Hệ thống pháp luật
Bản án sơ thẩm

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

QUẬN LÊ CHÂN

THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2024/HS-ST

Ngày 21-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đào Thị Hương
  • Các Hội thẩm nhân dân:
    • Bà Hà Thị Nga
    • Bà Nguyễn Thị Mai
  • Thư ký phiên toà: Bà Đinh Thị Ngọc Trâm - Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Phạm Minh Hoàng - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 56/2024/TLST- HS ngày 02 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 251/2024/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 457/2024/HSST-QĐ ngày 31 tháng 5 năm 2024 và Thông báo về việc thay đổi ngày xét xử số 530/TB-TA ngày 0 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Ngọc L, sinh ngày 19 tháng 10 năm 1983, tại Hải Phòng; ĐKHKTT: Số D L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng; nơi sinh sống: Số A C, phường G, quận N, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Ngọc S (đã chết) và bà Phạm Thị Thu H; bị cáo có vợ Trần Thùy V (đã ly hôn ) và 02 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Án số 02/2010/HSST ngày 12/01/2010 Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền xử 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 59 tháng 12 ngày về tội Cố ý gây thương tích (đã được xóa án); bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú ngày 03/11/2023; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 14 giờ ngày 18/9/2023, Phạm Ngọc L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Air Blade biển số 15B2-268.42 đến cửa hàng cầm đồ Dũng T, địa chỉ: số G Chùa H, phường T, quận L, thành phố Hải Phòng để cầm cố. Tại đây, L đưa cho anh Nguyễn Hoàng H1, sinh năm 2000, trú tại: A N, phường N, quận L là nhân viên của cửa hàng các giấy tờ gồm 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 15005068, biển số đăng ký: 15B2-268.42 (bản giả), 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Ngọc L. Anh H1 kiểm tra xong đã đồng ý cầm cố xe với giá 10.000.000 đồng. Hai bên đã lập và ký kết “Hợp đồng cầm đồ”. Trước khi đưa tiền cho L, anh H1 kiểm tra lại giấy tờ thì phát hiện Chứng nhận đăng ký xe mô tô là giả nên đã trình báo sự việc đến Công an phường T, quận L và giao nộp 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Ngọc L; 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 15005068, biển số đăng ký: 15B2-268.42 (Cơ quan Công an niêm phong có chữ ký của Nguyễn Hoàng H1); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade, biển số 15B2-268. Khi thấy anh H1 trình báo công an, L đã gọi điện cho anh Bùi Việt Đ, sinh năm 1995, trú tại số I Tập thể chùa V1, V, Ngô Q mang Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 15005068, biển số đăng ký: 15B2-268.42 đến, L đã giao nộp Chứng nhận đăng ký xe mô tô trên (niêm phong có chữ ký của Phạm Ngọc L) cùng 01 điện thoại Iphone 5S đã qua sử dụng; 01 điện thoại Iphone 6 đã qua sử dụng. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L đã trưng cầu giám định 02 Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 15005068, biển số đăng ký: 15B2-268.42 đã thu giữ ở trên.

Tại Kết luận giám định số 229/KL-KTHS ngày 06/10/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 15005068, biển số đăng ký: 15B2-268.42, tên chủ xe Phạm Ngọc L, địa chỉ: D L, M, N, Hải Phòng, nhãn hiệu: Honda, số loại: AIR BLADE, cấp ngày 27/12/2022 tại Công an quận N (niêm phong có chữ ký của Nguyễn Hoàng H1) là giả, được làm giả bằng phương pháp in phun màu.

Tại Kết luận giám định số 246/KL-KTHS ngày 23/10/2023 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy số 15005068, biển số đăng ký: 15B2-268.42, tên chủ xe Phạm Ngọc L, địa chỉ: D L, M, N, Hải Phòng, nhãn hiệu: Honda, số loại: AIR BLADE, cấp ngày 27/12/2022 tại Công an quận N (niêm phong có chữ ký của Phạm Ngọc L) là thật.

Quá trình điều tra Phạm Ngọc L khai nhận: L sở hữu chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Air Blade biển số 15B2-26842 và đã cầm cố giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 15005068 này cho anh Bùi Việt Đ, sinh năm 1995, trú tại: số I Tập thể chùa V1, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng vào đầu năm 2023. Đến khoảng đầu tháng 9/2023, do cần tiền L nảy sinh ý định làm giả Chứng nhận đăng ký xe mô tô để tiếp tục đi cầm cố vay tiền chi tiêu. L liên hệ với một người không rõ lai lịch qua mạng xã hội Facebook đặt làm giả Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 15005068, biển số đăng ký: 15B2-268.42 với giá 700.000 đồng. Theo yêu cầu, L gửi ảnh Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 15005068, biển số đăng ký: 15B2-268.42 cho người nhận làm giả. Sau vài ngày (L không nhớ chính xác thời gian), 01 người nữ giới sử dụng số điện thoại lạ (L không nhớ số điện thoại, không quen biết người phụ nữ) gọi điện thoại cho L hẹn gặp L ở khu vực bờ mương H, quận L để giao giấy tờ giả. Tại đây, người phụ nữ đưa cho L 01 phong bì thư. Lâm kiểm tra bên trong phong bì thư có 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 15005068, biển số đăng ký: 15B2-268.42 đúng như L đặt làm nên đã đưa cho người phụ nữ này số tiền 700.000 đồng. Người nữ giới này nhận tiền xong thì rời đi còn L cầm Chứng nhận đăng ký xe mô tô đi về nhà. Đến ngày 18/9/2023, L mang xe mô tô cùng đăng ký làm giả đi cầm cố thì bị anh Nguyễn Hoàng H1 là nhân viên hiệu cầm đồ Dũng T phát hiện trình báo công an phường T.

Về vật chứng: 01 Căn cước công dân số [...] mang tên Phạm Ngọc L cơ quan điều tra đã trả lại cho L. 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 15005068, biển số đăng ký 15B2-268.42 (giấy chứng nhận giả) chuyển theo hồ sơ; 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 15005068, biển số đăng ký 15B2-268.42 (giấy chứng nhận thật); 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AIR BLADE biển số 15B2-268.42; 01 điện thoại IPHONE 5S, số máy ME296C/A, số sê-ri: DX3NP2L8FF9R; 01 điện thoại IPHONE 6, số máy NG482J/A, số sê ri: FNMUU06XG5MP đã qua sử dụng.

Đối với đối tượng nhận làm giả 01 Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 15005068, biển số đăng ký: 15B2-268.42 cho L, L khai chưa biết lai lịch địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận L có cơ sở để điều tra làm rõ.

Tại bản Cáo trạng số 55/CT-VKSLC ngày 26/02/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã truy tố bị cáo Phạm Ngọc L về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà, bị cáo khai nhận hành vi đã thực hiện phù hợp với nội dung bản cáo trạng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án.

Kiểm sát viên tại phiên toà, giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Phạm Ngọc L mức án 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ về tội Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức. Không áp dụng hình phạt tiền là hình phạt bổ sung và miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo. Về vật chứng: Trả lại cho bị cáo 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 15005068, biển số đăng ký 15B2-268.42 (giấy chứng nhận thật) đựng trong phong bì niêm phong số 246/PC09; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AIR BLADE màu trắng, xe không gương, biển số 15B2-268.42 (xe cũ đã qua sử dụng); 01 điện thoại IPHONE 5S, số máy ME296C/A, số sê-ri: DX3NP2L8FF9R (đã qua sử dụng) số imei: 013988004789385 và 01 điện thoại IPHONE 6, số máy NG482J/A, số sê ri: FNMUU06XG5MP (đã qua sử dụng) số imei: 359480089860333. Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận L, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

- Về tội danh:

[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng và các tài liệu điều tra khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Khoảng tháng 9 năm 2023, bị cáo Phạm Ngọc L đã cung cấp thông tin để đặt làm 01 chứng nhận đăng ký xe mô tô giả số 15005068, biển số đăng ký: 15B2-268.42 của chiếc xe mô tô bị cáo đang sử dụng. Do cần tiền ngày 18/9/2023 bị cáo đã mang xe cùng đăng ký xe mô tô giả đến cầm cố tại cửa hàng cầm đồ Dũng T, địa chỉ số G Chùa H, phường T, quận L, Hải Phòng thì bị phát hiện. Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Ngọc L đủ yếu tố cấu thành tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

[3] Viện Kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng là có căn cứ và đúng pháp luật.

[4] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sự hoạt động của cơ quan tổ chức trong lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước nên cần xử lý nghiêm.

- Về tình tiết tăng nặng:

[5] Bị cáo không có tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ:

[6] Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt.

- Về hình phạt:

[7] Hành vi của bị cáo cần đưa ra xét xử để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, hành vi phạm tội có mức độ, chưa gây thiệt hại, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải. Xét thấy không cần thiết bắt bị cáo phải cách ly khỏi đời sống mà theo đề nghị của Viện kiểm sát để bị cáo cải tạo ngoài xã hội quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự cũng đủ để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm.

- Về hình phạt bổ sung:

[8] Bị cáo không có tài sản và thu nhập nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật Hình sự và miễn khấu trừ một phần thu nhập đối với bị cáo quy định tại khoản 3 Điều 36 Bộ luật Hình sự.

- Về việc xử lý vật chứng:

[9] Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 15005068, biển số đăng ký 15B2-268.42 (giấy chứng nhận thật) đựng trong phong bì niêm phong số 246/PC09; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AIR BLADE màu trắng, xe không gương, biển số 15B2-268.42 (xe cũ đã qua sử dụng); 01 điện thoại IPHONE 5S, số máy ME296C/A, số sê-ri: DX3NP2L8FF9R (đã qua sử dụng) số imei: 013988004789385 và 01 điện thoại IPHONE 6, số máy NG482J/A, số sê ri: FNMUU06XG5MP (đã qua sử dụng) số imei: 359480089860333 do không liên quan đến việc phạm tội.

- Về án phí:

[10] Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo đối với bản án:

[11] Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 36 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Phạm Ngọc L phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt bị cáo Phạm Ngọc L 15 (mười lăm) tháng cải tạo không giam giữ.

Giao bị cáo Phạm Ngọc L cho Ủy ban nhân dân phường G, quận N, thành phố Hải Phòng nơi bị cáo thường trú để giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo. Thời điểm bắt đầu chấp hành án cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan thi hành án hình sự Công an quận N, thành phố Hải Phòng nhận được quyết định thi hành án.

Trường hợp bị cáo áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo quy định tại Điều 100 Luật Thi hành án hình sự.

Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự: Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

Về việc xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Trả lại cho bị cáo Phạm Ngọc L 01 giấy Chứng nhận đăng ký xe mô tô số 15005068, biển số đăng ký 15B2-268.42 (giấy chứng nhận thật) đựng trong phong bì niêm phong số 246/PC09; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, số loại AIR BLADE màu trắng, xe không gương, biển số 15B2-268.42 (xe cũ đã qua sử dụng); 01 điện thoại IPHONE 5S, số máy ME296C/A, số sê-ri: DX3NP2L8FF9R (đã qua sử dụng) số imei: 013988004789385 và 01 điện thoại IPHONE 6, số máy NG482J/A, số sê ri: FNMUU06XG5MP (đã qua sử dụng) số imei: 359480089860333 theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, buộc bị cáo Phạm Ngọc L phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo Phạm Ngọc L được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố Hải Phòng;
  • - VKSND quận Lê Chân;
  • - Cơ quan điều tra Công an quận Lê Chân;
  • - Cơ quan Thi hành án hình sự Công an quận Lê Chân;
  • - Chi cục THADS quận Lê Chân;
  • - Trại tạm giam Công an thành phố Hải Phòng;
  • - PV 06, PC 10 Công an thành phố Hải Phòng;
  • - Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng;
  • - Sở Tư pháp thành phố Hải Phòng;
  • - Ủy ban nhân dân phường phường GiaViên, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đào Thị Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HS-ST ngày 21/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vụ án hình sự về tội "sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"

  • Số bản án: 119/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vụ án hình sự về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Ngọc L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger