|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 119/2024/HNGĐ-ST.
Ngày: 23/7/2024
V/v: “ Tranh chấp ly hôn và nuôi con”.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT – TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Phúc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Tấn Lập
2. Ông: Nguyễn Văn Đoạt
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Quốc Tững - Thư ký TAND huyện Hòn Đất.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Không.
Trong ngày 23 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân gia đình thụ lý số: 42/2024/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”. Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 106/2024/QĐXXST -HNGĐ ngày 24 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:
1/ Nguyên đơn: Chị Thị H, sinh năm 1997(Vắng mặt có đơn).
Nơi cư trú: Khu phố S, thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
2/ Bị đơn: Anh Triệu Lợi P, sinh năm 1983(Vắng mặt).
Nơi cư trú: Khu phố S, thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tố tụng tại Tòa án nguyên đơn chị Thị H trình bày như sau:
Về hôn nhân: Năm 2012 chị Thị H và anh Triệu Lợi P tự tìm hiểu yêu thương nhau và sống chung với nhau như vợ chồng với nhau bên gia đình anh Triệu Lợi P tại xã P, thành phố R, tỉnh Kiên Giang, do không được sự chấp thuận của hai bên gia đình nên không tổ chức đám cưới, đến năm 2013 chị Thị H và anh Triệu Lợi P về bên gia đình chị Thị H tại khu phố S, thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang sinh sống. Đến năm 2016 chị Thị H và anh Triệu Lợi P đi đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 98 ngày 13/10/2016. Quá trình hôn nhân thời gian đầu vợ chồng sống với nhau hạnh phúc và sinh được 03 người con chung, thời gian gần đây hai vợ chồng bắt đầu phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân là anh Triệu Lợi P không quan tâm gia đình, khi uống rượu vào thì ghen tuông vô cớ nên thường xuyên cãi vã nhau, mặc dù chị Thị H đã cố gắng khuyên nhủ nhằm xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng anh Triệu Lợi P không thay đổi, kể từ tháng 11 năm 2023 mâu thuẫn trở nên trầm trọng nên anh Triệu Lợi P dọn đồ ra khỏi nhà sống riêng và cũng kể từ đó hai vợ chồng bắt đầu sống ly thân, kể từ khi ly thân cuộc sống của ai người đó tự lo, không còn quan tâm chăm sóc nhau nữa. Nay nhận thấy cuộc sống chung vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích của hôn nhân không đạt được nên chị Thị H yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với anh Triệu Lợi P
Về con chung: Chị Thị H trình bày quá trình hôn nhân chị Thị H và anh Triệu Lợi P có 03 người con chung gồm: Triệu Lợi Sang, sinh ngày 06/5/2013, Triệu Lợi T, sinh ngày 23/7/2014 và Triệu Thị Cẩm T1, sinh ngày 12/4/2017 hiện đang do chị Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, ly hôn chị Thị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả 03 con chung cho đến tuổi trưởng thành.
Về cấp dưỡng nuôi con: Theo đơn khởi kiện, chị Thị H yêu cầu anh Triệu Lợi P cấp dưỡng nuôi 03 con mỗi tháng 3.000.000 đồng, tuy nhiên quá trình tố tụng và tại phiên họp công khai chứng cứ chị Thị H xác định có thu nhập đủ điều kiện nuôi con nên thay đổi yêu cầu khởi kiện, không yêu cầu anh Triệu Lợi P cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Thị H trình bày không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Quá trình tố tụng Tòa án đã tống đạt các văn bản tố tụng của Tòa án cho anh Triệu Lợi P đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên anh Triệu Lợi P nhận các văn bản tố tụng của Tòa án nhưng không đến Tòa án làm việc cũng như không tham gia tố tụng tại Tòa án nên không có lời khai.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn chị Thị H yêu cầu được ly hôn với bị đơn anh Triệu Lợi P, bị đơn có nơi cư trú tại huyện H, tỉnh Kiên Giang. Xét thấy, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về thủ tục tố tụng: Chị Thị H có đơn xin xét xử vắng mặt, anh Triệu Lợi P đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ 2, nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự.
[3] Về nội dung vụ án:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Vào năm năm 2012, chị Thị H và anh Triệu Lợi P tự tìm hiểu yêu thương nhau, tự nguyện đi đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn H, huyện H, tỉnh Kiên Giang và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 98, ngày 13/10/2016, nên hôn nhân giữa chị Thị H và anh Triệu Lợi P là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Năm 2023 chị Thị H và anh Triệu Lợi P phát sinh mâu thuẫn do không hòa hợp trong đời sống hôn nhân nên hiện đã sống ly thân. Tòa án đã tổ chức phiên hòa giải để chị Thị H và anh Triệu Lợi P đoàn tụ nhằm xây dựng hạnh phúc gia đình, tuy nhiên anh Triệu Lợi P đã vắng mặt không tham gia hòa giải, quá trình tố tụng Tòa án đã tiến hành động viên hàn gắn hạnh phúc gia đình nhưng chị Thị H cương quyết ly hôn với anh Triệu Lợi P vì thời gian ly thân đã lâu và hiện không còn tình cảm.
Tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: "Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau..."
Hội đồng xét xử xét thấy, thời gian ly thân giữa chị Thị H và anh Triệu Lợi P kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó yêu cầu xin ly hôn của chị Thị H là có cơ sở chấp nhận. Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Thị H đối với anh Triệu Lợi P.
[3.2] Về quan hệ con chung: Chị Thị H và anh Triệu Lợi P có 03 người con chung gồm: Triệu Lợi Sang, sinh ngày 06/5/2013, Triệu Lợi T, sinh ngày 23/7/2014 và Triệu Thị Cẩm T1, sinh ngày 12/4/2017, kể từ khi ly thân đến nay các con do chị Thị H trực tiếp nuôi dưỡng, ly hôn chị Thị H yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng cả 03 con chung cho đến tuổi trưởng thành, anh Triệu Lợi P không có ý kiến phản đối, các cháu Triệu Lợi S và Triệu Lợi T có nguyện vọng được tiếp tục sống cùng chị Thị H. Do đó yêu cầu nuôi con của chị Thị H là có cơ sở chấp nhận, Hội đồng xét xử giao cả 03 con chung cho chị Thị H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng: Chị Thị H xác định có đủ điều kiện để nuôi dưỡng con chung nên không yêu cầu anh Triệu Lợi P cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét
[3.3] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Thị H trình bày quá trình hôn nhân không có tài sản chung và nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét. Trường hợp sau này có tranh chấp thì có quyền khởi kiện vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
[3.4] Về án phí hôn nhân và gia đình: Chị Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Các Điều 147; 227; 228; 266; 271 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
- Căn cứ các Điều 51, 56, 58, 81, 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
- Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Thị H.
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Thị H được ly hôn với anh Triệu Lợi P.
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Triệu Lợi S, sinh ngày 06/5/2013, Triệu Lợi T, sinh ngày 23/7/2014 và Triệu Thị Cẩm T1, sinh ngày 12/4/2017 cho chị Thị H tiếp tục nuôi dưỡng cho đến tuổi trưởng thành (đủ 18 tuổi).
Anh Triệu Lợi P có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở, trường hợp lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Thị H xác định có đủ điều kiện nuôi con, không yêu cầu anh Triệu Lợi P cấp dưỡng nuôi con là tự nguyện nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Thị H trình bày không có tài sản chung và nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Trường hợp sau này có tranh chấp thì có quyền khởi kiện vụ án dân sự khác theo quy định của pháp luật.
4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Chị Thị H phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0004195 ngày 22/01/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang. Như vậy chị Thị H đã nộp đủ án phí.
5. Quyền kháng cáo: Báo cho nguyên đơn, bị đơn biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Văn Phúc |
Bản án số 119/2024/HNGĐ-ST ngày 23/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT – TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Số bản án: 119/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 23/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT – TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu ly hôn
