Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 119/2024/KDTM-ST

Ngày: 27 - 9 - 2024

V/v tranh chấp Hợp đồng mua bán hàng hóa

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Minh Loan.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Nguyễn Văn Soan.
  2. Bà Trần Thị Mai Lan.

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thành Luân, là Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thu Phượng - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 9 năm 2024, tại Phòng xử án của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 135/2023/TLST – KDTM ngày 08 tháng 11 năm 2023 về “Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 496/2024/QĐXXST-KDTM ngày 07 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 498/2024/QĐST-KDTM ngày 04 tháng 9 năm 2024 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Công ty TNHH I (VIETNAM).

Địa chỉ: Tầng B, Tòa nhà H, số A T, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Cao Thị Ú, sinh năm 1992, địa chỉ: Tầng C, Tòa nhà T, số F đường H, phường C, thành phố T, tỉnh Bình Dương.

2. Bị đơn: Công ty TNHH S.

Địa chỉ: Số H Đường số A, Khu dân cư C, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Dương Quang M, sinh năm 1970, địa chỉ: Số D đường Q, Phường A, quận G, Tp ..

Phiên tòa có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là bà Cao Thị Ú trình bày:

Công ty TNHH I (VIETNAM) và Chi nhánh Công ty TNHH S – Nhà máy Á có thỏa thuận mua bán hàng hóa theo quy cách, số lượng và đơn giá tại Bảng báo giá ngày 13/7/2022 về sản phẩm Keo ghép ngang, chất xúc tác, keo ghép fingerjoint. Quá trình thực hiện thì nguyên đơn đã thực hiện đúng nghĩa vụ giao hàng theo thỏa thuận mà bên phía bị đơn yêu cầu. Ngày 25/4/2023, hai bên đã lập biên bản đối chiếu công nợ số tiền 407.550.000 đồng. Nguyên đơn đã nhiều lần nhắc nợ nhưng phía bị đơn vẫn không có thiện chí trả nợ nên nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền nợ gốc là 407.550.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 04/11/2022 đến ngày 27/9/2024 là 85.637.915 đồng. Yêu cầu bị đơn trả ngay một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nên không ghi nhận được ý kiến của bị đơn đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Yêu cầu bị đơn phải thanh toán tiền gốc là 407.550.000 đồng và tiền lãi tính từ ngày 04/11/2022 đến ngày 27/9/2024 theo mức lãi suất chậm thanh toán là 12%/năm trên số tiền gốc chưa trả là 85.637.915 đồng. Yêu cầu bị đơn trả ngay một lần khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng; thực hiện việc gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn thực hiện đúng qui định tại Điều 70, Điều 71, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự; bị đơn chưa thực hiện đúng qui định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về án phí sơ thẩm thực hiện theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn Công ty TNHH I (VIETNAM) khởi kiện Công ty TNHH S về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa. Bị đơn Công ty TNHH S có trụ sở chính tại quận G. Căn cứ khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự đây là loại vụ việc thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Về thủ tục tố tụng:

Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký hoạt động chi nhánh của Chi nhánh Công ty TNHH S – Nhà máy Á (thời điểm yêu cầu thông tin là ngày khởi kiện và ngày 15/8/2024) thể hiện hoạt động theo ủy quyền của doanh nghiệp Công ty TNHH S, địa chỉ trụ sở chính tại số H Đường số A, KDC C, Phường G, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Như vậy, xác định bị đơn trong vụ án là Công ty TNHH S.

Bị đơn Công ty TNHH S đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa, do đó Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt Công ty TNHH S.

[3] Về nội dung:

[3.1]. Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn thanh toán số tiền gốc là 407.550.000 đồng, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Căn cứ Bảng báo giá ngày 13/7/2022 thể hiện nguyên đơn có gửi Công ty TNHH S – Chi nhánh T báo giá sản phẩm về Keo ghép ngang, chất xúc tác, keo ghép fingerjoint. Thời gian giao hàng 3 ngày sau khi nhận đơn.

Căn cứ các Phiếu giao hàng ngày 04/10/2022, 31/10/2022, 01/02/2023 và các Hóa đơn giá trị gia tăng ngày 27/10/2022, 02/11/2022, 08/02/2023 thể hiện nguyên đơn có giao hàng hóa và xuất hóa đơn giá trị gia tăng tổng số tiền là 407.550.000 đồng.

Căn cứ Đối chiếu công nợ tháng 4/2023 của nguyên đơn không thể hiện xác nhận của bị đơn. Tuy nhiên, bị đơn có gửi Giấy hẹn đề ngày 26/4/2023 về việc xin thanh toán làm hai đợt và gia hạn thêm thời gian thanh toán tổng số tiền là 407.550.000 đồng và Giấy hẹn đề ngày 07/6/2023 về việc xin gia hạn thêm thời gian thanh toán hết nợ số tiền 407.550.000 đồng vào ngày 17/6/2023.

Theo trình bày của nguyên đơn, kể từ thời điểm bị đơn xác nhận nợ đến nay thì bị đơn không thanh toán một khoản nào cho nguyên đơn. Như vậy đủ cơ sở xác định bị đơn còn thiếu nguyên đơn số tiền là 407.550.000 đồng như bản đối chiếu công nợ và giấy hẹn do bị đơn gửi xác nhận với nguyên đơn. Do đó xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền còn thiếu là 407.550.000 đồng là có có sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3.2]. Đối với yêu cầu thanh toán tiền lãi chậm thanh toán là 85.637.915 đồng với mức lãi suất là 12%/năm.

Căn cứ Bảng báo giá ngày 13/7/2022 thể hiện công nợ 30 ngày.

Căn cứ Điều 306 Luật Thương mại quy định “Trường hợp bên vi phạm hợp đồng chậm thanh toán tiền hàng hay chậm thanh toán thù lao dịch vụ và các chi phí hợp lý khác thì bên bị vi phạm hợp đồng có quyền yêu cầu trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thoả thuận khác hoặc pháp luật có quy định khác”.

Do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên việc nguyên đơn yêu cầu tính lãi chậm thanh toán là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về thời gian tính lãi và số tiền lãi, cụ thể như sau:

Căn cứ Phiếu giao hàng đề ngày 04/10/2022 và Hóa đơn giá trị gia tăng số 00001526, số tiền hàng 160.105.000 đồng, thời gian yêu cầu tính lãi từ ngày 04/11/2022 đến ngày xử là 22 tháng 23 ngày, số tiền lãi 36.450.572 đồng.

Căn cứ Phiếu giao hàng đề ngày 31/10/2022 và Hóa đơn giá trị gia tăng số 00001565, số tiền hàng 88.715.000 đồng, thời gian yêu cầu tính lãi từ ngày 01/12/2022 đến ngày xử là 21 tháng 26 ngày, số tiền lãi 19.399.013 đồng.

Căn cứ Phiếu giao hàng đề ngày 01/02/2023 và Hóa đơn giá trị gia tăng số 00000063, số tiền hàng 158.730.000 đồng, thời gian yêu cầu tính lãi từ ngày 04/11/2022 đến ngày xử là 22 tháng 23 ngày, số tiền lãi 29.788.330 đồng.

Thời gian tính lãi theo thỏa thuận của các bên là phù hợp. Yêu cầu trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả với mức lãi suất 12%/năm/năm của nguyên đơn là phù hợp với lãi suất liên ngân hàng tại thời điểm xét xử và phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015. Do đó, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền lãi 85.637.915 đồng là có có sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét ý kiến của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp là có cơ sở chấp nhận.

[4] Về án phí:

Căn cứ quy định của Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị đơn Công ty TNHH S phải chịu án phí trên số tiền phải trả cho nguyên đơn là 23.727.517 đồng.

Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được chấp nhận nên không phải chịu án phí. Hoàn trả lại tiền tạm nộp án phí cho nguyên đơn là 10.821.373 đồng theo biên lai thu số AA/2023/0012764 ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các khoản 1 Điều 30, điểm b khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 235, Điều 271, Điều 273, Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ các Điều 50, Điều 55, Điều 306 của Luật Thương mại năm 2005;

Căn cứ khoản 2 Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự 2015;

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ban hành ngày 11/01/2019 về hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
  2. Buộc Công ty TNHH S trả cho Công ty TNHH I (VIETNAM) số tiền là 493.187.915 (bốn trăm chín mươi ba triệu một trăm tám mươi bảy ngàn chín trăm mười lăm) đồng, trong đó: tiền gốc là 407.550.000 (bốn trăm lẻ bảy triệu năm trăm năm mươi ngàn) đồng và tiền lãi 85.637.915 (tám mươi lăm triệu sáu trăm ba mươi bảy ngàn chín trăm mười lăm) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của Công ty TNHH I (VIETNAM) cho đến khi thi hành án xong, Công ty TNHH S còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

    Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  3. Về án phí kinh doanh thương mại sơ thẩm:
  4. Công ty TNHH S phải chịu án phí kinh doanh thương mại là 23.727.517 (hai mươi ba triệu bảy trăm hai mươi bảy ngàn năm trăm mười bảy) đồng.

    Hoàn trả lại tiền tạm nộp án phí cho Công ty TNHH I (VIETNAM) là 10.821.373 đồng theo biên lai thu số AA/2023/0012764 ngày 08/11/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Gò Vấp.

    Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  5. Về quyền kháng cáo:
  6. Nguyên đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

  7. Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp;
  • - Chi cục THADS quận Gò Vấp;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Loan

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/KDTM-ST ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa

  • Số bản án: 119/2024/KDTM-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Kinh doanh thương mại
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng mua bán hàng hóa
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger