|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC TỈNH KIÊN GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 119/2024/HS-ST
Ngày: 22/7/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ toạ phiên tòa: Ông Trần Ngọc Triệu
Các Hội thẩm nhân dân:
- - Ông Đinh Quang Tuyến – Cán bộ hưu trí
- - Ông Ngô Rạng Đông – Nguyên Trưởng phòng giáo dục và Đào tạo huyện Phú Quốc (nay là thành phố Phú Quốc)
Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Văn Chung – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Nghị - Kiểm sát viên
Trong ngày 22 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phú Quốc, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 99/2024/TLST – HS ngày 05 tháng 6 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2024/QĐXXST-HS, ngày 05 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
* Cao Văn N, sinh ngày 08/10/2005; Tại: P, Kiên Giang;
Tên gọi khác: không có
CCCD số: [...] do Cục C về TTXH cấp ngày 06/11/2022;
Nơi ĐKTT: khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang;
Chỗ ở hiện nay: khu phố H, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang;
Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ văn hóa (học vấn): 04/12; Con ông Cao Văn M và bà Huỳnh Thị L; Chị ruột có 01 người, sinh năm 2003
Tiền án, tiền sự: chưa
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 08/5/2024 (bị bắt theo lệnh truy nã) đến nay (có mặt)
* Bị hại:
- Bà Huỳnh Thị Kim N1, sinh năm 1972
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1944
Đại diện theo ủy quyền của bà S: Bà Huỳnh Thị Kim N1, sinh năm 1972 (có mặt).
Cùng địa chỉ: khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Văn L1, sinh năm 1972 (chồng bà N1); Địa chỉ: khu phố D, phường A, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có đơn xin vắng mặt).
- Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Cao Văn N: Ông Cao Văn M, sinh năm 1964 (cha ruột); Địa chỉ: ấp C trong trong, xã C, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt) và bà Huỳnh Thị L, sinh năm 1963 (mẹ ruột); Địa chỉ: khu phố D, phường D, thành phố P, tỉnh Kiên Giang (có mặt);
- Người bào chữa cho bị cáo Cao Văn N: Ông Huỳnh Ngọc T – Trợ giúp viên pháp lý do Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh K phân công bào chữa (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 11/01/2019, bà Huỳnh Thị Kim N1 vay của Phùng Việt T1 số tiền 5,2 tỷ đồng, với lãi suất 04%/tháng và thế chấp cho T1 quyền sử dụng đất diện tích 1.102m², tọa lạc tại Khu phố D, thị trấn A, huyện P (N là phường A, thành phố P), tỉnh Kiên Giang và tài sản trên đất gồm: 01 căn nhà của mẹ ruột bà N1 là bà Nguyễn Thị S (sinh năm 1944) đang sinh sống, 01 căn nhà và 01 dãy nhà trọ có 12 phòng của bà N1. T1 cho bà N1 vay tiền, nhưng Trung lập hợp đồng giả cách bằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và văn bản thỏa thuận thế chấp tài sản vay tiền, trong thời hạn vay 06 tháng nếu bà N1 không chuộc lại nhà và đất thì thuộc sở hữu của T1. Sau khi cho bà N1 vay tiền và thế chấp nhà của bà N1 và bà S, T1 làm hợp đồng cho bà N1 thuê lại nhà để ở. Đến ngày 06/3/2020, do bà N1 không có tiền chuộc lại nhà và trả tiền lãi nên T1 làm thủ tục sang tên được Ủy ban nhân dân huyện P cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đến tháng 12/2022, T1 cùng với Vũ Văn Đ và Nguyễn Việt T2 đến gặp bà N1 để lấy nhà đã thế chấp, nhưng bà N1 xin ở thêm 01 tuần nữa để trả nợ gốc và lãi. Khoảng 01 tuần sau (tháng 01/2023 âm lịch), T1 cùng với Đ và T2 tiếp tục đến nhà bà N1 để lấy nhà, bà N1 viết giấy tay cam kết sẽ giao nhà đã thế chấp cho T1 vào ngày 31/02/2023 (âm lịch). Đến ngày 10/01/2023 (âm lịch), T1 giao cho Đ đến gặp bà N1 để lấy nhà
trọ, bà N1 giao dãy nhà trọ có 12 phòng cho T1 và Đ quản lý. Đến khoảng 12 giờ, ngày 23/3/2023, T1 gọi điện thoại cho Đ kêu đến nhà bà N1 để lấy nhà, Đ đồng ý, nên T1 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 68A – 171.32 chạy đến khu phố G, phường D, thành phố P rước Đ. Trên đường đi, T1 đưa điện thoại di động cho Đ kêu gọi cho T2 tìm thuê người bốc vác đến nhà bà N1 để khiêng đồ mang ra ngoài, nên Đ gọi điện thoại cho T2 kêu “tìm thuê người bốc vác dọn đồ trong nhà bà N1 mang ra ngoài sân”. Sau đó, T2 gọi điện thoại cho L2 Trần Thanh L3 kêu: “khiêng đồ thuê cho người khác”, L3 đồng ý, L3 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 68A – 235.91, chạy trên đường thuộc khu phố H, phường A thấy Tòng Văn N2, Tòng Văn N3, Cao Văn N và Nguyễn Tấn V đang đi bộ, nên L3 dừng xe rủ cùng đi bốc vác đồ, tất cả đồng ý. Trên đường đi, Lương ghé trước cổng L, thuộc Khu phố G, phường D đến nhà bà N1. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, khi đến nơi, T1, Đ và T2 xuống xe đi vào nhà của bà S gặp bà N1, T1 yêu cầu dọn đồ bàn giao nhà, bà N1 không đồng ý cho đây là nhà của mẹ ruột là bà Nguyễn Thị S và xin ở thêm 01 tuần nữa, nhưng T1 không đồng ý và kêu dọn đồ ra khỏi nhà. L3, N2, N4, N và V biết rõ T1 thuê vào nhà của bà S để khiêng đồ mang ra ngoài chưa được sự đồng ý của chủ nhà. Sau đó, T1 kêu mọi người vào nhà bà S khiêng đồ mang ra ngoài, nên L3, N2, N3, N và V cùng nhau đi vào nhà khiêng tủ gỗ, tủ kính, nệm, salon, quần áo, chén, dĩa và vật dụng khác mang ra để ngoài sân. Đến khoảng 14 giờ cùng ngày, bà N1 gọi điện thoại báo tin đến Công an phường A Khoảng 10 phút sau, Công an phường A đến lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, sau đó bàn giao cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P giải quyết theo thẩm quyền. Chính quyền địa phương kiến nghị xử lý hành vi của T1, Đ, T2, L3, N2, N3, N và V gây mất an ninh, trật tự tại địa phương.
Đến ngày 31/3/2023, Phùng Việt T1, Vũ Văn Đ, Nguyễn Việt T2, Lâm Trần Thanh L4, Tòng Văn N2, Tòng Văn N3, Cao Văn N và Nguyễn Tấn V bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P khởi tố, T1, Đ, T2 bị tạm giam, L4, N, V bị cấm đi khỏi nơi cư trú để điều tra, N2 và N3 bị tạm giam trong vụ án khác. Trong giai đoạn truy tố N bỏ trốn đến ngày 08/5/2024 bị bắt theo lệnh truy nã.
Vật chứng thu giữ:
- - 01 xe ô tô hiệu SUZUKI, loại ERTIGA, màu trắng, số máy: K15BT1163629, số khung: C22SLJ904121, biển kiểm soát 68A – 171.32, đã qua sử dụng (tạm giữ của Phùng Việt T1);
- - 01 xe ô tô hiệu TOYOTA, loại Fortuner, số máy: 2GD0691500, số khung: RL4CB3GS2K2464741, màu đen, biển kiểm soát 68A – 235.91, đã qua sử dụng (tạm giữ của L2 Trần Thanh L4);
- - 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô hiệu SUZUKI, loại ERTIGA, màu trắng, số máy: K15BT1163629, số khung: C22SLJ904121, biển kiểm soát 68A – 171.32, mang tên Phùng Việt T1;
- - 03 ổ khóa kim loại, hiệu VIỆT – TIỆP, màu vàng đồng trắng, chưa qua sử dụng;
- - 09 chìa khóa kim loại, hiệu VIỆT – TIỆP, màu trắng, chưa qua sử dụng;
- - 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A51, màu xám, số IMEI 1: 356161110684917/01; IMEI 2: 356162110684915/01 (tạm giữ của Nguyễn Việt T2);
- - 01 điện thoại di động hiệu N5 màu đen, model: tA-1174, số IMEI 1: 353112113385633, số IMEI 2: 353112118385638 (tạm giữ của Nguyễn Việt T2);
- - 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus, số máy MGAL2LL/A, số seerri: F2NNLMS1G5QF (tạm giữ của Phùng Việt T1);
- - 01 máy tính bảng hiệu S1 (2016), số máy: SM-P585Y, số seerri R52K7078LFT (tạm giữ của Phùng Việt T1);
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu đen, đã qua sử dụng (tạm giữ của Vũ Văn Đ);
- - 01 điện thoại di động hiệu Apple, loại Iphone 6, màu vàng gold, đã qua sử dụng (tạm giữ của Cao Văn N);
- - 01 điện thoại di động hiệu OPPO, màu hồng nhạt, đã qua sử dụng (tạm giữ của Tòng Văn N2);
- - 01 điện thoại di động hiệu Apple, loại Iphone 6, màu hồng, đã qua sử dụng (tạm giữ của Nguyễn Tấn V);
- - 01 USB hiệu Kingston, 16GB, màu trắng, có chứa dữ liệu sao chép từ điện thoại của Nguyễn Việt T2 quay lại cảnh khiêng đồ trong nhà của bà Nguyễn Thị S mang ra ngoài sân (được lưu giữ trong hồ sơ vụ án).
Bản cáo trạng số 99/CT-VKSPQ, ngày 28 tháng 5 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc đã truy tố bị cáo Cao Văn N về tội “Xâm phạm chỗ ở của người khác”, theo điểm đ khoản 2 Điều 158 của Bộ luật hình sự.
Sau phần xét hỏi công khai tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố trình bày lời luận tội và giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Cao Văn N về tội “Xâm phạm chỗ ở của người khác”, theo điểm đ khoản 2 Điều 158
của Bộ luật hình sự.
- Về trách nhiệm hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 158; điểm i khoản 1 Điều 52; điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 54' khoản 1 Điều 101 và Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Cao Văn N từ 06 đến 09 tháng tù.
- Về trách nhiệm dân sự: Các bị cáo Phùng Việt T1, Vũ Văn Đ, Nguyễn Việt T2, Lâm Trần Thanh L4, Tòng Văn N2, Tòng Văn N3 và Nguyễn Tấn V đã bồi thường xong theo Bản số 168/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc.
Ghi nhận sự tự nguyện bồi thường giữa bị cáo N và bị hại bà Huỳnh Thị Kim N1, bà Nguyễn Thị S (bà N1 đại diện theo ủy quyền cho bà S) đã nhận số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) không yêu cầu gì thêm, Hội đồng xét xử miễn xét.
- Về xử lí vật chứng: Tất cả vật chứng đã xử lý xong theo Bản số 168/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc.
Đối với hành vi Phùng Việt T1 cho bà Huỳnh Thị Kim N1 vay số tiền 5,2 tỷ đồng với lãi suất 04%/tháng chưa vượt quá mức lãi suất quy định và bà N1 không cung cấp được tài liệu để chứng minh cho việc trả tiền lãi cho T1, nên không xử lý.
* Người bào chữa cho bị cáo Cao Văn N, ông Huỳnh Ngọc T trình bày quan điểm bào chữa: thống nhất bản cáo trạng truy tố đối với bị cáo; thống nhất lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xử cáo mức án thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát cũng đủ nghiêm.
Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Cao Văn N, ông Cao Văn M, bà Huỳnh Thị L (cha mẹ ruột) ý kiến: thống nhất luận tội của đại diện Viện kiểm sát, không có ý kiến gì khác.
* Bị hại bà Huỳnh Thị Kim N1 và bà Nguyễn Thị S (bà N1 đại diện theo ủy quyền cho bà S) ý kiến: đã nhận số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) bồi thường của bị cáo N không yêu cầu gì thêm; về hình sự đề nghị xử nhẹ cho bị cáo
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn L1 chồng bà N1 vắng mặt tại phiên toà nhưng có ý kiến: thống nhất ý kiến trình bày của bà N1 không có ý kiến gì khác.
Lời nói sau cùng các bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đánh giá chứng cứ: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra các bị cáo thừa nhận diễn biến sự việc đúng như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phú Quốc truy tố.
Về hành vi phạm tội: Vào ngày 11/01/2019, bà Huỳnh Thị Kim N1 thế chấp cho Phùng Việt T1 quyền sử dụng đất diện tích 1.102m², tọa lạc tại Khu phố D, thị trấn A, huyện P (N là phường A, thành phố P), tỉnh Kiên Giang và tài sản trên đất gồm: 01 căn nhà, 01 dãy nhà trọ có 12 phòng của bà N1 và 01 căn nhà của mẹ ruột bà N1 là bà Nguyễn Thị S (sinh năm 1944) đang sinh sống, để vay số tiền 5,2 tỷ đồng. Sau đó, T1 làm hợp đồng cho bà N1 thuê lại nhà để ở. Đến khoảng 13 giờ, ngày 23/3/2023, Phùng Việt T1 điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 68A – 171.32 chở Vũ Văn Đ đến nhà bà N1 để lấy nhà, đồng thời T1 kêu Đ gọi điện thoại cho Nguyễn Việt T2 kêu T2 thuê Lâm Trần Thanh L4, Tòng Văn N2, Tòng Văn N3, Cao Văn N và Nguyễn Tấn V đi vào nhà bà Nguyễn Thị S khiêng đồ mang ra ngoài sân, nhằm để lấy nhà thì bị Công an phường A bắt quả tang. Ngày 31/3/2023 Cao Văn N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an thành phố P khởi tố đến ngày 08/5/2024 bị bắt theo lệnh truy nã.
Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Cao Văn N đã phạm vào tội “Xâm phạm chỗ ở của người khác”, theo điểm đ khoản 2 Điều 158 của Bộ luật hình sự.
[3]. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tôi: Xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm vào quyền bất khả xâm phạm chổ ở hợp pháp của công dân, xâm phạm quyền tự do cá nhân của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự công cộng, mất trật tự trị an tại địa phương. Việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết để răn đe phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ hình phạt:
- - Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo Cao Văn N có một tình tăng nặng là phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên theo điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ: tại phiên toà và tại cơ quan điều tra bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; đã bồi thường, khắc phục hậu quả cho bị hại nên bị cáo N có tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét bị cáo có hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Hội đồng xét xử nghị cần áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự chuyển khung hình phạt cho bị cáo là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Huỳnh Thị Kim N1 và bà Nguyễn Thị S (bà N1 đại diện theo ủy quyền của bà S) đã nhận số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) bồi thường của bị cáo N không yêu cầu gì thêm;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn L1 không có yêu cầu gì khác, Hội đồng xét xử miễn xét.
[6] Về xử lý vật chứng: Tất cả vật chứng đã xử lý xong theo Bản số 168/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc.
[7] Xét ý kiến của luật sư bào chữa cho bị cáo N về đề nghị cho bị cáo xử cho bị cáo mức hình phạt thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát là có căn cứ được chấp nhận.
[8] Về quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát: Xét quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và mức hình phạt đề nghị áp dụng cho bị cáo là có căn cứ để xem xét.
[9] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về trách nhiệm hình sự: Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 158; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52; khoản 1 Điều 54; Điều 90; Điều 91; khoản 1 Điều 101; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Cao Văn N phạm tội “Xâm phạm chỗ ở của người khác”.
Xử phạt: Cao Văn Ngọc 06 (sáu) tháng tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giam (ngày 08/5/2024).
- Về trách nhiệm dân sự: Bị hại bà Huỳnh Thị Kim N1 và bà Nguyễn Thị S (bà N1 đại diện theo ủy quyền của bà S) đã nhận số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) bồi thường của bị cáo N không yêu cầu gì thêm, Hội đồng xét xử miễn xét.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn L1 không có yêu cầu gì khác, Hội đồng xét xử miễn xét.
- Về xử lý vật chứng: Tất cả vật chứng đã xử lý xong theo Bản số 168/2023/HS-ST ngày 26/12/2023 của Toà án nhân dân thành phố Phú Quốc (đã có hiệu lực pháp luật), Hội đồng xét xử miễn xét.
- Về án phí: Căn cứ Điều 135 và Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Bị cáo Cao Văn N phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo; bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; người bào chữa cho bị cáo trong vụ án biết có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Trần Ngọc Triệu |
Bản án số 119/2024/HS-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG về hình sự: xâm phạm chỗ ở của người khác
- Số bản án: 119/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Xâm phạm chỗ ở của người khác
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHÚ QUỐC, TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngọc xâm phạm chỗ ở người khác
