|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
Bản án số: 119/2024/HS-ST
Ngày 30-8-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Na.
Thẩm phán: Bà Nông Biên Hòa.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Hoàng Thị Lâm.
Ông Đặng Quang Tùng.
Bà Trương Thị Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Biển, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng tham gia phiên tòa:
Ông Đàm Đình Phương - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân tỉnh Cao Bằng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai theo hình thức trực tuyến với điểm cầu trung tâm tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Cao Bằng, điểm cầu thành phần tại Trại tạm giam Công an tỉnh C đối với vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 72/2024/TLST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 516/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 8 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Đàm Đình H; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: không có; Sinh ngày: 01/4/1991 tại huyện T, tỉnh Cao Bằng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Tày; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 09/12 phổ thông; Nghề nghiệp: Trồng trọt; Nơi thường trú và nơi ở hiện tại: xóm Q, xã T, huyện T, tỉnh Cao Bằng; Con ông: Đàm Văn Đ, sinh năm 1960; Con bà: Nông Thị M, sinh năm 1960; Vợ, con: chưa có; Anh, chị, em ruột: gia đình có 03 chị em, bị cáo là con thứ ba; Tiền án, tiền sự: Không có
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/01/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh C. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo: Ông Bế Văn B, Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh C, có mặt.
Người làm chứng: Ông Dương Văn T – sinh năm 1983, trú tại: Xóm L, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 45 phút ngày 12/01/2024, tại xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Công an xã T phát hiện, bắt quả tang Đàm Đình H tàng trữ trong túi áo ngực bên trái phía trong chiếc áo khoác H đang mặc 01 (một) túi nilon màu trắng, bên trong có 02 (hai) gói nhỏ được quấn phía ngoài là băng dính màu đen, tiếp đến là túi nilon màu xanh chứa các cục chất bột màu trắng có tổng khối lượng là 135,76g (một trăm ba mươi lăm phẩy bảy mươi sáu gam), H khai nhận là ma túy, loại Heroine. Tổ công tác đã lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang và niêm phong số vật chứng trên theo quy định. Ngoài ra còn tạm giữ của H: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu titan và 01 (một) xe mô tô ba bánh màu đỏ, nhãn hiệu DAYANG, không có biển kiểm soát.
Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Đàm Đình H tại xóm Q, xã T, huyện T, tỉnh Cao Bằng, cơ quan điều tra phát hiện:
- - 01 (một) túi nilon màu trắng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục có khối lượng 11,86g (mười một phẩy tám mươi sáu gam), thu giữ bên trong hòm gỗ đựng thóc gần cửa chính, phía trước, bên phải ngôi nhà của H;
- - 01 (một) gói nhỏ được gói bằng giấy bạc màu vàng bên trong có chứa chất bột màu trắng dạng cục có khối lượng 0,06g (không phẩy không sáu gam) và 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màn hình cảm ứng màu đen, gắn sim số 0917.912.505, thu giữ trên giường trong buồng ngủ của H;
- - 01 (một) túi nilon màu hồng bên trong có: 07 (bảy) mảnh giấy không rõ hình thù, màu vàng nhạt, loại giấy chống ẩm; 01 (một) túi nilon trong suốt hình khối hộp; 01 (một) túi nilon màu vàng hình khối hộp; 02 (hai) mảnh túi nilon trong suốt ghép lại thành hình khối hộp, trong đó có một mảnh bên trên có in chữ và hình số bằng mực màu đỏ; 02 (hai) cuộn băng dính màu đen đã qua sử dụng và 01 (một) cân tiểu ly cán bằng nhựa, bàn cân hình tròn bằng kim loại được để trong hai mảnh gỗ hình chiếc đàn ghép lại với nhau, thu giữ ở phía dưới gầm bàn phòng khách nhà của H.
Ngày 16/01/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C tiến hành trưng cầu giám định đối với 04 mẫu chất bột màu trắng đã thu giữ. Tại Kết luận giám định số 118/KL-KTHS ngày 23/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh C kết luận: “04 (bốn) mẫu chất bột màu trắng bên trong phong bì niêm phong gửi giám định đều là ma túy, loại Heroine (H), có tên khoa học là D, được quy định tại Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) và Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Quá trình điều tra, Đàm Đình H khai nhận:
Khoảng đầu tháng 01/2024, H đi lao động tại khu vực Mốc 753 thuộc địa phận xã T, huyện T, tỉnh Cao Bằng có gặp và nói chuyện với một người đàn ông Trung Quốc (không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể). H nói với người này là H sử dụng ma túy, loại Heroine thì người này hỏi H “có muốn mua ma túy không?”. H nói muốn mua 20.000CNY (Hai mươi nghìn Nhân dân tệ), người đàn ông đó trả lời “được khoảng nửa bánh”. H đồng ý. Sau đó, người đàn ông Trung Quốc hẹn H tối ngày 09/01/2024 sẽ giao dịch ma túy tại M.
Khoảng 21 giờ ngày 09/01/2024, H mang 20.000CNY (Hai mươi nghìn Nhân dân tệ) theo người và điều khiển xe mô tô ba bánh màu đỏ, nhãn hiệu DAYANG, không có biển kiểm soát đến khu vực M để mua ma túy. Đến nơi, H đã thấy người đàn ông Trung Quốc đứng đợi. H đến gần và đưa tiền cho người này. Sau khi kiểm tra tiền, người đàn ông Trung Quốc đưa cho H một khối hình hộp chữ nhật bên trong có chứa ma túy. H đem số ma túy này về nhà, sử dụng cân tiểu ly, túi nilon và băng dính màu đen có sẵn chia số ma túy này thành các gói như sau: 01 (một) gói 01 “cây” có khối lượng khoảng 33g (ba mươi ba gam); 02 gói, mỗi gói 02 “cây” có khối lượng khoảng 66g (sáu mươi sáu gam), số ma túy còn lại H gói vào giấy bạc màu vàng. Các lớp giấy gói “bánh” ma túy ban đầu, H cho vào một túi nilon màu hồng để ở dưới gầm bàn trong phòng khách nhà H.
Ngày 10/01/2024, Đinh Ích A (sinh năm 1991; trú tại xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Cao Bằng) gọi điện thoại cho H hỏi mua 01 “cây” Heroine. H đồng ý và mang gói ma túy khối lượng 01 “cây” đã chia trước đó đem đến nhà của A, bán cho Anh với số tiền 35.000.000 đồng. Đến khoảng 08 giờ ngày 12/01/2024, Đinh Ích A tiếp tục gọi điện thoại cho H hỏi mua 01 “cây” Heroine. H nói khi nào đi được thì sẽ mang qua nhà cho Anh vì H đang bận việc. Đến khoảng hơn 10 giờ cùng ngày, H về nhà lấy 02 (hai) gói ma túy (mỗi gói khoảng 02 “Cây”) để vào trong túi áo ngực bên trong áo khoác H đang mặc rồi một mình điều khiển xe mô tô ba bánh đi đến nhà của A. Khi đi đến nhà văn hóa xóm N, xã T, huyện T thì H bị lực lượng chức năng phát hiện, bắt quả tang.
Ngoài Đinh Ích A, trước ngày bị bắt khoảng 03 tuần, H còn được bán ma túy cho Dương Văn T (sinh năm 1983; trú tại xóm L, xã Q, huyện T, tỉnh Cao Bằng) 01 lần với số tiền 2.000.000 đồng. Số tiền bán ma túy H đã sử dụng chi tiêu cá nhân và mua ma túy về sử dụng.
Hành vi của bị cáo đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C lập hồ sơ đề nghị truy tố bị cáo Đàm Đình H phạm về tội Mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại Cáo trạng số 51/CT-VKSCB-P1 ngày 23/5/2024 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng đã truy tố bị cáo Đàm Đình H về tội mua bán trái phép chất ma túy quy định tại điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội vẫn giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
* Về tội danh, hình phạt
Tuyên bố bị cáo Đàm Đình H phạm tội mua bán trái phép chất ma túy.
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Đàm Đình H, xử phạt bị cáo 20 năm tù.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị:
- - Buộc bị cáo nộp lại số tiền 2.000.000 đồng do phạm tội mà có.
- - Tịch thu tiêu hủy đối với số ma túy là vật chứng của vụ án đựng trong một hộp catton niêm phong và số ma túy hoàn lại sau giám định.
-
- Tịch thu hóa giá lấy tiền nộp ngân sách Nhà nước đối với:
- + 01 điện thoại Iphone và 01 điện thoại OPPO của bị cáo Đàm Đình H.
- + 01 xe mô tô ba bánh nhãn hiệu Dayang của bị cáo Đàm Đình H.
-
- Tịch thu tiêu hủy các đồ vật:
- + 01 túi nilon màu hồng, 07 mảnh giấy không rõ hình thù, màu vàng nhạt, loại giấy chống ẩm;
- + 01 túi nilon trong suốt hình khối hộp; 01 túi nilon màu vàng hình khối hộp; 02 mảnh túi nilon ghép lại thành hình khối hộp, một mảnh trong suốt, một mảnh trong suốt trên có in chữ, số bằng mực màu đỏ.
- + 02 cuộn băng dính màu đen đã qua sử dụng
- + 01 cân tiểu ly cán bằng nhựa, bàn cân hình tròn bằng kim loại, để trong hai mảnh gỗ hình chiếc đàn ghép lại với nhau.
Bị cáo được miễn án phí theo quy định pháp luật.
- Người bào chữa cho bị cáo trình bày: Viện kiểm sát truy tố bị cáo với tội danh “Mua bán trái phép chất ma tuý” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, nguyên nhân dẫn đến hành vi phạm tội, bị cáo là người sử dụng ma túy, mua bán ma túy để kiếm lời, bị cáo là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo. Bị cáo thành khẩn khai báo, bố đẻ bị cáo có công trong tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế được Thủ tướng Chính P cho hưởng chế độ trợ cấp một lần nên đề nghị cho bị cáo hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, bị cáo có nhân thân tốt, nên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các chính sách khoan hồng và cân nhắc khi quyết định hình phạt 20 năm tù cho bị cáo. Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về án phí: đề nghị xem xét cho bị cáo được miễn án phí.
Bị cáo nhất trí với bào chữa của người bào chữa, không có lời bào chữa bổ sung, không có ý kiến tham gia tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo hối hận về hành vi của mình, mong Hội đồng xét xử giảm hình phạt để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C, Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên toà, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội:
Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đàm Đình H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện như Cáo trạng truy tố, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, có đủ căn cứ xác định:
Hồi 11 giờ 45 phút ngày 12/01/2024, tại xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Công an xã T phát hiện, bắt quả tang Đàm Đình H tàng trữ 135,76g (một trăm ba mươi lăm phẩy bảy mươi sáu gam) Heroine trong túi áo ngực bên trái phía trong chiếc áo khoác H đang mặc. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại xóm Q, xã T, huyện T, tỉnh Cao Bằng, cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ thêm 01 (một) gói Heroine có khối lượng 11,86g (mười một phẩy tám mươi sáu gam) và 01 gói Heroine có khối lượng 0,06g (không phẩy không sáu gam). Toàn bộ số ma túy cơ quan điều tra thu giữ có tổng khối lượng là 147.68 (một trăm bốn mươi bảy phẩy sáu mươi tám gam), H để sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời. Trước ngày bị bắt khoảng 03 tuần, H đã bán ma túy, loại Heroine cho Dương Văn T 01 (một) lần với số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng), số tiền này H đã sử dụng cá nhân hết.
Hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của bị cáo đã xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước đối với chất ma tuý. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình gây nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố tình thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp, mục đích, động cơ phạm tội của bị cáo là nhằm thu lợi bất chính từ việc mua bán trái phép chất ma tuý.
Hành vi của bị cáo đã có đủ yếu tố cấu thành tội phạm về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 4 Điều 251 Bộ luật Hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng truy tố bị cáo với tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ đúng người, đúng tội, không oan.
[3]. Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về nhân thân:
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội, bố đẻ bị cáo là ông Đàm Văn Đ (tên gọi khác là Đàm Đình Đ1) có công trong tham gia chiến tranh bảo vệ Tổ quốc và làm nhiệm vụ quốc tế, bị cáo là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[5] Về hình phạt chính:
Xét tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nghiêm trọng, đã đi ngược lại chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước ta trong cuộc đấu tranh đẩy lùi và bài trừ tệ nạn ma túy. Hành vi đó góp phần làm gia tăng tệ nạn xã hội và các hành vi vi phạm pháp luật khác... gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội nên cần xử lý nghiêm khắc để làm gương cho người khác, đồng thời phục vụ công tác phòng ngừa, đấu tranh chống tội phạm ma túy ở địa phương.
Căn cứ vào nhân thân người phạm tội, tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy: cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù đối với bị cáo theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cao Bằng là có căn cứ, cần được chấp nhận.
[6] Về hình phạt bổ sung: Khoản 5 Điều 251 Bộ luật Hình sự năm 2015 quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 1 đến 5 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”.
Hội đồng xét xử thấy bị cáo không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng, tài sản tạm giữ và các biện pháp tư pháp:
- - Cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước đối với bị cáo số tiền 2.000.000 đồng là tiền bị cáo bán ma túy cho Dương Văn T.
- - Cần tịch thu tiêu hủy đối với số ma túy là vật chứng của vụ án đựng trong một hộp catton niêm phong và số ma túy hoàn lại sau giám định.
-
- Cần tịch thu hóa giá lấy tiền nộp ngân sách Nhà nước đối với:
- + 01 điện thoại Iphone, 01 điện thoại Oppo của bị cáo Đàm Đình H do bị cáo đã sử dụng trao đổi, liên lạc mua bán ma túy với Dương Văn T.
- + 01 xe mô tô ba bánh nhãn hiệu Dayang của bị cáo Đàm Đình H là phương tiện bị cáo sử dụng mua bán, ma túy.
-
- Tịch thu tiêu hủy các đồ vật do không còn giá trị, giá trị sử dụng:
- + 01 túi nilon màu hồng, 07 mảnh giấy không rõ hình thù, màu vàng nhạt, loại giấy chống ẩm;
- + 01 túi nilon trong suốt hình khối hộp; 01 túi nilon màu vàng hình khối hộp; 02 mảnh túi nilon ghép lại thành hình khối hộp, một mảnh trong suốt, một mảnh trong suốt trên có in chữ, số bằng mực màu đỏ.
- + 02 cuộn băng dính màu đen đã qua sử dụng
- + 01 cân tiểu lý cán bằng nhựa, bàn cân hình tròn bằng kim loại, để trong hai mảnh gỗ hình chiếc đàn ghép lại với nhau.
[8] Về các vấn đề khác:
Quá trình điều tra, H khai nhận được bán ma túy cho Đinh Ích A: lần 01 vào tháng 10/2023 với số tiền là 4.000.000 đồng; lần 02 vào khoảng tháng 10/2023 với số tiền là 12.000.000 đồng; Lần 03 vào khoảng đầu tháng 11/2023 với số tiền là 16.000.000 đồng; Lần 04 vào ngày 10/01/2024 với số tiền 35.000.000 đồng. Ngày 12/01/2024, khi H đang trên đường mang ma túy đi bán cho Anh thì bị cơ quan Công an phát hiện; H còn bán cho một người đàn ông không quen biết tại khu vực Mốc 753 một lần với số tiền 1.000.000 đồng. Cơ quan điều tra đã lấy lời khai, tiến hành đối chất giữa Anh và H nhưng Đinh Ích A không thừa nhận được mua ma túy với H. Ngoài lời khai của H, cơ quan điều tra không thu thập được tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh, do đó không có căn cứ để xử lý hình sự đối với H và A về những lần mua bán ma túy này.
Đối với Dương Văn T, mua ma túy với H để sử dụng cho bản thân. Cơ quan điều tra không xác định được khối lượng ma túy mà T đã mua với H nên không có căn cứ để xử lý T về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy.
Về người đàn ông Trung Quốc bán ma túy cho H và người đàn ông mua ma túy với H tại khu vực Mốc 753, do bị cáo không biết họ tên, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ.
[9] Về án phí: Bị cáo Đàm Đình H thuộc hộ nghèo, là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế, xã hội đặc biệt khó khăn theo quyết định 861/QĐ-TTg ngày 04/6/2021 của Thủ tướng Chính phủ và có đơn xin miễn án phí nên theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo được miễn án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố:
Bị cáo Đàm Đình H phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
2. Về hình phạt:
Áp dụng điểm b khoản 4 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt với bị cáo Đàm Đình H 20 năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 12/01/2024.
3. Việc xử lý vật chứng và các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Truy thu nộp ngân sách Nhà nước đối với bị cáo số tiền 2.000.000 đồng.
-
- Tịch thu hóa giá lấy tiền nộp ngân sách Nhà nước đối với:
- + 01 điện thoại Iphone được niêm phong trong phong bì, mặt trước ghi “Điện thoại Iphone của Đàm Đình H” mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu hình tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C; 01 điện thoại Oppo được niêm phong trong phong bì, mặt trước ghi “Điện thoại OPPO của Đàm Đình H” mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng dấu hình tròn mực đỏ của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh C.
- + 01 xe mô tô ba bánh, màu đỏ, nhãn hiệu DAYANG, không có biển kiểm soát, số khung LAT7CHZ70K3107799, số máy DY152FMH-2C, đã qua sử dụng, vỏ xe có nhiều vết xước bị rỉ sét đã cũ. Xe không có chìa khoá kèm theo.
- (Qua kiểm tra thực tế số khung, số máy của xe không tìm thấy thông tin đăng ký xe trên Hệ thống Đăng ký, quản lý phương tiện giao thông theo Công văn số 321/PC08-DD3 ngày 28/3/2024 của Phòng C Công an tỉnh C về việc trả lời xác minh).
- - Tịch thu tiêu hủy đối với số ma túy là vật chứng của vụ án đựng trong một phong bì niêm phong mặt trước ghi “Vật chứng vụ Đàm Đình H – Mua bán trái phép chất ma tuý, xảy ra ngày 12/01/2024 tại xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Cao Bằng” mặt sau có chữ ký của các thành phần tham gia niêm phong và đóng các hình dấu đỏ giáp lai của Cơ quan CSĐT Công an huyện T và số ma túy hoàn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì, mặt trước ghi “Số 118/KL-KTHS. H1 lại mẫu sau giám định vụ: Đàm Đình H có hành vi mua bán trái phép chất ma tuý, xảy ra ngày 12/01/2024, mặt sau phong bì có chữ ký các thành phần tham gia niêm phong và đóng hình dấu đỏ của Phòng K Công an tỉnh C.
-
- Tịch thu tiêu hủy các đồ vật:
- + 01 túi nilon màu hồng, 07 mảnh giấy không rõ hình thù, màu vàng nhạt, loại giấy chống ẩm;
- + 01 túi nilon trong suốt hình khối hộp; 01 túi nilon màu vàng hình khối hộp; 02 mảnh túi nilon ghép lại thành hình khối hộp, một mảnh trong suốt, một mảnh trong suốt trên có in chữ, số bằng mực màu đỏ.
- + 02 cuộn băng dính màu đen đã qua sử dụng
- + 01 cân tiểu lý cán bằng nhựa, bàn cân hình tròn bằng kim loại, để trong hai mảnh gỗ hình chiếc đàn ghép lại với nhau.
Các vật chứng, tài sản đang được tạm giữ tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Cao Bằng, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 123 ngày 24/6/2024.
4. Về án phí:
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Đàm Đình H được miễn tiền án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án hình sự sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Lê Na |
Bản án số 119/2024/HS-ST ngày 30/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG về mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 119/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CAO BẰNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 11 giờ 45 phút ngày 12/01/2024, tại xóm N, xã T, huyện T, tỉnh Cao Bằng, tổ công tác Công an huyện T phối hợp với Công an xã T phát hiện, bắt quả tang Đàm Đình H tàng trữ 135,76g (một trăm ba mươi lăm phẩy bảy mươi sáu gam) Heroine trong túi áo ngực bên trái phía trong chiếc áo khoác H đang mặc. Khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại xóm Q, xã T, huyện T, tỉnh Cao Bằng, cơ quan điều tra phát hiện, thu giữ thêm 01 (một) gói Heroine có khối lượng 11,86g (mười một phẩy tám mươi sáu gam) và 01 gói Heroine có khối lượng 0,06g (không phẩy không sáu gam). Toàn bộ số ma túy cơ quan điều tra thu giữ có tổng khối lượng là 147.68 (một trăm bốn mươi bảy phẩy sáu mươi tám gam), H để sử dụng cho bản thân và bán lại kiếm lời. Trước ngày bị bắt khoảng 03 tuần, H đã bán ma túy, loại Heroine cho Dương Văn T 01 (một) lần với số tiền 2.000.000đ (hai triệu đồng), số tiền này H đã sử dụng cá nhân hết.
