọc T2, không liên quan đến hành vi phạm tội của bị cáo nên tuyên trả lại cho bị cáo T2.
- Số tiền 700.000 đồng, Cơ quan điều tra thu giữ của Nguyễn Văn T, đây là tiền của cá nhân bị cáo, không liên quan đến hành vi phạm tội nên tuyên trả lại cho bị cáo T.
[6] Các đối tượng liên quan trong vụ án:
- Đối với đối tượng “Chó” (là đối tượng bán ma túy cho Nguyễn Văn T): Các bị cáo T, T2 và Đ không biết về nhân thân, lai lịch, đặc điểm của đối tượng “Chó”. Ngày 14/3/2024, Cơ quan điều tra ra Lệnh thu giữ điện tín số 263/LTG-ĐCSMT gửi đến V đề nghị cung cấp thông tin chủ sở hữu số điện thoại 0387.894.xxx nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q tiếp tục điều tra xác minh, đề nghị xử lý sau.
- Đối với đối tượng T3 (là người giới thiệu đối tượng “Chó” cho Nguyễn Văn T): Các bị cáo T, T2 và Đ không biết về nhân thân, lai lịch, đặc điểm của đối tượng T3. Ngày 14/3/2024, Cơ quan điều tra ra Lệnh thu giữ điện tín số: 263/LTG-ĐCSMT gửi đến V đề nghị cung cấp thông tin chủ sở hữu số điện thoại 0377.558.xxx nhưng đến nay chưa có kết quả trả lời. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Q tiếp tục điều tra xác minh, đề nghị xử lý sau.
[7] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tại phiên tòa về tội danh, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mức hình phạt, xử lý vật chứng và các vấn đề khác phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.
[8] Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Văn Đ1 mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, 47, 17 và Điều 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Điều 106, 136, 331, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Khắc Đ phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
2.1. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 01 năm 2024.
2.2. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Ngọc T2 07 (bảy) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 01 năm 2024.
2.3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Khắc Đ 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 08 tháng 01 năm 2024.
3. Về vật chứng trong vụ án:
- - Tịch thu tiêu hủy: 01 bộ dụng cụ gồm một chai nhựa không màu có nắp màu xanh, trên nắp có gắn một ống nhựa màu đen, một nỏ thuỷ tinh; 02 (hai) bật lửa; 01 đoạn ống nhựa rỗng, không màu.
- - Tịch thu sung nhân sách nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu Masstel, màu đen.
- - Trả lại cho Nguyễn Văn T 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đen;
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Khắc Đ 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Ngọc T2 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo, màu vàng trắng.
- - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T số tiền 700.000 đồng.
(Vật chứng, tài sản theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Quảng Ngãi ngày 27/5/2024; Giấy uỷ nhiệm chi ngày 28/5/2024).
4. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Khắc Đ mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nguyễn Văn T, Nguyễn Ngọc T2, Nguyễn Khắc Đ có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Lê Thị Kim Loan |
Bản án số 119/2024/HS-ST ngày 20/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI về tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 119/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUẢNG NGÃI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Khắc Đ cùng đồng phạ
