|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN THÀNH PHỐ HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 119/2024/DS-ST
Ngày: 30/7/2024
V/v: Tranh chấp phát sinh
từ hợp đồng cho thuê Ki ốt.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Anh Tuấn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Bùi Văn Bình
Bà Lưu Thị Hà
- Thư ký phiên toà: Ông Lưu Tuấn Long - Thư ký Tòa án nhân dân quận Long Biên, thành phố Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Hoàng Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Long Biên, Thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 24/2024/TLST-DS ngày 02/02/2024 về việc "Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cho thuê Ki ốt" theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-DS ngày 06 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 49/2024/QĐST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Công ty cổ phần H
Địa chỉ: Toà nhà HudBuilding, số 430 đường N, phường Đ, quận L, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Dũng H – Tổng giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Anh T (Có mặt).
(Văn bản ủy quyền ngày 15/11/2023)
- Bị đơn: Bà Nguyễn Tố N
Địa chỉ: P1204, GH3, CT17 Khu đô thị V, phường V, quận L, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- - Uỷ ban nhân dân Thành phố H
- Địa chỉ : Số 12 phố L, quận H, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt).
- - Công ty cổ phần đầu tư và phát triển bất động sản H
- Địa chỉ: Tầng 12 Toà nhà HUDLAND TOWER, Lô ACC7 khu dịch vụ tổng hợp L, phường H, quận H, Thành phố Hà Nội (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và các lời khai tiếp theo, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Công ty cổ phần H được Công ty cổ phần đầu tư và phát triển bất động sản H giao quản lý, khai thác tài sản Nhà nước.
Ngày 01/02/2017 Công ty H ký hợp đồng cho thuê Ki ốt thương mại với bà Nguyễn Tố N. Theo hợp đồng, Công ty H cho bà N thuê diện tích 72,81m2; Địa điểm: Ki ốt số 12, nhà 14 tầng, khu nhà ở chung cư cao tầng Green House, lô đất CT17 khu đô thị V, quận L, Thành phố Hà Nội; Mục đích thuê: Kinh doanh dịch vụ chăm sóc sức khoẻ cộng đồng; Thời hạn thuê 05 năm kể từ ngày 01/3/2017; Giá thuê: 90.000 đồng/m2; Tổng tiền thuê 01 tháng: 6.552.900 đồng.
Năm 2018 hai bên ký phụ lục hợp đồng số 01 về việc điều chỉnh đơn giá thuê hàng tháng là 99.000 đồng/m2, tổng tiền thuê hàng tháng là 7.208.190 đồng.
Do yêu cầu về việc thu hồi mặt bằng để bàn giao cho Thành phố H, ngày 23/4/2022, Công ty H và bà Nguyễn Tố N đã ký biên bản thanh lý hợp đồng với nôi dung: Hai bên thống nhất ký thanh lý trước hạn hợp đồng, đồng thời bà N có trách nhiệm bàn giao mặt bằng, thanh toán công nợ cho Công ty H chậm nhất đến ngày 31/12/2022.
Ngày 31/12/2022 hai bên ký biên bản bù trừ công nợ, số tiền bà N còn phải thanh toán cho Công ty H là 77.717.394 đồng. Tuy nhiên bà N không thanh toán cho Công ty H.
Công ty H khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết buộc bà Nguyễn Tố N phải thanh toán số tiền còn nợ.
Tại phiên tòa:
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Long Biên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án đảm bảo thẩm quyền và xác định đúng quan hệ tranh chấp.
Về nội dung: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thuê Ki ốt được quy định tại Điều 26 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn và nơi thực hiện hợp đồng đều có địa chỉ tại quận Long Biên, Thành phố Hà Nội. Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Long Biên.
Tòa án đã tiến hành tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng đối với bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, vẫn tiến hành xét xử vụ án.
[2] Về yêu cầu khởi kiện:
Theo Quyết định số 3819/QĐ-UB ngày 18/6/2004 của Uỷ ban nhân dân Thành phố H về việc thu hồi 1.980.233m2 đất tại các phường Việt Hưng, Giang Biên, Thượng Thanh, Đức Giang giao cho Tổng công ty Đầu tư phát triển nhà và đô thị để đầu tư xây dựng khu đô thị mới Việt Hưng; Hợp đồng số 283/HĐ-HUD ngày 24/12/2008 về việc thực hiện đầu tư xây dựng và kinh doanh công trình tại lô đất CT17 thuộc dự án khu đô thị Việt Hưng; Hợp đồng dịch vụ số 604/HDDV-HL ngày 24/7/2012 và các phụ lục hợp đồng giữa HUDLAND và Công ty H về việc thực hiện gói thầu quản lý vận hành khu chung cư Green House; Hợp đồng uỷ quyền khai thác kinh doanh diện tích tầng 1 tại dự án CT17 Việt Hưng xác định Công ty H có quyền khai thác, cho thuê Ki ốt tại khu nhà ở chung cư cao tầng Green House, lô đất CT17 khu đô thị V.
Ngày 01/02/2017 Công ty H ký hợp đồng cho thuê Ki ốt thương mại với bà Nguyễn Tố N. Theo hợp đồng, Công ty H cho bà N thuê diện tích 72,81m2; Địa điểm: Ki ốt số 12, nhà 14 tầng, khu nhà ở chung cư cao tầng Green House, lô đất CT17 khu đô thị V, quận L, Thành phố Hà Nội
Ngày 23/4/2022, Công ty H và bà Nguyễn Tố N đã ký biên bản thanh lý hợp đồng.
Ngày 31/12/2022 hai bên ký biên bản bù trừ công nợ, số tiền bà N còn phải thanh toán cho Công ty H là 77.717.394 đồng.
Xét thấy nội dung và hình thức hợp đồng cho thuê Ki ốt thương mại phù hợp với quy định của pháp luật. Hợp đông được các bên ký kết trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy xác định là hợp đồng hợp pháp có hiệu lực thi hành với các bên. Tại biên bản thanh lý hợp đồng và biên bản bù trừ công nợ, bà N đã ký xác nhận về số tiền còn phải thanh toán. Do đó yêu cầu của nguyên đơn về số tiền mà bị đơn còn nợ là có căn cứ nên được chấp nhận.
[3] Về án phí: Bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trên số tiền phải thanh toán.
Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 146, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 398, 399, 400, 401, 402, 468 Bộ luật dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Toà án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Công ty cổ phần H đối với bà Nguyễn Tố N.
Buộc bà Nguyễn Tố N phải trả Công ty cổ phần H tiền thuê Ki ốt số 12, nhà 14 tầng, khu nhà ở chung cư cao tầng Green House, lô đất CT17 khu đô thị V, quận L, Thành phố Hà Nội với số tiền 77.717.394 (Bảy mươi bảy triệu bảy trăm mười bảy ngàn ba trăm chín mươi bốn) đồng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Bà Nguyễn Tố N phải chịu 3.885.869 (Ba triệu tám trăm tám mươi lăm ngàn tám trăm sáu mươi chín) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Hoàn trả Công ty cổ phần H số tiền 1.940.000 (Hai mươi chín triệu bảy trăm ngàn) đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 18489 ngày 25 tháng 01 năm 2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Long Biên.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Công ty cổ phần H có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn, Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Anh Tuấn |
Bản án số 119/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI về tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cho thuê ki ốt
- Số bản án: 119/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng cho thuê Ki ốt
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN LONG BIÊN - THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp phát sinh từ hợp đồng thuê ki ốt
