|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 119/2025/HS-ST Ngày: 24/6/2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ———————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Nam Phương.
Thẩm phán: Bà Phạm Thị Xuân Đào.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Thu Vân.
Bà Nguyễn Thị Chi.
Bà Phan Thị Ngọc Hiền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Kim Hải - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai: Ông Trương Kim Quyết - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 27/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 02 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 106/2025/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2025, Thông báo dời lịch xét xử số 307/TB-TA ngày 28 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:
Ngô Thị H. Giới tính: Nữ. Tên gọi khác: không. Sinh năm 1975 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Căn cước công dân số: [...] cấp ngày 28/8/2022, nơi cấp: Cục Cảnh sát quản lý hành chính về Trật tự xã hội. Nơi đăng ký thường trú: khu phố B, phường B, thành phố L (nau là phường B), tỉnh Đồng Nai. Chỗ ở hiện nay: khu phố N, phường B, thành phố L (nay là phường B), tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam. Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: không. Nghề nghiệp: Không. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không. Trình độ học vấn: Lớp 09/12. Con ông Ngô A, sinh năm 1930 và bà Lê Thị C, sinh năm 1936 (đã chết). Gia đình có 03 anh, chị, em, bị cáo là con thứ 3 trong gia đình, có chồng tên Hoàng Tôn D, sinh năm 1977 và có 03 con (con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2017).
Tiền án: Ngày 24/12/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Linh, tỉnh Bình Thuận xử phạt 03 tháng tù về tội “Đánh bạc”, quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự. Buộc phải nộp lại số tiền 2.790.000 đồng và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Đã chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 25/02/2016, đã thi hành xong số tiền 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm, số tiền 2.790.000 đồng chưa thi hành.
Tiền sự: Không.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ từ ngày 26/9/2024 chuyển tạm giam theo Lệnh tạm giam số 2327/LTG-VPCQCSĐT ngày 30/9/2024 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Đ.
- Người bào chữa theo chỉ định của bị cáo: Luật sư Phùng Thị Lệ M - Công ty L1 thuộc Đoàn luật sư tỉnh Đ; Địa chỉ: Lô G, ấp P, xã L, thành phố B (nay là phường L), tỉnh Đồng Nai. (SĐT: 0919.448.xxx)
- Bị hại:
- Bà Dương Thị T, sinh năm 1980. Địa chỉ: Khu phố B, phường B, thành phố L (nay là phường B), tỉnh Đồng Nai. (SĐT: 0828.658.xxx)
- Bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1945. Địa chỉ: Khu phố E, phường X, thành phố L (phường L), tỉnh Đồng Nai. (SĐT: 0939.146.xxx)
- Bà Nguyễn Thế Phạm Thùy L, sinh năm 1985. Địa chỉ: A Khu E, thị trấn G, huyện X (nay là xã X), tỉnh Đồng Nai. (SĐT: 0933.050.xxx)
- Bà Lê Thị Ánh H1, sinh năm 1971. Địa chỉ: Ấp B, xã X, huyện X (nay là xã X), tỉnh Đồng Nai. (SĐT: 0918.940.xxx)
(Bị cáo, luật sư có mặt, bị hại có đơn xin vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do kinh doanh thua lỗ và muốn có tiền tiêu xài nên từ tháng 02/2021 đến tháng 9/2022, Ngô Thị H đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của người khác bằng thủ đoạn lên mạng xã hội Facebook đặt làm giả nhiều Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) sau đó đem đi thế chấp cho bà Dương Thị T, bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thế Phạm Thùy L, bà Lê Thị Ánh H1 lấy tiền rồi chiếm đoạt, cụ thể:
Vụ thứ 1: Vào ngày 28/02/2021, H đề nghị bà Dương Thị T, sinh năm 1980, nơi thường trú tại: khu phố B, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai cho vay số tiền 200.000.000 đồng. Bà T yêu cầu H phải có tài sản thế chấp, làm tin nên H lên mạng xã hội Facebook, thuê một người không rõ nhân thân, lai lịch làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 388538 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 08/01/2021 đối với thửa đất số 293, tờ bản đồ số 23, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Sau khi có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 388538 mang tên Ngô Thị H, H đã đem đến thế chấp cho bà T. Do không biết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giả nên bà T đã giữ lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả và cho H vay số tiền 200.000.000 đồng. Số tiền này H đã sử dụng tiêu xài hết.
Vụ thứ 2: Để tiếp tục chiếm đoạt tiền của bà T, trong năm 2021 và năm 2022 (không xác định được cụ thể thời gian), H tiếp tục lên mạng xã hội Facebook đặt làm giả 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 910846 mang tên Nguyễn Bảo N, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 21/4/2016 đối với thửa đất số 209, tờ bản đồ số 16, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 388583 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 27/7/2020 đối với thửa đất số 48, tờ bản đồ số 12, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 986183 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 25/10/2021 đối với thửa đất số 920, tờ bản đồ số 13, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, H đem thế chấp 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả trên cho bà T để vay tiền. Bà T không biết 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên là giả nên bà T đã giữ lại 03 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả và cho H vay tổng số tiền 600.000.000 đồng. Số tiền này, Huế đã sử dụng tiêu xài hết.
Vụ thứ 3: Huế quen biết với bà Nguyễn Thị S, sinh năm 1945, nơi thường trú tại: khu phố E, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Để chiếm đoạt tiền của bà S nên vào đầu tháng 02/2022 (không nhớ ngày), H lên mạng xã hội Facebook đặt làm giả 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 743958 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 17/12/2021 đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 6, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Đến ngày 14/02/2022, H đem đến thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả trên cho bà S để vay 300.000.000 đồng. Bà S không biết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên là giả nên bà S đã giữ lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả và cho H vay 300.000.000 đồng. Số tiền này, Huế đã sử dụng tiêu xài hết.
Vụ thứ 4: Huế quen biết với bà Nguyễn Thế Phạm Thùy L, sinh năm 1985, nơi thường trú tại: số A, khu phố E, thị trấn G, huyện X, tỉnh Đồng Nai. Để chiếm đoạt tiền của bà L nên vào tháng 5/2022, H lên mạng xã hội Facebook đặt làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 578176 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 01/5/2022 đối với thửa đất số 237, tờ bản đồ 2, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Sau đó, H đem đến thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cho bà L để vay 50.000.000 đồng. Bà L không biết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên là giả nên bà L đã giữ lại và cho H vay số tiền 50.000.000 đồng. Số tiền này, Huế đã sử dụng tiêu xài hết.
Vụ thứ 5: Do đến hẹn không thấy H trả tiền nên bà L nhiều lần đòi tiền nhưng H không trả. H nói với bà L biết có ai cho vay tiền thì giới thiệu cho H để vay tiền trả lại cho bà L, bà L đồng ý. Đến ngày 14/9/2022, bà L đưa lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả trên cho H rồi giới thiệu Huế cho bà Lê Thị Ánh H1, sinh năm 1971, nơi thường trú tại: Ấp B, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai để vay tiền. Khi gặp bà H1, H đề nghị bà H1 cho vay 150.000.000 đồng và thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả số CV 578176 mang tên Ngô Thị H. Bà H1 không biết Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên là giả nên bà H1 đã giữ lại và cho H vay 150.000.000 đồng. Huế trả cho bà L 50.000.000 đồng, số tiền còn lại H đã sử dụng tiêu xài hết.
Vụ thứ 6: Để chiếm đoạt thêm tiền của bà H1, H tiếp tục lên mạng xã hội Facebook đặt làm giả Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 849533 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 16/3/2022 đối với thửa đất số 292, tờ bản đồ số 4, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai. Ngày 23/9/2022, H đem đến thế chấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả trên cho bà H1 để vay thêm 200.000.000 đồng. Bà H1 không biết đây là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là giả nên đã đồng ý nhận thế chấp (giữ lại) và cho H vay số tiền 200.000.000 đồng. Số tiền này, H sử dụng tiêu xài hết rồi bỏ trốn khỏi địa phương.
Đến ngày 26/9/2024, H đến Công an phường S, thành phố L đầu thú và khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên.
Vật chứng vụ án:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 388538 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 08/01/2021 đối với thửa đất số 293, tờ bản đồ số 23, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 910846 mang tên Nguyễn Bảo N, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 21/4/2016 đối với thửa đất số 209, tờ bản đồ số 16, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 388583 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 27/7/2020 đối với thửa đất số 48, tờ bản đồ số 12, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 986183 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 25/10/2021 đối với thửa đất số 920, tờ bản đồ số 13, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 743958 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 17/12/2021 đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 6, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 578176 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 01/5/2022 đối với thửa đất số 237, tờ bản đồ số 2, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 849533 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 16/3/2022 đối với thửa đất số 292, tờ bản đồ số 4, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy vay tiền ngày 14/02/2022 bà Nguyễn Thị S, ngụ tại: Phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai cho Ngô Thị H vay số tiền 300.000.000 đồng;
- Giấy vay tiền ngày 23/9/2022 bà Lê Thị Ánh H1, sinh năm 1971, ngụ tại: Xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cho Ngô Thị H vay số tiền 150.000.000 đồng;
- Giấy vay tiền ngày 23/9/2022 bà Lê Thị Ánh H1, sinh năm 1971, ngụ tại: Xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cho Ngô Thị H vay 200.000.000 đồng.
Lưu hồ sơ vụ án.
Tại Kết luận giám định số 2742/KL-KTHS ngày 31/01/2024 của Phòng K Công an tỉnh Đ kết luận:
- Chữ ký mang tên Trần Hữu P, Lê Anh T1, Nguyễn Ngọc T2 trên tài liệu mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A4) so với chữ ký mang tên Trần Hữu P, Lê Anh T1, Nguyễn Ngọc T2 tương ứng trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M1 đến M15) không phải do cùng một người ký ra.
- Hình dấu tròn Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ trên tài liệu mẫu cần giám định (ký hiệu từ A1 đến A4) so với hình dấu tròn Sở tài nguyên và môi trường tỉnh Đ trên các tài liệu mẫu so sánh (ký hiệu từ M11 đến M15) không phải do cùng một con dấu đóng ra.
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bà Dương Thị T yêu cầu bị can H bồi thường số tiền 800.000.000 đồng, bà Nguyễn Thị S yêu cầu bị can H bồi thường số tiền 300.000.000 đồng và bà Lê Thị Ánh H1 yêu cầu bị can Huế bồi thường số tiền 350.000.000 đồng. Đến nay bị can Huế vẫn chưa bồi thường.
Tại bản Cáo trạng số 30/CT-VKSĐN-P2 ngày 20/01/2025, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai đã truy tố bị cáo Ngô Thị H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật Hình sự và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Ngô Thị H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và khẳng định Cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” là đúng, không oan sai. Bị cáo đề nghị xem xét bị cáo đã trả được cho bị hại Dương Thị T số tiền 600.000.000 đồng.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai:
Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng truy tố, phân tích đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội như:
Tình tiết tăng nặng: Phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, đã bồi thường cho bà Nguyễn Thế Phạm Thùy L 50.000.000 đồng, đã trả cho bà Dương Thị T 130.000.000 đồng quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo mức án từ 14 đến 16 năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" và từ 03 đến 04 năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo trả lại cho các bị hại với số tiền cụ thể:
- Bà Dương Thị T 670.000.000 đồng.
- Bà Nguyễn Thị S 300.000.000 đồng.
- Bà Lê Thị Ánh H1 350.000.000 đồng.
Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày:
Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ như thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã bồi thường một phần cho bị hại. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận lời khai của bị cáo đã trả lại cho bị hại Dương Thị T 600.000.000 đồng, đề nghị trả hồ sơ cho Viện kiểm sát làm rõ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án:
Do kinh doanh thua lỗ và muốn có tiền tiêu xài nên Ngô Thị H đã nảy sinh ý định lừa đảo chiếm đoạt tiền của người khác bằng thủ đoạn lên mạng xã hội Facebook đặt làm giả 07 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) sau đó đem đi thế chấp vay tiền của bà Dương Thị T, bà Nguyễn Thị S, bà Nguyễn Thế Phạm Thùy L, bà Lê Thị Ánh H1 rồi chiếm đoạt. Với thủ đoạn trên, từ tháng 02/2021 đến tháng 9/2022, Ngô Thị H đã có hành vi sử dụng 07 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tiền của bà Dương Thị T số tiền 800.000.000 đồng, bà S số tiền 300.000.000 đồng, bà L số tiền 50.000.000 đồng và bà H1 số tiền 350.000.000 đồng, rồi bỏ trốn. Tổng số tiền Huế chiếm đoạt của các bị hại là 1.500.000.000 đồng. Huế đã bồi thường cho bà Nguyễn Thế Phạm Thùy L số tiền 50.000.000 đồng.
Tại phiên toà bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập tại hồ sơ. Xét có đủ căn cứ xác định hành vi của bị cáo Ngô Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo điểm b khoản 3 Điều 341 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp rất nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo không những xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp tài sản của người khác mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội, bị cáo xem thường pháp luật, tạo dư luận xã hội không tốt, gây hoang mang trong đời sống cộng đồng và bị lên án. Bị cáo có tiền án chưa được xoá án tích do đó, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian dài để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Phạm tội 02 lần trở lên, tái phạm quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Thành khẩn khai báo, bị cáo ra đầu thú, đã bồi thường cho bà Nguyễn Thế Phạm Thùy L 50.000.000 đồng, đã trả cho bà Dương Thị T 130.000.000 đồng nên được áp dụng điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[3] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo thừa nhận còn chiếm đoạt của bị hại bà Nguyễn Thị S 300.000.000 đồng, bà Lê Thị Ánh H1 350.000.000 đồng. Riêng bị hại bà Dương Thị T bị cáo cho rằng đã trả cho bà T 600.000.000 đồng là không có cơ sở, bởi lẽ bị cáo hoàn toàn không có chứng cứ gì chứng minh bị cáo đã trả được 600.000.000 đồng cho bà Dương Thị T, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra cũng đã thể hiện (bút lục E) chưa trả cho bà T được tiền gốc nào. Bà T thừa nhận bị cáo H trả được 130.000.000 đồng tiền lãi nên cần trừ số tiền 130.000.000 đồng còn lại 670.000.000 đồng buộc bị cáo H phải trả.
[4] Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu lưu hồ sơ vụ án:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 388538 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 08/01/2021 đối với thửa đất số 293, tờ bản đồ số 23, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 910846 mang tên Nguyễn Bảo N, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 21/4/2016 đối với thửa đất số 209, tờ bản đồ số 16, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 388583 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 27/7/2020 đối với thửa đất số 48, tờ bản đồ số 12, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 986183 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 25/10/2021 đối với thửa đất số 920, tờ bản đồ số 13, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 743958 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 17/12/2021 đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 6, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 578176 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 01/5/2022 đối với thửa đất số 237, tờ bản đồ số 2, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 849533 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 16/3/2022 đối với thửa đất số 292, tờ bản đồ số 4, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy vay tiền ngày 14/02/2022 bà Nguyễn Thị S, ngụ tại: Phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai cho Ngô Thị H vay số tiền 300.000.000 đồng;
- Giấy vay tiền ngày 23/9/2022 bà Lê Thị Ánh H1, sinh năm 1971, ngụ tại: Xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cho Ngô Thị H vay số tiền 150.000.000 đồng;
- Giấy vay tiền ngày 23/9/2022 bà Lê Thị Ánh H1, sinh năm 1971, ngụ tại: Xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cho Ngô Thị H vay 200.000.000 đồng.
[5] Ý kiến và quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đồng Nai tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên ghi nhận.
[6] Ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo về các tình tiết giảm nhẹ phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Các quan điểm bào chữa khác không được chấp nhận.
[7] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 51.600.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b khoản 3 Điều 341; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 55 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Ngô Thị H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Xử phạt bị cáo Ngô Thị H mức án 14 (Mười bốn) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 03 (Ba) năm tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là 17 (Mười bảy) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 26/9/2024.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 584, 589 Bộ luật dân sự.
Buộc bị cáo Ngô Thị H phải bồi thường số tiền chiếm đoạt cho các bị hại, cụ thể:
- Bà Dương Thị T 670.000.000 đồng (Sáu trăm bảy mươi triệu đồng).
- Bà Nguyễn Thị S 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng).
- Bà Lê Thị Ánh H1 350.000.000 đồng (Ba trăm năm mươi triệu đồng).
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu lưu hồ sơ vụ án:
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 388538 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 08/01/2021 đối với thửa đất số 293, tờ bản đồ số 23, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CD 910846 mang tên Nguyễn Bảo N, do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đ cấp ngày 21/4/2016 đối với thửa đất số 209, tờ bản đồ số 16, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BN 388583 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 27/7/2020 đối với thửa đất số 48, tờ bản đồ số 12, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 986183 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 25/10/2021 đối với thửa đất số 920, tờ bản đồ số 13, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số DC 743958 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 17/12/2021 đối với thửa đất số 50, tờ bản đồ số 6, phường X, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CV 578176 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 01/5/2022 đối với thửa đất số 237, tờ bản đồ số 2, xã B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CU 849533 mang tên Ngô Thị H do Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ cấp ngày 16/3/2022 đối với thửa đất số 292, tờ bản đồ số 4, phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai;
- Giấy vay tiền ngày 14/02/2022 bà Nguyễn Thị S, ngụ tại: Phường B, thành phố L, tỉnh Đồng Nai cho Ngô Thị H vay số tiền 300.000.000 đồng;
- Giấy vay tiền ngày 23/9/2022 bà Lê Thị Ánh H1, sinh năm 1971, ngụ tại: Xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cho Ngô Thị H vay số tiền 150.000.000 đồng;
- Giấy vay tiền ngày 23/9/2022 bà Lê Thị Ánh H1, sinh năm 1971, ngụ tại: Xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai cho Ngô Thị H vay 200.000.000 đồng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bị hại, nếu bị cáo chậm thi hành số tiền phải bồi thường nêu trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH-14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 51.600.000 đồng (Năm mươi mốt triệu sáu trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Nam Phương |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
|
Thẩm phán .......................... |
Thẩm phán Chủ toạ phiên toà Hoàng Thị Thu Minh |
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN
Bản án số 119/2025/HS-ST ngày 24/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI về lừa đảo chiếm đoạt tài sản và sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 119/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/06/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lừa đảo CĐTS
