Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

Bản án số: 119/2024/HS-PT

Ngày: 22-4-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Đức Thụ

Các Thẩm phán: Ông Phan Thanh Nguyễn

Bà Lê Thị Thương Huyền

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Hải Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 101/2024/TLPT-HS ngày 18/3/2024 đối với bị cáo Trần Công P, do có kháng cáo của bị cáo đối với bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị cáo có kháng cáo:

Trần Công P; sinh năm 1991 tại: tỉnh Tiền Giang; nơi đăng ký thường trú: xã B, huyện G, tỉnh Tiền Giang; nơi cư trú: số A T, phường B, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn T (chết) và bà: Nguyễn Thị L, sinh năm 1961; chưa có vợ, con; tiền án: không; tiền sự: không.

Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 23/02/2023, bị cáo Trần Công P không có giấy phép lái xe theo quy định, trong máu có nồng độ cồn là 94.42 H, điều khiển xe máy biển số 63B7-098.10 chở theo anh Tạ Quốc H ngồi phía sau lưu thông trên đường N, theo hướng từ Hoàng Văn T1 đến đường N, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Khi đến trước trụ đèn số 4 gần trung tâm triển lãm SECC, đường N, khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, đã xảy ra va chạm với dải phân cách cố định trên đường N, gây tai nạn giao thông làm anh Tạ Quốc H chết ngay tại chỗ.

Theo Kết luận giám định pháp y tử thi số 1753-23/KL-KTHS ngày 04/4/2023 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: anh Tạ Quốc H chết do chấn thương sọ não. Trong máu tìm thấy chất cồn và không tìm thấy ma túy.

Theo Kết luận giám định số 3320/KL-KTHS ngày 31/5/2023 của Phân viện Khoa học Hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh đối với dấu vết va chạm giữa xe máy biển số 63B7-098.10 với dải phân cách, kết luận:

  • - Dấu vết trượt, mất chất màu đen lốp bánh trước, gãy vỡ bên trái vành bánh trước xe máy biển số 63B7-098.10, có chiều từ mặt lăn vào tâm phù hợp va chạm với đầu dải phân cách thuộc phần đường bên phải đường N theo hướng từ đường H về đường N. Đây là vị trí va chạm đầu tiên giữa xe máy biển số 63B7-098.10 với dải phân cách tại hiện trường.
  • - Dấu vết trượt xước các chi tiết bên trái xe mô tô biển số 63B7-098.10 (đầu tay lái, cần gương chiếu hậu, ốp nhựa đầu xe, lốc máy, để chân trước, cần sang số, để chân sau, khung nâng sau yên) có chiều từ trước về sau phù hợp va chạm với mặt đường.
  • - Không phát hiện dấu vết va chạm giữa xe mô tô biển số 63B7-098.10 với phương tiện khác.
  • - Tại thời điểm xảy ra tai nạn xe mô tô biển số 63B7-098.10 chuyển động trên đường N theo hướng từ đường H về đường N.
  • - Không đủ cơ sở xác định tốc độ của xe mô tô biển số 63B7-098.10 tại thời điểm xảy ra tai nạn.

Vật chứng thu giữ của Trần Công P: 01 căn cước công dân tên Trần Công P; 01 giấy chứng nhận xe máy biển số 63B7-098.10; 01 xe máy biển số 63B7-098.10, nhãn hiệu Yamaha Sirius, số máy 5C64941208, số khung RLCS5C640CY941161. Qua xác minh xe máy biển số 63B7-098.10 đứng tên chủ xe là Trần Công P.

Về trách nhiệm dân sự: Trần Công P đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Tạ Quốc H số tiền 14.000.000 đồng tiền mai táng. Ông Tạ Quốc T2 được sự ủy quyền của gia đình nạn nhân có đơn xin bãi nại, xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Trần Công P. Ngoài ra, không có yêu cầu gì khác.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Trần Công P phạm tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Trần Công P 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo để thi hành án.

Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí, xử lý vật chứng và thời hạn kháng cáo.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 29/01/2024 bị cáo Trần Công P kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Công P khai nhận hành vi phạm tội phù hợp với bản án sơ thẩm đã nêu và giữ nguyên kháng cáo xin được hưởng án treo.

Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố sau khi tóm tắt nội dung vụ án, phân tích về tính chất, mức độ phạm tội và nhân thân bị cáo, cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã kết luận đủ căn cứ xác định bản án sơ thẩm xét xử bị cáo Trần Công P về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” là có cơ sở pháp luật. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo trong thời hạn luật định và hợp lệ nên cần được xem xét.

Xét, bị cáo Trần Công P kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp tình tiết mới, với mức án 03 năm 03 tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” mà cấp sơ thẩm đã tuyên phạt đối với bị cáo là tương xứng, phù hợp với tính chất, mức độ hành vi của bị cáo.

Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Công P và giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo, vì tai nạn xảy ra là ngoài ý muốn của bị cáo, bị cáo có gia đình hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, nên xin được hưởng án treo để có có thể giúp đỡ gia đình và chu cấp cho gia đình bị hại.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định là hợp lệ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm.

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Trần Công P thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội, từ đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để xác định: Vào khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 23/02/2023, bị cáo Trần Công P không có giấy phép lái xe theo quy định, trong máu có nồng độ cồn là 94.42 H, đã điều khiển xe máy biển số 63B7-098.10 chở theo anh Tạ Quốc H lưu thông trên đường, do thiếu quan sát đã điều khiển xe tự đâm vào dải phân cách tại trước trụ đèn số 4 gần trung tâm T3, đường N, khu phố A, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Tai nạn xảy ra làm cho anh Tạ Quốc H tử vong tại chỗ.

Hành vi trên của bị cáo Trần Công P đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thuộc trường hợp “Không có giấy phép lái xe theo quy định” và “Trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu có nồng độ cồn vượt quá mức quy định”, là những tình tiết định khung hình phạt được quy định tại khoản điểm a, b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017. Như vậy bản án hình sự sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã xét xử bị cáo Trần Công P về tội danh, khung hình phạt như trên là đúng người, đúng tội, phù hợp với quy định pháp luật.

[3] Về kháng cáo của bị cáo: Bị cáo kháng cáo xin hưởng án treo với lý do bị cáo có gia đình hoàn cảnh khó khăn, là lao động chính trong gia đình, tai nạn xảy ra là ngoài ý muốn của bị cáo, nên xin được hưởng án treo để có có thể giúp đỡ gia đình và chu cấp cho gia đình bị hại.

Hội đồng xét xử xét thấy, khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã nhận định về các tình tiết: bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, tự nguyện bồi thường khắc phục hậu quả, đại diện gia đình người bị hại có đơn bãi nại và xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung 2017, xử phạt bị cáo Trần Công P mức hình phạt 03 (ba) năm 03 tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Công P không cung cấp chứng cứ, tài liệu mới để Hội đồng xét xử xem xét, nên kháng cáo của bị cáo Trần Công P là không có cơ sở để chấp nhận. Vì vậy Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm theo quy định tại điểm tại khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự.

Lập luận nêu trên của Hội đồng xét xử cũng là căn cứ để chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tại phiên tòa.

[4] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo Trần Công P không được chấp nhận, nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các vấn đề khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Công P; giữ nguyên bản án sơ thẩm số 23/2024/HS-ST ngày 23/01/2024 của Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2] Căn cứ điểm a, b khoản 2 Điều 260; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:

Xử phạt: bị cáo Trần Công P 03 (ba) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

[3] Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội

Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.

[4] Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND TC; (1)
  • - TAND Cấp cao tại Tp. HCM (1)
  • - VKSND TP. HCM; (3)
  • - VKSND cấp cao tại Tp. HCM; (1)
  • - VKSND Quận 7; (1)
  • - Bị cáo; (1)
  • - Chi Cục THA Quận 7; (1)
  • - TAND Quận 7; (2)
  • - Công an Quận 7; (1)
  • - Sở Tư pháp; (1)
  • - UBND nơi bị cáo cư trú; (1)
  • - Lưu: THS, hồ sơ, VT (22). (6)

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Ngô Đức Thụ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HS-PT ngày 22/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (vụ án hình sự phúc thẩm)

  • Số bản án: 119/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Vụ án hình sự phúc thẩm)
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 22/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận kháng cáo.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger