Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG

Bản án số: 119/2025/HS-ST

Ngày 09-12-2025

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Ngô Thị Thùy Linh

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Ngọc Hải

Bà Nguyễn Thị Phin

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Quang Khiêm - Thư ký Toà án nhân dân Khu vực 3.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Linh - Kiểm sát viên.

Ngày 09 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân Khu vực 3, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 94/2025/TLST-HS ngày 04 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 109/2025/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 16/2025/HSST-QĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:

Bùi Văn T, sinh ngày 17 tháng 9 năm 1982 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Bùi Văn Đ và bà Hoàng Thị S; chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn C đi khỏi nơi cư trú từ ngày 23/7/2025; có mặt.

- Bị hại: Bà Nguyễn Thị D, sinh năm 1951; nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;

- Người đại diện theo uỷ quyền của bị hại: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1975; nơi cư trú: Tổ dân phố V, phường H, thành phố Hải Phòng; vắng mặt;

- Người tham gia tố tụng khác:

Người làm chứng: Bà Đặng Thị H1, sinh năm 1956.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ ngày 26/3/2025 tại khu vực đường M, tổ dân phố V, phường Đ, quận H (nay là phường H), thành phố Hải Phòng, Bùi Văn T điều khiển xe mô tô mang BKS 15C1-236.77 đi theo hướng từ tổ dân phố L về hướng chợ T3 va chạm với xe đạp do bà Nguyễn Thị D điều khiển đi ngược chiều. Hậu quả bà D và T đều bị thương và được đưa đi cấp cứu.

Hiện trường xảy ra tai nạn là đường nội bộ trong phường Đ, nối giữa TDP L và TDP Đ - Đ, cách lối vào Khu dân cư Đ về hướng L khoảng 14,8m, đường không có vỉa hè; hai bên đường là cánh đồng. Mặt đường trải nhựa asphalt rộng 5,5 mét. Tình trạng hiện trường đã xáo trộn, thu thập được các dấu vết gồm: Vết cày (1) cách mép đường chuẩn 3,12m có kích thước 03 x 0,01 m; Vết cày (2) cách mép đường chuẩn 2,95 m có kích thước 8,3 x 0,02 m bị đứt đoạn kéo dài về phía vết cày thứ (5) có hai vị trí đứt đoạn sâu lần lượt có kích thước 0,2 x 0,02 m và 0,27 x 0,02 m; Vết (3) cách vết (2) 0,15m và có kích thước 0,4 x 0,01 m; Vết cày (4) có kích thước 0,24 x 0,01 m cách mép đường chuẩn 2,4 m. Vết cày (5) cách mép đường chuẩn 3 m cách mốc 8,8 m; là điểm cuối cùng của vết (2). Xe đạp mini xanh và xe mô tô 15C1- 236.77 được người dân dụng sát lề đường đối diện mép đường chuẩn.

Tiến hành khám nghiệm phương tiện xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA mang biển kiểm soát 15C1-236.77 ghi nhận dấu vết tập trung ở phía bên trái xe mô tô gồm ốp nhựa đầu xe, yếm trái, chân phanh và bàn để chân phía trước, ốp nhựa bảo vệ bánh trước, ốp nhựa bảo vệ cụm đèn pha phía trước, lốp xe bánh trước, đầu ngoài ốc bắt trục bánh xe phía trước, đầu ngoài cần số phía trước và đầu ngoài bàn để chân phía trước bên trái.

Tiến hành khám nghiệm phương tiện xe đạp mini màu xanh có giọ đen ghi nhận dấu vết tập trung ở bên phải phía trước xe gồm tay phanh, giọ xe, bánh xe phía trước, vành xe phía trước, mặt trái khung kim loại vòng xe, tay lái bên phải, bàn đạp bên phải.

Tại bản Kết luận giám định số 1755/KL - KTHS ngày 10/7/2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Dấu vết trượt xước mất cao su (màu đen) và

sơn (màu đỏ), bề mặt bám dính tạp chất màu xanh (dạng sơn) theo chiều ngược chiều quay tiến của bánh xe ở mặt ngoài má lốp bánh trước bên trái và cạnh ngoài vành bánh trước bên trái liền kề trên xe môtô mang biển kiểm soát 15C1 - 236.77, phù hợp với dấu vết trượt xước mất sơn (màu xanh), bề mặt bám dính tạp chất màu đen (dạng cao su) và màu đỏ (dạng sơn) theo chiều từ trái sang phải, từ trước về sau ở mặt ngoài bên trái khung xe đạp. Không đủ cơ sở để xác định xe mô tô mang biển kiểm soát 15C1 - 236.77 và xe đạp có va chạm với người, phương tiện, vật khác”.

Tại bản Kết luận giám định số 264/2025/KLTgTHS - TTPYHP ngày 22/5/2025 của Trung tâm P kết luận: “Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bà Nguyễn Thị D qua hồ sơ là 83% (Tám mươi ba phần trăm). Các thương tích trên có đặc điểm do tác động tương hỗ trực tiếp với vật tày gây nên”.

Đối với Bùi Văn T, tại thời điểm cấp cứu do tai nạn, tiến hành xét nghiệm Bùi Văn Trọng âm T1 với các chất ma tuý, định lượng E (cồn) trong máu của Bùi Văn T là 103.40mg/dl. Bùi Văn T có giấy phép lái xe hạng A1 số V688310 do Sở G cấp (lần đầu), ngày cấp 11/05/2005, có giá trị không thời hạn. Ngày 17/04/2025, Công an tỉnh H đã cấp lại giấy phép lái xe hạng A số [...] cho Bùi Văn T. Tại Cơ quan điều tra, Bùi Văn T khai nhận: Khoảng 20h ngày 26/03/2025, sau khi uống bia cùng bạn, T một mình điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius mang biển kiểm soát 15C1 - 236.77 đi trên đường N, tổ dân phố V, phường H, thành phố Hải Phòng theo hướng từ tổ dân phố L về hướng chợ T4. Khi đi được một đoạn khoảng 600 mét thì T thấy 03 người phụ nữ điều khiển xe đạp đi ngược chiều, T điều khiển xe đi giữa đường với tốc độ khoảng 45 km/h tránh được 02 người phụ nữ đạp xe đi đằng trước thì xảy ra va chạm với xe đạp của bà Nguyễn Thị D điều khiển đi cuối cùng. Sau đó T bất tỉnh và được người dân đưa đi cấp cứu tại bệnh viện H2. Bị hại Nguyễn Thị D, trình bày phù hợp với nội dung trên. Người làm chứng Đặng Thị H1 (sinh năm 1956 trú tại tổ dân phố L, phường Đ, quận H - nay là tổ dân phố L, phường H, Hải Phòng) trình bày: Trước khi xảy ra tai nạn, xe mô tô của T điều khiển đi lảo đảo trên đường. Người làm chứng là bà Nguyễn Thị X, (sinh năm 1958, trú tại: TDP L, phường Đ, quận H, nay là TDP L, phường H, Hải Phòng) trình bày: Trước khi va chạm, bà có nhìn thấy bà D điều khiển xe loạng choạng ra giữa phần đường N.

Tại bản cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 28 tháng 10 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3, thành phố Hải Phòng đã truy tố Bùi Văn T về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Bùi Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên. Đại diện theo uỷ quyền của bị hại không yêu cầu bồi thường gì khác và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo Bùi Văn T.

Đại diện Viện Kiểm sát tại phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự, điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự xử phạt Bùi Văn T mức án 36 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, thời gian thử thách 60 tháng kể từ ngày tuyên án. Tại thời điểm xét xử, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 - Hải Phòng không đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng “phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên” quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự để đảm bảo nguyên tắc có lợi cho bị cáo, phù hợp với quy định tại Nghị quyết số 04/2025/NQ-HĐTP ngày 30/9/2025 của Hội đồng thẩm phán Toà án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 51 và Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Về xử lý vật chứng:

- Đối với 01 chiếc xe đạp mini màu xanh quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị D; đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 15C1 - 236.77 quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của Bùi Văn T, sau khi hoàn tất các hoạt động điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại các phương tiện trên cho bà D và T quản lý, sử dụng nên không đề nghị giải quyết;

- Về dân sự: Bùi Văn T đã thăm nom, chi trả toàn bộ tiền viện phí cho bị hại Nguyễn Thị D, bà D không còn yêu cầu, đề nghị gì và có đơn xin miễn, giảm trách nhiệm hình sự cho Bùi Văn T nên không đề nghị xem xét.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an

thành phố H, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Hải Phòng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn giao thông, kết luận giám định thương tích bị hại của Trung tâm P thể hiện: Vào hồi 20 giờ ngày 26/3/2025, tại khu vực đường N, tổ dân phố V, phường H, thành phố Hải Phòng (đoạn đường nối giữa tổ dân phố L và Tổ dân phố Đ - Đ, cách lối vào khu dân cư Đ về hướng L 14,8m, đường không có vỉa hè, hai bên là cánh đồng), Bùi Văn T đã điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius mang biển kiểm soát 15C1 - 236.77 trong tình trạng sử dụng rượu, bia với nồng độ cồn vượt quá mức quy định (103.40mg/dl), đi không đúng phần đường, không giảm tốc độ khi tránh xe đi ngược chiều nên đã đâm vào xe đạp do bà Nguyễn Thị D (sinh năm 1951) điều khiển đi ngược chiều, hậu quả làm bà D bị thương tích làm giảm 83% sức khoẻ, vi phạm khoản 2 Điều 9 (trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn), khoản 1 Điều 10 (quy định về việc người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định), khoản 1 Điều 17 (tránh xe đi ngược chiều) - Luật Trật tự, an toàn giao thông đường bộ năm 2024.

Hành vi của bị cáo thỏa mãn dấu hiệu của tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật hình sự: Gây tổn hại cho sức khoẻ của 01 người mà tỉ lệ tổn thương cơ thể 61% trở lên, trong tình trạng có sử dụng rượu bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định. Việc truy tố của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3 – Hải Phòng là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ nên cần xử lý nghiêm.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

[4] Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

[5] Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, gia đình bị cáo đã bồi thường cho gia đình bị hại, bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo; tại cơ quan điều tra đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ: “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại hoặc khắc phục hậu quả”; “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 (bị hại có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự) Bộ luật Hình sự.

- Về hình phạt áp dụng đối với bị cáo:

[6] Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm nhân thân của bị cáo, xét thấy: Về nhân thân bị cáo không có tiền án, tiền sự, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nơi cư trú rõ ràng, vì vậy không cần thiết phải bắt bị cáo cách ly khỏi xã hội, mà có thể áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội như đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Đại diện gia đình bị hại đã nhận bồi thường đồng thời có đơn đề nghị miễn trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên HĐXX không xem xét.

[8] Về xử lý vật chứng: Vật chứng của vụ án là 01 chiếc xe đạp mini màu xanh là tài sản hợp pháp của bà Nguyễn Thị D; đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 15C1 - 236.77 là tài sản hợp pháp của Bùi Văn T, sau khi hoàn tất các hoạt động điều tra, Cơ quan điều tra đã trả lại các phương tiện trên cho bà D và T quản lý, sử dụng nên HĐXX không xem xét giải quyết .

[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định pháp luật.

[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được kháng cáo bản án theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 260, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự,

Tuyên bố bị cáo Bùi Văn Trọng phạm T2 “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”;

Xử phạt bị cáo 36 (ba mươi sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường H, thành phố Hải Phòng để giám sátgiáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết ántrách nhiệmhợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phươngviệc giám sát, giáo dục người được hưởng án treo, trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Căn cứ Điều 125 Bộ luật tố tụng hình sự hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đối với bị cáo Bùi Văn T.

- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án, bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND thành phố HP;
  • - VKSND KV3-HP;
  • - CQCSĐT CA TP HP;
  • - CQ THAHS CATP HP;
  • - Trại tạm giam số 1 CATP HP;
  • - UBND phường Hồng An;
  • - Phòng THADS KV3-HP;
  • - Lưu: VT, Hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Ngô Thị Thùy Linh

7

8

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2025/HS-ST ngày 09/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 119/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 09/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bản án Bùi Văn Trọng - Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger