Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP

CAO TẠI HÀ NỘI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc



Bản án số: 119/2025/DS-PT

Ngày: 18/03/2025

V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất,

yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền

sử dụng đất.

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ong Thân T;

Các Thẩm phán:

Ông Phạm Việt H;

Ông Nguyễn Mạnh T.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Hà T, Thư ký viên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Thị Thu M - Kiểm sát viên cao cấp.

Ngày 18 tháng 03 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số 697/2024/TBTL-DS ngày 23 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất, Yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” do có kháng cáo của bị đơn đối với Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 2350/2025/QĐ-PT ngày 05 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:

* Nguyên đơn:

  1. Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1948; có mặt
  2. Bà Lê Thị C, sinh năm 1948; vắng mặt

HKTT: Tập thể V, Tổ H, phường Q, Cầu G, Hà Nội

Cùng địa chỉ: Số nhà A hẻm B ngách A ngõ A, đường N, Cầu G, Hà Nội.

Đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị Thanh X, sinh năm 1987; trú tại: Số nhà A hẻm B ngách A ngõ A đường N, Cầu G, Hà Nội (Giấy ủy quyền ngày 05/01/2021); có mặt

Người bảo vệ quyền và lợi ích cho nguyên đơn: Ông Phạm Tường L và ông Nguyễn Minh T1 – Luật sư Công ty L7, Đoàn luật sư thành phố H; đều có mặt.

* Bị đơn có yêu cầu phản tố:

  1. Ông Lê Hồng T2, sinh năm 1966; có mặt
  2. Bà Nguyễn Thị Minh N, sinh năm 1969; có mặt

HKTT: P412-C5, Tập thể V, phường N, Đ, Hà Nội.

Cùng địa chỉ: Số nhà A, ngõ A, phố T, quận Đ, Hà Nội.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Lê Ngọc A và ông Nguyễn Khắc B - Luật sư Văn phòng L8, Đoàn luật sư thành phố H; đều có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ủy ban nhân dân huyện T, thành phố Hà Nội

Trụ sở: Thị trấn Văn Điển, huyện Thanh Trì, Hà Nội

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tiến C1, Chủ tịch; vắng mặt

  1. Ủy ban nhân dân xã H, huyện Thanh Trì, thành phố Hà Nội

Trụ sở: xã Hữu Hòa, huyện Thanh Trì, Hà Nội

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Tá C2, Chủ tịch; vắng mặt

* Người làm chứng do bị đơn đề nghị triệu tập liên quan đến kháng cáo:

  1. Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1967; có mặt

Địa chỉ: Ngõ A thôn H, xã H, huyện T, Hà Nội.

  1. Ông Lê Đình Q, sinh năm 1965; vắng mặt

Địa chỉ: Ngõ C thôn H, xã H, huyện T, Hà Nội.

  1. Bà Nguyễn Thị Thanh H, sinh năm 1967; có mặt

Địa chỉ: Ngõ A thôn H, xã H, huyện T, Hà Nội.

  1. Ông Nguyễn K, sinh năm 1975; có mặt

Địa chỉ: Số nhà A tòa A chung cư H, phường K, quận H, thành phố Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là ông Nguyễn Thanh T, bà Lê Thị C và chị Nguyễn Thị Thanh X đại diện ủy quyền và những người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày:

Ông Thế là chủ sử dụng, sở hữu hợp pháp thửa đất số 40, tờ bản đồ số 16 tại địa chỉ thôn H, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội diện tích 122m². Nguồn gốc thửa đất là của bố mẹ ông Thế L1 cụ Nguyễn Văn T3 (ông T không nhớ rõ năm sinh, chỉ biết cụ T3 mất năm 1969) và mẹ ông Thế L1 cụ Lê Thị N1 (ông T không nhớ rõ năm sinh, chỉ biết cụ N1 mất năm 1963) do ông cha để lại. Bố mẹ ông T sinh được 04 người con trai là ông Nguyễn Văn T4 (sinh năm 1935, mất khoảng 1993 - 1994), ông Nguyễn Văn S (sinh năm 1937, mất khoảng năm 1997 - 1998), ông Nguyễn Văn D1 (sinh năm 1939, hy sinh khoảng năm 1966 - 1967) và ông Nguyễn Thanh T. Bản thân ông T sinh ra, lớn lên và sinh sống ở xã H đến năm 1985, ông T lập gia đình và chuyển về sinh sống ở tập thể B V, phường Q, quận C, Hà Nội.

Khi sinh thời, bố mẹ ông T sử dụng thửa đất để tăng gia sản xuất, trồng rau. Khi bố mẹ ông T mất đi, ông T cùng các anh chị em trong gia đình vẫn sử dụng thửa đất này.

Khoảng năm 1986 các anh chị em trong gia đình thống nhất giao cho ông T được toàn quyền sử dụng thửa đất này, việc này chỉ được các anh chị em trong gia đình ông T thống nhất bằng miệng, không có văn bản cụ thể, cũng không có giấy tờ gì về quyền sử dụng đất.

Khi ông T tiếp nhận thửa đất để sử dụng thì thửa đất là đất trống có ngõ đi vào ở phía Bắc thửa đất, tứ cận như sau: Phía Đông giáp với đất nhà thờ họ Lê (nay là đất của anh H1), Phía Tây giáp đất của ông Tám H2 (nay là đất của chị O), Phía Nam giáp với đất của nhà bà T5 (nay là đất của ông T2, bà N1), phía Bắc giáp với đất của cụ Lý N2 (nay là đất của bà B1). Ông T không nhớ rõ kích thước từng cạnh của thửa đất tại thời điểm đó.

Năm 1994, ông T đã làm thủ tục kê khai quyền sử dụng đất và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho diện tích 133m² (Số thửa, tờ bản đồ thế nào ông T không nhớ rõ) đứng tên cá nhân ông T (Nguyễn Văn T6).

Đến năm 2003 ông T6 được nhà nước cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 881875 cho thửa đất số 40, tờ bản đồ số 16 xã H, diện tích đất là 122m², trong giấy chứng nhận có sơ đồ thửa đất nhưng không thể hiện rõ kích thước cụ thể của từng cạnh. Diện tích đất theo giấy chứng nhận năm 2003 thiếu 11m² so với giấy chứng nhận năm 1994. Ông T6 có hỏi thì được cán bộ địa chính xã H trả lời diện tích thửa đất giảm đi là do sai số khi đo vẽ giữa các hệ bản đồ.

Khoảng tháng 9/2017, ông T2 đã xây dựng nhà trên thửa đất của ông T2 giáp với cạnh phía nam thửa đất của ông T6, ông T2 đã lấn chiếm đất, tự ý đổ bê tông làm đường trên một phần diện tích đất khoảng 15m² của gia đình ông T6 để làm lối đi.

Trước khi ông T6 khởi kiện ông T2, bà N1 ra Tòa án thì ông T6 đã làm đơn đề nghị Ủy ban nhân dân xã H tranh chấp giữa hai gia đình. Ủy ban nhân dân xã H đã tiến hành hòa giải giữa hai gia đình ngày 27/02/2020 và lập biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 11/6/2020 nhưng hai bên không thống nhất được việc giải quyết tranh chấp.

Khoảng tháng 04/2020, gia đình ông T6 đã đề nghị Văn phòng đăng ký nhà đất huyện T cấp cho gia đình ông T6 Sơ đồ thửa đất có các kích thước cạnh cụ thể.

Ngày 28/5/2020, gia đình ông T6 đã được cấp Sơ đồ thừa đất có diện tích 122m², các cạnh kích thước cụ thể như sau: Cạnh phía đông là 10,10m, cạnh phía tây là 12,50m, cạnh phía nam 9,5m, cạnh phía bắc 12,5m.

Ngày 27/5/2022, đã tiến hành đo đạc xác định vị trí, ranh giới thửa đất kết hợp với bản đồ năm 1994 và Giấy chứng nhận QSDĐ. Kết quả đo đạc thể hiện thửa đất ông T6 được cấp giấy chứng nhận QSDĐ có một phần diện tích đất nhà ông T6 lấn sang nhà thờ họ Lê 1,4m²; nhà thờ họ Lê lấn sang nhà ông T6 1,9m²; nhà ông D lấn sang nhà ông T6 0,5 m²; nhà bà O lấn sang nhà ông T6 5m² và 15,5m² đất giáp thửa đất nhà ông T2 mà hiện ông T2 đã đổ bê tông làm đường đi. Ông T6 nhất trí với kết quả đo đạc của công ty. Đối với các phần diện tích đất

chồng lấn giữa thửa đất nhà ông T6 với đất nhà thờ họ Lê, đất nhà ông D, đất nhà bà O thì ông T6 không có ý kiến gì.

Đề nghị Tòa án không đưa những người trên vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan. Nếu sau này có tranh chấp, ông T6 sẽ khởi kiện bằng vụ án dân sự khác. Ông T6, bà C đề nghị Tòa án buộc gia đình ông T2 phải tháo dỡ toàn bộ công trình bê tông đã xây dựng lấn chiếm, trái phép trên đất của gia đình ông T6 tại địa chỉ thôn H, xã H, huyện T, thành phố Hà Nội và trả lại cho gia đình ông T6 diện tích đất mà gia đình ông T2 đang lấn chiếm là 15,5m². Ông T6, bà C có yêu cầu khởi kiện bổ sung về việc đề nghị Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất của nhà ông T2, bà N1.

Về yêu cầu phản tố của bị đơn, ông T6, bà C không đồng ý do yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã hết thời hiệu khởi kiện.

Ông T6, bà C không có ý kiến gì về giá đất theo biên bản định giá tài sản lập ngày 06/4/2022 và không yêu cầu định giá lại.

Tại buổi hòa giải cuối cùng, nguyên đơn có phương án hòa giải là: bị đơn thanh toán cho nguyên đơn số tiền 1.600.000.000 đồng để được toàn quyền quản lý, sử dụng phần diện tích đất đang tranh chấp.

* Bị đơn là ông Lê Hồng T2, bà Nguyễn Thị Minh N và những người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày:

Ngày 05/11/2001, vợ chồng ông T2, bà N có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đối với một phần thửa đất số 538 (bản đồ năm 1939) và toàn bộ thửa số 539 (bản đồ năm 1939) từ vợ chồng ông Lê H3, bà Lê Thị L2 (cùng HKTT và chỗ ở tại thôn H, H, T, Hà Nội) có tổng diện tích 150m² nhưng không xác định diện tích của từng thửa đất. Thửa đất số 538 có nguồn gốc do vợ chồng ông H3 nhận chuyển nhượng của dòng họ Lê ở thôn H, xã H, T, Hà Nội, thửa đất số 539 do vợ chồng ông H3 nhận chuyển nhượng từ ông T7, trước đó ông T7 nhận chuyển nhượng từ bà T5. Việc mua bán được vợ chồng ông Lê H3 lập Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất thổ cư ngày 05/11/2001 có xác nhận của Ủy ban nhân dân xã H. Kèm theo giấy chuyển nhượng còn có sơ đồ thửa đất, tứ cạnh như sau: Cạnh tây bắc giáp với ngõ đi chung của xóm (hướng đi vào nhà thờ họ Lê) là 9,25m đối diện qua ngõ là đất trước đây do bà T4 quản lý nay là đất của gia đình ông T6, cạnh đông bắc giáp với đất nhà thờ họ L3 và đất ông S1 (nay là đất của ông L4) là 22,8m, cạnh đông nam giáp ngô đi chung của xóm là 7,5m, cạnh tây nam giáp với đất ông T8 và bà L5 (nay là đất của ông D, bà T9) là 22,9m. Ngay sau đó vài ngày vợ chồng ông H3 còn chuyển nhượng cho gia đình ông T2, bà N 4m² đất, phần tiếp giáp với nhà thờ họ Lê. Lúc đó vợ chồng ông H3 chỉ ghi số hiệu thửa đất theo bản đồ năm 1939 mà không ghi số thửa đất theo các bản đồ đang có hiệu lực tại thời điểm đó.

Khi mua bán ông T2, bà N chỉ trao đổi thỏa thuận với vợ chồng ông Lê H3 và giao dịch trên cơ sở thông tin thửa đất do ông Lê H3 cung cấp và xem xét thực tế hiện trạng thửa đất, ông T2, bà N không làm việc với cán bộ địa chính xã cũng như UBND xã H để xác định diện tích đất mua bán theo bản đồ hiện trạng lúc đó là thửa đất số bao nhiêu, tờ bản đồ số bao nhiêu. Đến nay ông T2, bà N mới biết thửa đất ông T2, bà N nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Lê H3 là thửa đất số 30 tờ bản đồ số 16 đo đạc năm 1994, theo bản đồ thì thửa đất nhà ông T2, bà N và thửa đất nhà ông T6 (Thửa đất số 40, tờ bản đồ số 16 đo đạc năm 1994) là giáp với nhau không có ngõ đi chung giữa hai thửa đất. Ông T2, bà N có quan điểm việc cơ quan nhà nước có thẩm quyền

thiết lập bản đồ đo đạc năm 1986, 1994 là không đúng với hiện trạng thực tế các thửa đất của gia đình ông bà và gia đình ông T6 vì lúc đó ngõ đi chung của các hộ gia đình trong đó có gia đình ông bà và gia đình ông T6 đã tồn tại từ trước đó rất lâu được thể hiện trong bản đồ năm 1939

Khi ông T2, bà N nhận chuyển nhượng đất từ vợ chồng ông Lê H3 thì thửa đất là đất trống không có công trình xây dựng trên đất, ông T2, bà N và ông H3 đã thuê thợ xây dựng tường rào bao quanh thửa đất và đổ đất tôn ngõ đi chung của xóm ở cạnh T và đổ đất tôn ngõ, đổ bê tông ngõ đi chung ở cạnh Đông Nam thửa đất. Năm 2001 thì nhà thờ họ L3 đã chuyển ngõ đi sang ngõ khác, không đi chung ngõ với ngõ giáp cạnh hướng Đông bắc của gia đình ông T2, bà N nữa.

Năm 2002, ông D bà T9 xây nhà đã cùng gia đình ông T2, bà N bỏ tiền để đổ bê tông và làm cống thoát nước trên phần diện tích đất làm ngõ đi chung (giáp với cạnh tây bắc thửa đất của gia đình ông T2, bà N), khi làm ông T2, bà N có mời bà H và bà T4 (là chị dâu ông T6 quản lý đất cho ông T6) ra chứng kiến việc làm ngõ nhưng không ai có ý kiến gì.

Khoảng năm 2005 - 2008 nhà gia đình ông D, gia đình bà H và gia đình ông T2, bà N đã bỏ tiền để đổ bê tông nốt phần ngõ đi chung phía ngoài (vì lúc này bà H mới trả đất ngõ đi chung cho xóm còn trước đây bà H đổi đất để xóm đi theo lối đằng sau lưng nhà bà H để ra ngõ đi chung của xóm khác).

Năm 2011, gia đình ông T2, bà N có xây dựng 01 căn nhà cấp 04 trên diện tích khoảng 30m² đất (nằm trên thửa đất số 539) và cho ông Nguyễn K ở nhờ (Ông K là giảng viên khoa Sư phạm âm nhạc Trường Đại học S2, địa chỉ: K đường N, quận T, Hà Nội), lúc đó ông K vẫn đi vào cả 02 lối đi ở 02 ngõ xóm cạnh đông bắc và cạnh tây nam thửa đất của gia đình ông T2, bà N.

Năm 2017, vợ chồng ông T2, bà N đã được Ủy ban nhân dân huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 064686 ngày 14/9/2017 cho thửa đất số 30 - 8, tờ bản đồ số 16 xã H, T, Hà Nội diện tích 153m2 (có sơ đồ thửa đất và kích thước các cạnh) thể hiện thửa đất có 02 ngõ đi vào. Tháng 4/2019 gia đình ông T2, bà N đã xây nhà trên thửa đất này, khi xây dựng gia đình ông T2, bà N chỉ xây dựng đúng phần diện tích gia đình ông T2, bà N đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Do quá trình xây dựng vận chuyển vật liệu xây dựng có làm sụt lún hai ngõ đi chung của xóm ở các cạnh phía đông bắc, phía tây nam của thửa đất nên gia đình ông T2, bà N có sửa chữa lại bằng cách đổ bê tông trùm lên phía trên ngõ đi cũ. Trong thời gian ông T2, bà N xây nhà và sửa chữa ngõ đi chung của xóm (phần trước cửa nhà ông T2, bà N và nhà ông T6) không có ai có ý kiến gì phản đối việc xây dựng của ông T2, bà N.

Đến tháng 11/2019, UBND xã H mời gia đình ông T2, bà N lên để giải quyết đơn đề nghị của ông T6 về việc gia đình ông T2, bà N làm nhà trên đất của gia đình ông T6. Ủy ban nhân dân xã H đã tạm đình chỉ việc xây dựng của gia đình ông T2, bà N và xuống kiểm tra hiện trạng sử dụng đất của 02 gia đình, sau khi kiểm tra Ủy ban xã đã thông báo gia đình ông T2, bà N được tiếp tục xây dựng nhà ở vì không có việc lấn chiếm đất của gia đình ông T6.

Ngày 27/02/2020, Ủy ban nhân dân xã H đã tổ chức hòa giải tranh chấp đất đai giữa hai gia đình nhưng không thành, UBND xã đã yêu cầu hai gia đình giữ nguyên hiện trạng phần đất đang có tranh chấp.

Ngày 28/5/2020, Ủy ban nhân dân xã H mời gia đình ông T2, bà N có mặt tại ngõ đi chung của xóm để chứng kiến việc đo vẽ, cắm mốc giới sử dụng đất cho gia đình ông T6, ông T2, bà N đã phản đối việc làm này của Ủy ban nhân dân xã H vì việc cắm mốc giới cho gia đình ông T6 không đúng, trùm lên cả ngõ đi chung của xóm, bịt kín lối đi vào cạnh đông bắc thửa đất của gia đình ông T2, bà N. Ngày 11/6/2020, Ủy ban nhân dân xã H đã xuống thực địa cắm mốc giới cho gia đình ông Thế M không được sự đồng ý của gia đình ông T2, bà N.

Ngày 12/6/2020, Gia đình ông T2, bà N đã gửi đơn kiến nghị đến Ủy ban nhân dân xã H về việc bàn giao mốc giới này.

Ngày 29/6/2020, gia đình ông T2, bà N gửi đơn đến Ủy ban nhân dân huyện T để khiếu nại việc xác định mốc giới sử dụng đất của gia đình ông T6 như vậy là không đúng, yêu cầu UBND huyện T rà soát lại quy trình và hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử đụng đất cho gia đình ông T6, xác minh lại việc cắm mốc giới sử dụng đất cho gia đình ông T6 và thu hồi phần đất đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông T6 trùm lên ngõ đi chung của xóm.

Do Ủy ban nhân dân huyện T không trả lời đơn khiếu nại lần 1 nên ngày 26/11/2020, gia đình ông T2, bà N đã gửi đơn khiếu nại lần 2 đến Ủy ban nhân dân huyện T.

Ngày 11/12/2020, Ủy ban nhân huyện T mời ông T2, bà N xuống làm việc và giao văn bản của UBND huyện T trả lời đơn khiếu nại của ông T2, bà N. Tại buổi làm việc này, ông T2, bà N mới biết Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì đã thụ lý đơn khởi kiện của vợ chồng ông Nguyễn Thanh T khởi kiện vợ chồng ông T2, bà N về việc tranh chấp quyền sử dụng đất.

Vợ chồng ông T2, bà N có quan điểm đối với yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông T như sau: Ông T2, bà N không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của vợ chồng ông T vì yêu cầu khởi kiện là không có căn cứ do việc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T cấp sơ đồ thửa đất ngày 28/5/2020 cho ông Thế L1 không đúng đã cấp trùm lên cả ngõ đi chung của xóm.

Quá trình giải quyết vụ án, ngày 25/6/2021, ông T2, bà N đã có Đơn yêu cầu phản tố đề ngày 24/6/2021 và đã được Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì thụ lý với nội dung: yêu cầu Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã được cấp cho ông Nguyễn Thanh T và xác định phần diện tích đất đang tranh chấp là lối đi chung.

Ông T2, bà N cũng không đồng ý với kết quả đo đạc hiện trạng ngày 15/04/2021, ngày 27/5/2024, nhưng không yêu cầu Tòa án thẩm định, đo đạc lại.

Ông T2, bà N cũng không có ý kiến gì về giá đất theo biên bản định giá tài sản lập ngày 06/4/2022 và không yêu cầu định giá lại.

Ông T2, bà N không đồng ý với phương án hòa giải của nguyên đơn, chỉ đồng ý hòa giải với phương án: ông bà sẽ thanh toán cho ông T, bà C số tiền

100.000.000 đồng để phần diện tích đất đang tranh chấp là ngõ đi chung, không phải diện tích đất riêng của ai.

* Người có quyền, nghĩa vụ liên quan là UBND huyện T do bà Đỗ Kim C3 đại diện ủy quyền trình bày:

Việc cấp GCNQSD đất cho ông Nguyễn Thanh T:

Ngày 16/7/2003, ông Nguyễn Văn T6 có đơn đăng ký quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 40, tờ bản đồ số 16, diện tích 122m², mục đích sử dụng: đất ở; thời hạn sử dụng: lâu dài;

UBND xã H đã kiểm tra hiện trạng sử dụng đất, xác định ranh giới thửa đất và có Tờ trình số 20/TT-UB ngày 28/8/2003 trình UBND huyện cấp GCNQSD đất cho ông Nguyễn Văn T6;

Ngày 23/10/2003, UBND huyện T ban hành Quyết định số 1479/QĐ-UB về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, đất ao, vườn liền kề khu dân cư nông thôn tại xã H (trong đó có trường hợp ông Nguyễn Văn T6 đối với thửa đất trên). Ông Nguyễn Văn T6 được UBND huyện cấp GCNQSD đất số W 881875, số vào số 00489 QSDĐ/1479-H ngày 23/10/2003 (sơ đồ thửa đất không thể hiện kích thước thửa đất).

Việc cấp GCNQSD đất cho ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N:

Ngày 11/5/2017, ông Lê Hồng T2 và Nguyễn Thị Minh N có Đơn đăng ký, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đối với thửa đất số 30-8, tờ bản đồ số 16, diện tích 153m² tại thôn H, xã H, huyện T;

UBND xã H đã tiến hành hoàn thiện hồ sơ và công khai từ ngày 15/5/2017 đến hết ngày 29/5/2017. Trong thời gian công khai, UBND xã không tiếp nhận được bất cứ đơn thư hay ý kiến thắc mắc, tranh chấp khiếu kiện gì liên quan hồ sơ đề nghị cấp GCNQSD đất của gia đình ông Lê Hồng T2 và vợ là bà Nguyễn Thị Minh N.

Ngày 06/6/2017, UBND xã H có Tờ trình số 43/TTr-UBND về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N, tại thôn H, xã H, huyện T, Hà Nội;

Phòng Tài nguyên và Môi trường đã thẩm định và có Tờ trình số 167/TTr-TN&MT ngày 13/9/2017 về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N được UBND huyện xác nhận.

Ngày 14/9/2017, ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N đã được UBND huyện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 064686, số vào số cấp GCN: CH 01558 đối với thửa đất số 30-8, tờ bản đồ số 16, diện tích 153,0m²; mục đích sử dụng: đất ở tại nông thôn; thời hạn sử dụng: lâu dài; nguồn gốc sử dụng: Công nhận quyền sử dụng đất như giao đất có thu tiền sử dụng đất.

Việc đính chính lại sơ đồ thửa đất:

Ngày 02/11/2020, phòng T11 đã làm việc với Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội huyện T để xác minh nội dung kiến nghị. Tại buổi làm việc Chi

nhánh Văn phòng Đ có ý kiến: Ngày 25/5/2020, Chi nhánh nhận được đơn đăng ký biến động của ông Nguyễn Thanh T đề nghị “cấp lại trích lục thửa đất”. Sau khi kiểm tra hồ sơ lưu trữ (có thể hiện sơ đồ, kích thước tại biên bản kiểm tra hiện trạng); căn cứ Điều 106 Luật Đất đai năm 2013; khoản 7, Điều 18 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014; khoản 6, Điều 9 và khoản 3, Điều 10, Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T12; Điều 24, Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 12/2017/QĐ-UBND ngày 31/3/2017 của UBND thành phố H, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai Hà Nội huyện T đã cấp lại sơ đồ thửa đất cho ông T theo đúng quy định của pháp luật.

Quan điểm của UBND huyện T: Phòng T11, UBND huyện T căn cứ vào hồ sơ do UBND xã H trình cấp GCNQSD đất cho ông Nguyễn Thanh T và bà Lê Thị C; ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N tại xã H để làm căn cứ thực hiện cấp GCNQSD đất cho ông Nguyễn Thanh T và bà Lê Thị C; ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N theo đúng trình tự quy định pháp luật.

* Người có quyền, nghĩa vụ liên quan là UBND xã H trình bày:

Theo hồ sơ địa chính do UBND xã H đang quản lý đối với các thửa đất hai bên đang tranh chấp về quyền sử dụng đất, các thửa đất có nguồn gốc, thông tin địa chính, quá trình quản lý sử dụng như sau:

Về thửa đất của gia đình ông Nguyễn Thanh T, bà Lê Thị C:

- Nguồn gốc thửa đất: Đất của ông Nguyễn Thanh T sử dụng trước ngày 15/10/1993.

+ Theo sổ mục kê ruộng đất của UBND xã H lập năm 1993 và bản đồ đo đạc theo Chỉ thị 299/TTg: Thuộc thửa đất số 25, tờ bản đồ 01, diện tích 133m², loại ruộng đất: Đất vườn.

+ Theo hệ bản đồ đo đạc năm 1994: Thuộc thửa đất số 40, tờ bản đồ 16, diện tích 122m², có tứ cận như sau: Phía Đông giáp với thửa đất số 30(2) tờ bản đồ số 16 do gia đình ông H1 đang quản lý sử dụng; Phía Tây giáp thửa đất số 41 tờ bản đồ 16 do gia đình bà Lê Thị Xuân O đang quản lý sử dụng; Phía Nam giáp thửa đất số 40 tờ bản đồ số 16 do gia đình ông Lê Hồng T2 đang quản lý sử dụng; Phía Bắc giáp ngõ đi chung do UBND xã quản lý (liền kề với thửa đất số 39 tờ bản đồ số 16 do gia đình bà Lưu Thị B1 đang quản lý sử dụng).

+ Tháng 7/2003, ông T đã làm hồ sơ kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 40, tờ bản đồ 16, diện tích 122m² với tên đăng ký là Nguyễn Thanh T. Ngày 23/10/2003, UBND huyện T, Hà Nội cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 881875 cho thửa đất số 40, tờ bản đồ số 16 xã H, diện tích 122m² mang tên ông Nguyễn Văn T6, mục đích sử dụng đất ở.

+ Ngày 28/5/2020, Văn phòng Đ chi nhánh huyện T đã thực hiện: Đính chính trang 02 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 881875:“Tên đệm “Văn” đổi lại là “T9” theo chứng minh thư, hộ khẩu và tờ trình số 31/TTr- UBND ngày 30/9/2009 của UBND xã H: Nguyễn Thanh T”; Cấp lại sơ đồ thửa đất theo Biên bản kiểm tra ngày 27/05/2020 của Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện T (hồ sơ số 200525-0041).

Hiện trạng thửa đất của gia đình ông Nguyễn Thanh T hiện nay là đất trống, trên đất chỉ có một số cây ăn quả, không có công trình xây dựng, mốc giới được

xác định với các gia đình xung quanh bằng tường nhà hoặc tường rào, riêng phía giáp với thửa đất của gia đình ông Lê Hồng T2 có một phần diện tích đất nằm trên hiện trạng ngõ đi bê tông giữa hai gia đình.

Về thửa đất của gia đình ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N:

- Nguồn gốc: Đất ao, vườn của ông Lê H3 (trú tại: thôn H, xã H, huyện T, Hà Nội) sử dụng ổn định trước ngày 15/10/1993. Năm 2001, ông Lê H3 và vợ là bà Lê Thị Luân chuyển N3 cho ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N sử dụng (được UBND xã H xác nhận ngày 06/11/2001).

+ Theo bản đồ đo năm 1986 thì diện tích 153m² đất gia đình ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N nhận chuyển nhượng từ gia đình ông Lê H3, bà Lê Thị L2 là toàn bộ diện tích đất thuộc thửa đất số 30 tờ bản đồ số 01 xã H và một phần diện tích đất thuộc thửa đất số 31 tờ bản đồ số 01 xã H.

+ Theo hệ bản đồ đo năm 1994 thì diện tích 153m² gia đình ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N quản lý sử dụng thuộc một phần diện tích thửa đất số 30 tờ bản đồ số 16 xã H, T, Hà Nội.

+ Theo Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất thổ cư do ông Lê H3 lập ngày 05/01/2001 (đã được UBND xã H xác nhận ngày 06/01/2001) thì thửa đất ông Lê H3 chuyển nhượng cho ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N là thửa đất số 539 và một phần thửa đất 538 (bản đồ 1939), sơ đồ kèm theo giấy chuyển nhượng thể hiện có 02 ngõ đi chung, trong đó có 01 ngõ đi chung với thửa đất của gia đình ông Nguyễn Thanh T, tại thời điểm đó do bà T4 là chị dâu ông T đang quản lý sử dụng đất nên trong sơ đồ có ghi “Đất nhà bà T4”.

Theo các bản đồ đo năm 1986, 1994 đều thể hiện thửa đất của ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Lê H3 có ranh giới giáp với cạnh phía Nam thửa đất của gia đình ông Nguyễn Thanh T, bà Lê Thị C không có ngõ đi chung giữa hai thửa đất.

Tháng 5/2017, gia đình ông Lê Hồng T2, bà Nguyễn Thị Minh N làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài liệu kèm theo trong đó có “Giấy chuyển nhượng quyền sử dụng đất thổ cư ngày 05/01/2001, đã được UBND xã H xác nhận ngày 06/01/2001”, có sơ đồ thửa đất thể hiện thửa đất có 02 ngõ đi chung trong đó có 01 ngõ đi chung với thửa đất của gia đình ông Nguyễn Thanh T, bà Lê Thị C.

Ngày 12/5/2017, UBND xã H đã lập Biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất thửa đất tại thửa đất số 30-8, tờ bản đồ số 16 để trình báo cáo cơ quan cấp trên xem xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho vợ chồng ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N.

Ngày 15/5/2017, UBND xã H cũng trích sao từ bản đồ năm 1994 “Sơ đồ thửa đất”đối với thửa đất số 30-8, tờ bản đồ số 16 thể hiện thửa đất chỉ có 01 ngõ đi chung (không có ngõ đi chung giáp với thửa đất của ông T).

Ngày 14/9/2017, UBND huyện T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 064686 cho ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N được quyền sử dụng 153m² đất tại thửa đất số 30-8, tờ bản đồ số 16, sơ đồ thửa đất trong giấy chứng nhận thể hiện thửa đất có 02 ngõ đi chung trong đó có 01 phần ngõ đi chung giáp

với thửa đất của gia đình ông Nguyễn Thanh T. Việc vẽ, in giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Lê Hồng T2 là do các cơ quan chuyên môn Văn phòng Đ chi nhánh huyện T căn cứ vào hồ sơ do người đăng ký cung cấp (trong đó có hồ sơ kỹ thuật thửa đất, sơ đồ nhà ở và các công trình xây dựng trên đất) để thực hiện và trình UBND huyện T cấp giấy chứng nhận.

Hiện trạng thửa đất của gia đình ông Lê Hồng T2 đã xây dựng nhà bê tông cốt thép 07 tầng trên toàn bộ diện tích 153m² đất.

Về quá trình UBND xã H tiến hành hòa giải giải quyết tranh chấp đất đai giữa hai gia đình:

- Ngày 06/1/2020, ông Nguyễn Thanh T có đơn đề nghị UBND xã H hòa giải giải quyết tranh chấp đất đai giữa gia đình ông T với gia đình ông Lê Hồng T2.

- Ngày 27/2/2020, UBND xã H đã tổ chức buổi hòa giải giữa hai gia đình nhưng không thành do các bên không thống nhất được quan điểm.

- Ngày 22/5/2020, UBND xã H đã tiến hành kiểm tra hiện trạng thửa đất số 40, tờ bản đồ số 16 của gia đình ông Nguyễn Thanh T do ông T chưa chỉ được mốc giới của thửa đất nên tổ công tác đã thống nhất mời Công ty Đ để đo vẽ, xác định rõ ranh giới thửa đất.

- Ngày 11/6/2020, UBND xã H đã tiến hành kiểm tra hiện trạng thửa đất số 40, tờ bản đồ số 16 đã tiến hành cắm mốc giới, ranh giới thửa đất của gia đình ông Nguyễn Thanh T theo kết quả đo đạc được thể hiện tại HSKT số 861-3/2020 ngày 11/6/2020 của Công ty TNHH Đ1. Việc cắm mốc giới, ranh giới thửa đất có sự chứng kiến của các hộ liền kề là bà Lê Thị Xuân O, bà Lưu Thị B1. Theo đó, mốc giới sử dụng đất của gia đình ông T phần tiếp giáp với thửa đất số 30-8, tờ bản đồ số 16 gia đình ông Lê Hồng T2 đang quản lý sử dụng có một phần diện tích đất khoảng 10m² nằm trên phần ngõ bê tông đang tồn tại giữa hai thửa đất.

- Ngày 25/6/2020, UBND xã H đã tiến hành hòa giải tranh chấp đất đai (lần 2) giữa gia đình ông T2 với gia đình ông T nhưng các bên vẫn không thống nhất được tranh chấp. UBND xã đã hướng dẫn các bên làm đơn gửi cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để yêu cầu giải quyết tranh chấp.

Quan điểm của UBND xã H:

Về hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thanh T và ông Lê Hồng T2: UBND xã H trong quá trình thực hiện chức trách nhiệm vụ theo thẩm quyền liên quan đến việc hoàn thiện hồ sơ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho gia đình ông Nguyễn Thanh T và gia đình ông Lê Hồng T2 (như trình bày nêu trên) theo đúng trình tự thủ tục pháp luật quy định.

Liên quan đến nội dung bản đồ năm 1939 có ngõ nhưng bản đồ năm 1986 và năm 1994 lại không có ngõ: Căn cứ vào hồ sơ địa chính do UBND xã đang quản lý làm cơ sở căn cứ để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho các hộ gia đình, cá nhân cũng như lập hồ sơ địa chính để quản lý được cấp có thẩm quyền phê duyệt là theo Hệ bản đồ đo đạc năm 1986 theo Chỉ thị 299/Ttg và hệ bản đồ đo đạc năm 1994 làm căn cứ để thực hiện. Ngoài 02 hệ bản đồ nói trên, các bản đồ đo đạc

trước đây như bản đồ đo đạc năm 1939, UBND xã H không có cơ sở để xem xét giải quyết. UBND xã H giữ nguyên theo quan điểm liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thanh T và ông Lê Hồng T2 căn cứ theo bản đồ đo đạc năm 1986 và hệ bản đồ đo đạc năm 1994 là đúng theo quy định.

Liên quan đến nội dung trong biên bản ký ranh giới giáp ranh của nhà ông T đề nghị cấp giấy chứng nhận chỉ có bà B1, bà O ký mà không có nhà thờ họ Lê: Do hiện tại đồng chí Lê Thái N4 là cán bộ chuyên môn địa chính thời điểm đó và đồng chí Đàm L6 nguyên là phó chủ tịch UBND xã H thời điểm đó đều đã chết. UBND xã H không có cơ sở để xác minh làm rõ. Nên về nội dung này, UBND xã không có ý kiến.

Quan điểm của UBND xã H đối với việc tranh chấp đất đai giữa gia đình ông T với gia đình ông T2: UBND xã đề nghị Tòa án căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của đương sự, các tài liệu do đương sự giao nộp, các tài liệu, chứng cứ do Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo đúng quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Tại Bản án sơ dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm

2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội đã quyết định:

Áp dụng:

  • Các Điều 158, 163, 164, 166, 174,175, 176, 579 Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Các Điều 166, 170, 171, 203 Luật Đất đai năm 2013;
  • Các Điều 5, 26, 34, 37, 147, 227, 228, 271, 273 Bộ Luật Tố tụng dân sự;
  • Khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính;
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện và một phần yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông Nguyễn Thanh T, bà Lê Thị C đối với ông Lê Hồng T2, bà Nguyễn Thị Minh N.
  2. Xác định phần diện tích đất 15,5m2 hiện đang là lối đi giữa thửa đất số 40, tờ bản đồ 16 và thửa đất số 30-8, tờ bản đồ số 16 tại thôn H, xã H, huyện T, Hà Nội mà các bên tranh chấp là thuộc thửa đất số 40, tờ bản đồ 16 tại thôn H, xã H, huyện T, Hà Nội thuộc quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh T đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 881875 cấp ngày 23/10/2003 của UBND huyện T và Sơ đồ thửa đất kèm theo cấp ngày 28/5/2020 của Giám đốc Văn phòng Đ – Chi nhánh huyện T.
  3. Buộc ông Lê Hồng T2, bà Nguyễn Thị Minh N phải tự phá dỡ công trình xây dựng là đường bê tông trên phần diện tích đất nêu trên và phần mái ô văng các tầng của nhà 7 tầng của ông T2, bà N có diện tích mỗi ô văng 4,4m2 để trả lại cho ông Nguyễn Thanh T, bà Lê Thị C quyền sử dụng 15,5m2 đất được giới hạn bởi các

điểm 12, 13, 14, 15, 5, 4, 3 theo sơ đồ hiện trạng nhà đất chồng ghép lên bản đồ năm 1994 (có sơ đồ đo đạc kèm theo) thuộc một phần thửa đất số 40, tờ bản đồ 16 tại thôn H, xã H, huyện T, Hà Nội đã được UBND huyện T, thành phố Hà Nội đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 23/10/2003 mang tên ông Nguyễn Thanh T.

  1. Kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đính chính sơ đồ thửa đất số 30-8, tờ bản đồ 16 trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp ngày 14/9/2017 cho ông Lê Hồng T2, bà Nguyễn Thị Minh N để phù hợp với quyết định của bản án đã có hiệu lực pháp luật.
  2. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Lê Hồng T2, bà Nguyễn Thị Minh N đối với ông Nguyễn Thanh T, bà Lê Thị C.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về thi hành án, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 06/9/2024, bị đơn ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Bị đơn trình bày: Giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị được triệu tập thêm người làm chứng ông Nguyễn K; ông T2 và bà N thống nhất về nguồn gốc thửa đất, bản đồ năm 1939 đã thể hiện đúng thực trạng thực tế của thửa đất tranh chấp. Đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu phản tố của bị đơn.

Nguyên đơn và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn thống nhất trình bày: Giữ nguyên nội dung khởi kiện, đề nghị giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Đại diện UBND huyện T và UBND xã H, huyện T, thành phố Hà Nội vắng mặt không có ý kiến gì khác.

Người làm chứng ông D, bà H, ông K trình bày: Giữ nguyên các lời khai đã trình bày tại giai đoạn sơ thẩm.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn trình bày: Bản đồ địa chính năm 1939 đã thể hiện đúng với thực tế thửa đất tranh chấp. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận, ông T2 và bà N đã xây dựng nhà ở 5 tầng như hiện trạng, quá trình xây dựng, gia đình ông T2 không vi phạm hay bị khiếu kiện gì. Hồ sơ cấp giấy chứng nhận của gia đình ông T có nhiều thiếu sót, sai phạm; đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm và chấp nhận kháng cáo, yêu cầu phản tố của phía bị đơn, bác toàn bộ các yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Nhận thấy bản án sơ thẩm đã xét xử công khai, minh bạch, đúng quy định của pháp

luật, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội có quan điểm:

- Về tố tụng: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án theo thủ tục phúc thẩm, Thẩm phán Chủ tọa phiên tòa, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã chấp hành đúng theo quy định của pháp luật.

- Về nội dung: Căn cứ tài liệu chứng cứ có thu thập và hồ sơ vụ án, nhận thấy bản án cấp sơ thẩm giải quyết là có căn cứ pháp luật. Quá trình xét xử phúc thẩm, đương sự kháng cáo không có tài liệu mới làm thay đổi nội dung vụ án nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử (sau đây viết tắt là HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, bác kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên các quyết định của bản án sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội. Về án phí các đương sự phải chịu theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1]. Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết: Xét yêu cầu khởi kiện, yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn, yêu cầu phản tố của bị đơn, quan điểm của những người có quyền, nghĩa vụ liên quan khác trong vụ án cùng các tài liệu, chứng cứ do các đương sự xuất trình, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật giải quyết vụ án là Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là có căn cứ pháp luật. Căn cứ quy định tại khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, điểm a khoản 1 Điều 37 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4 Điều 32 Luật Tố tụng hành chính; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013, Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội thụ lý giải quyết vụ án là đúng quy định của pháp luật.

[1.2]. Về thời hiệu khởi kiện: Đối với yêu cầu đòi quyền sử dụng đất của nguyên đơn: Tranh chấp về quyền sử dụng đất không áp dụng thời hiệu khởi kiện theo quy định tại khoản 3 Điều 155 của Bộ luật Dân sự.

Đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhận thấy: Tại biên bản làm việc ngày 27/02/2020 tại UBND xã H với sự có mặt của ông T, ông T2, cán bộ địa chính đã công bố nội dung Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho cả hai bên. Do đó, có cơ sở xác định ông T và ông T2 đều đã được biết về Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho các bên từ ngày 27/02/2020.

Ngày 29/6/2020, ông T2, bà N đã có đơn khiếu nại gửi UBND huyện T về việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông T. UBND huyện T đã có văn bản số 2696/UBND-TN&MT ngày 10/12/2020 và biên bản làm việc ngày 11/12/2020 về việc không thụ lý khiếu nại của ông T2, bà N do Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì hiện đang giải quyết tranh chấp đất đai giữa các bên. Ngày 25/6/2021, ông T2, bà N đã có Đơn yêu cầu phản tố đề ngày 24/6/2021.

Ngày 14/03/2023, ông T và bà C có đơn khởi kiện bổ sung với yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất đã cấp cho ông T2.

Như vậy, mặc dù điểm a khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng hành chính quy định thời hiệu khởi kiện là 01 năm kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, tuy nhiên, xét thấy, đây là vụ án dân sự về tranh chấp quyền sử dụng đất có liên quan đến việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không phải vụ án hành chính độc lập, do đó, cần xem xét đến quy định tại khoản 1 Điều 34 Bộ luật Tố tụng dân sự: “Khi giải quyết vụ việc dân sự, Tòa án có quyền hủy quyết định cá biệt trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, người có thẩm quyền xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự trong vụ việc dân sự mà Tòa án có nhiệm vụ giải quyết”. Ngoài ra, Tòa án cũng có quyền kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền thu hồi, đính chính nội dung trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp không đúng.

Vì vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm xem xét, giải quyết yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng quy định của pháp luật.

[1.3]. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của đương sự được làm và nộp trong thời hạn quy định của pháp luật, đã nộp tạm ứng án phí nên hợp lệ và được chấp nhận xem xét theo thủ tục phúc thẩm.

[1.4]. Về sự vắng mặt của các đương sự: Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều đã được triệu tập hợp lệ tuy nhiên người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đại diện UBND huyện T và UBND xã H vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đối với các đương sự trên.

[2] Xét nội dung kháng cáo bản án sơ thẩm của bị đơn, HĐXX thấy:

Theo cung cấp của UBND huyện T, Văn phòng Đ chi nhánh huyện T, UBND xã H và các tài liệu, chứng cứ do đương sự giao nộp thể hiện nguồn gốc các thửa đất, việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và hiện trạng diện tích đất đang tranh chấp như sau:

[2.1]. Về nguồn gốc thửa đất và việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T, bà C:

Thửa đất của ông Nguyễn Thanh T được sử dụng trước ngày 15/10/1993.

Theo sổ mục kê ruộng đất của UBND xã H lập năm 1993 và bản đồ năm 1986 đo đạc theo Chỉ thị 299/TTg: Thuộc thửa đất số 25, tờ bản đồ 01, diện tích 133m², loại ruộng đất: Đất vườn. Ngày 08/7/1993, ông Nguyễn Văn T6 (Nguyễn Thanh T) đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên.

Theo hệ bản đồ đo đạc năm 1994: Thửa đất trên tương ứng với thửa đất số 40, tờ bản đồ 16, diện tích 122m², có tứ cận như sau: Phía Đông giáp với thửa đất số 30(2) tờ bản đồ số 16 do gia đình ông H1 đang quản lý sử dụng; Phía Tây giáp thửa đất số 41 tờ bản đồ 16 do gia đình bà Lê Thị Xuân O đang quản lý sử dụng; Phía Nam giáp thửa đất số 40 tờ bản đồ số 16 do gia đình ông Lê Hồng T2 đang quản lý sử dụng; Phía Bắc giáp ngõ đi chung do UBND xã quản lý (liền kề với thửa đất số 39 tờ bản đồ số 16 do gia đình bà Lưu Thị B1 đang quản lý sử dụng).

Tháng 7/2003, ông T đã làm hồ sơ kê khai xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất tại thửa đất số 40, tờ bản đồ 16, diện tích 122m² với tên đăng ký là Nguyễn Văn T6. Mặc dù Biên bản xác định ranh giới hiện trạng thửa đất ngày 16/7/2003 không đủ chữ ký của các chủ sử dụng đất liền kề, tuy nhiên, gia đình ông T6 đã sử dụng thửa đất ổn định từ trước năm 1993, sau đó được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 1993, không có tranh chấp gì.

Ngày 23/10/2003, UBND huyện T, Hà Nội cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 881875 cho thửa đất số 40, tờ bản đồ số 16 xã H, diện tích 122m² mang tên ông Nguyễn Văn T6.

Đối với phần diện tích đất chênh lệch giảm 11m² giữa hệ bản đồ năm 1986 theo Chỉ thị 299/TTg và hệ bản đồ đo đạc năm 1994, ông T6 có lời khai là đã được cán bộ địa chính giải thích là do sai số đo đạc giữa các hệ bản đồ. Ông T6 cũng không có ý kiến gì về phần diện tích đất bị giảm.

Ngày 28/5/2020, Văn phòng Đ chi nhánh huyện T đã thực hiện: Đính chính trang 02 trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 881875: “Tên đệm “Văn” đổi lại là “T9” theo chứng minh thư, hộ khẩu và tờ trình số 31/TTr- UBND ngày 30/9/2009 của UBND xã H: Nguyễn Thanh T”; Cấp lại sơ đồ thửa đất theo Biên bản kiểm tra ngày 27/05/2020 của Chi nhánh văn phòng Đăng ký đất đai huyện T.

[2.2]. Về nguồn gốc thửa đất và việc cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2, bà N:

Ông Lê H3 có thửa đất ao, vườn sử dụng ổn định trước ngày 15/10/1993.

Ngày 04/01/2001, ông Lê H3 đã có văn bản “Giấy xác nhận quyền sử dụng đất thổ cư” với nội dung đề nghị UBND xã xác nhận ông được quyền, sử dụng thửa đất số 539, diện tích 96m² và phần còn lại của thửa 538, diện tích 300m² theo bản đồ 1939. Ông H3 đã được cán bộ địa chính, UBND xã H xác nhận ngày 09/01/2001 với nội dung: xác nhận ông H3 được quyền quản lý và sử dụng 396m² đất thổ cư thuộc thửa số 30, tờ bản đồ 16 theo bản đồ hiện trạng năm 1994.

Ngày 05/11/2001, ông H3 và vợ là bà Lê Thị L2 đã chuyển nhượng 150m² đất cho ông T2, bà N. Việc chuyển nhượng giữa các bên được lập thành văn bản là “Giấy chuyển quyền sử dụng đất thổ cư”, có nội dung: 150m² đất thuộc thửa đất số 539 và phần còn lại thửa 538 (bản đồ 1939). Ngay sau đó vài ngày vợ chồng

ông H3 còn chuyển nhượng cho gia đình ông T2, bà N 4m² đất, phần tiếp giáp với nhà thờ họ Lê.

Theo cung cấp của UBND xã H:

Theo bản đồ đo năm 1986 thì diện tích 153m² đất gia đình ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N nhận chuyển nhượng từ gia đình ông Lê H3 và bà Lê Thị L2 là toàn bộ diện tích đất thuộc thửa đất số 30 tờ bản đồ số 01 xã H và một phần diện tích đất thuộc thửa đất số 31 tờ bản đồ số 01 xã H.

Theo hệ bản đồ đo năm 1994 thì diện tích 153m² gia đình ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N quản lý sử dụng thuộc một phần diện tích thửa đất số 30 tờ bản đồ số 16 xã H, T, Hà Nội.

Như vậy, nhận thấy:

Theo bản đồ năm 1939 thì giữa 02 diện tích đất của ông T, bà C và ông T2, bà N có 01 lối đi chung. Nhưng sau khi Thủ Tướng Chính phủ nước C4 có Chỉ thị số 229/TTg ngày 10/11/1980 về công tác đo đạc, phân hạng và đăng ký ruộng đất trong cả nước thì Chính quyền địa phương xã H đã tiến hành đo đạc, kiểm đếm và thiết lập hệ bản đồ 1986. Tại hệ bản đồ này, diện tích thửa đất nhà ông T và nhà ông T2 hiện nay đã không còn lối đi chung nữa mà là 02 mảnh đất liền kề nhau. Đến năm 1994, UBND xã H tiếp tục thực hiện công tác đo đạc kiểm đếm, đăng ký biến động đất thì đều thể hiện thửa đất ông T hiện nay thuộc thửa đất số 40, tờ bản đồ 16, diện tích 122m² và thửa đất ông T2 hiện nay thuộc thửa đất số 30, tờ bản đồ 16, diện tích 153m², hai thửa đất này liền kề nhau và giữa 02 thửa đất không có lối đi chung. Việc xác lập hệ bản đồ năm 1986 và năm 1994, các chủ sử dụng đất đều không có ý kiến gì. Năm 1993 ông T được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên cơ sở bản đồ 1986, ông H3 và bà L2 là những người đang trực tiếp quản lý, sử dụng đất tại thửa đất số 30, tờ bản đồ 16 liền kề không có tranh chấp, ý kiến gì.

Năm 2001, khi ông H3 và bà L2 lập “Giấy chuyển quyền sử dụng đất thổ cư” ngày 05/01/2001 cho vợ chồng ông T2, bà N, lúc này, ông H3 và bà L2 đã được UBND xã H xác nhận trong “Giấy xác nhận quyền sử dụng đất thổ cư” của ông H3 về việc ông H3 được quyền quản lý và sử dụng 396m2 đất thổ cư thuộc thửa số 30, tờ bản đồ 16 theo bản đồ hiện trạng năm 1994 tức là giữa đất nhà ông H3 và đất nhà ông T không có lối đi chung, tuy nhiên, ông H3 lại giao cho ông T2, bà N sơ đồ kèm theo giấy chuyển nhượng thể hiện có 02 ngõ đi chung, trong đó có 01 ngõ đi chung với thửa đất của gia đình ông Nguyễn Thanh T. Giấy chuyển nhượng này mặc dù có xác nhận của UBND xã H, nhưng nội dung xác nhận là chỉ xác nhận chữ ký của vợ chồng ông H3 và hai con, không xác nhận về sơ đồ thửa đất do các bên tự đo vẽ.

Về phía ông T2, bà N cũng xác nhận khi ông bà nhận chuyển nhượng từ vợ chồng ông Lê H3 thì chỉ giao dịch trên cơ sở thông tin thửa đất do ông Lê H3 cung cấp và xem xét thực tế hiện trạng thửa đất. Ông T2, bà N không làm việc với cán bộ địa chính xã cũng như UBND xã H để xác định diện tích đất mua bán theo bản đồ hiện

trạng lúc đó là thửa đất số bao nhiêu, tờ bản đồ số bao nhiêu. Đến nay ông T2, bà N mới biết thửa đất ông T2, bà N nhận chuyển nhượng của vợ chồng ông Lê H3 là thửa đất số 30 tờ bản đồ số 16 đo đạc năm 1994, theo bản đồ thì thửa đất nhà ông bà và thửa đất nhà ông T (Thửa đất số 40, tờ bản đồ số 16 đo đạc năm 1994) là giáp với nhau không có ngõ đi chung giữa hai thửa đất.

Theo lời khai của ông T2, bà N, từ khi nhận chuyển nhượng đất từ vợ chồng ông Lê H3, ông bà đã đổ đất trên phần diện tích đất mà ông bà cho rằng là ngõ đi giữa nhà ông bà và nhà ông T. Năm 2002, ông bà tiếp tục đổ bê tông, làm cống thoát nước trên phần diện tích đất này, bà T4 là chị dâu ông T quản lý đất cho ông T có chứng kiến việc làm ngõ nhưng không có ý kiến gì.

Tháng 4/2019 gia đình ông T2, bà N đã xây nhà trên thửa đất số 30-8, tờ bản đồ 16. Do quá trình xây dựng làm sụt lún ngõ đi nên gia đình ông T2, bà N đổ bê tông trùm lên phía trên ngõ đi cũ. Trong thời gian ông T2, bà N xây nhà và sửa chữa ngõ đi, không có ai có ý kiên gì.

Quá trình giải quyết vụ án, ông T2, bà N đã có đơn đề nghị Tòa án mời người làm chứng là: ông Lê Đình Q, ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị Thanh H. Các ông bà đều có lời khai về việc có lối đi từ đường chính ven làng vào hết thửa đất nhà ông T2. Gia đình ông D, bà H cùng gia đình ông T2, bà N tôn tạo ngõ đi, nhưng ông D, bà H chỉ sử dụng, tôn tạo phần ngõ đi bên ngoài, không liên quan đến phần diện tích đất các bên đang tranh chấp nên Tòa án không đưa các ông bà tham gia tố tụng với tư cách người có quyền, nghĩa vụ liên quan.

Ông T cũng cung cấp lời khai của những người làm chứng là bà Lưu Thị B1, ông Nguyễn Đắc T10 và bà Nguyễn Thị V. Bà V là chị dâu của ông T nên lời chứng của bà V không khách quan, không được Tòa án chấp nhận. Đối với lời khai của bà B1, ông T10 đều khẳng định thửa đất của gia đình ông T chỉ có một ngõ đi theo bản đồ 1986, 1994.

Như vậy, những người làm chứng đều là hàng xóm của nguyên đơn, bị đơn nhưng lại có lời khai khác nhau về quá trình sử dụng phần diện tích đất tranh chấp nên cân xem xét các tài liệu, chứng cứ khác.

Kể từ khi nhận chuyển nhượng đất, ông T2, bà N vẫn cho rằng có ngõ đi giữa thửa đất của gia đình mình và thửa đất của ông T, nên ông T2, bà N vẫn sử dụng phần diện tích đất này làm lối đi. Ông T không trực tiếp quản lý, giữ gìn thửa đất nên các bên không xảy ra tranh chấp tại thời điểm đó. Vì vậy, mặc dù không ai có ý kiến khi ông T2, bà N sử dụng phần diện tích đất này làm lối đi, nhưng đây không phải là căn cứ xác định phần diện tích đất này là ngõ đi chung.

Như vậy, từ những nhận định trên đủ cơ sở xác định, diện tích đất nhà ông T, bà C và diện tích đất nhà ông T2, bà N đang sử dụng hiện nay là liền kề nhau, giữa 02 thửa đất không có lối đi chung. Trước kia có thể có lối đi chung theo bản đồ năm 1939, nhưng sau khi nhà nước có chính sách đo đạc, kiểm đếm, đăng ký sử dụng đất từ năm 1980 thì đến năm 1986 cho đến nay, giữa 02 thửa đất trên đã không còn thể hiện trên bản đồ địa chính là có lối đi chung nữa.

[2.3]. Về phần diện tích đất tranh chấp:

Ngày 15/4/2021, Tòa án nhân dân huyện Thanh Trì đã tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với phần diện tích đất tranh chấp. Phần diện tích đất này được thể hiện tại Sơ đồ hiện trạng nhà đất do Công ty TNHH Đ1 đo đạc thực tế.

Ngày 27/5/2022, Công ty TNHH Đ1 đã cung cấp sơ đồ hiện trạng nhà đất chồng ghép lên bản đồ năm 1994 trên cơ sở bản đồ 1994 do UBND xã cung cấp cho công ty. Sơ đồ chồng ghép thể hiện: Diện tích đất nhà ông T thuộc thửa đất số

40, tờ bản đồ số 16 tại Thôn H, xã H, huyện T, TP Hà Nội, đo theo hiện trạng có diện tích 116,4m² bao gồm các điểm từ: 1,2,13,12,4,5,16,15,7,8,14,10,11,1 trong đó bao gồm cả phần diện tích ngõ đi bê tông gia đình ông T2 đang sử dụng có diện tích 15,5m² thuộc thửa đất số 40, tờ bản đồ 16. Trên phần ngõ đi bê tông, ngôi nhà 7 tầng của ông T2, bà N có phần ô văng đua ra không gian ngõ đi có diện tích 4,4m². Đối chiếu với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T và bản đồ năm 1994 và hiện trạng đo vẽ thì diện tích đất nhà ông T còn bị nhà bà O liền kề lấn sang 5m², nhà ông D liền kề lấn sang 0,5m². Nhà ông T lấn sang nhà thờ họ Lê 1,4m² và nhà thờ họ Lê lấn sang nhà ông T 1,9m². Tổng cộng tất cả các diện tích đo vẽ hiện trạng và diện tích đất bị chồng lấn thì diện tích thửa đất nhà ông T theo đo đạc là 122,4m² là phù hợp với Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 881875 cấp ngày 23/10/2003 của UBND huyện T và Sơ đồ thửa đất kèm theo cấp ngày 28/5/2020 của Giám đốc Văn phòng Đ – Chi nhánh huyện T cho ông Nguyễn Văn T6.

Do vậy, Hội đồng xét xử xác định phần diện tích đất 15,5m² hiện đang tranh chấp giữa các bên là thuộc thửa đất số 40, tờ bản đồ 16 tại thôn H, xã H, huyện T, Hà Nội thuộc quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh T. Thửa đất này đã được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông Nguyễn Thanh T ngày 23/10/2003 và sơ đồ thửa đất ngày 28/5/2020 kèm theo là đúng trình tự, thủ tục; sơ đồ, kích thước thửa đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp với bản đồ đo đạc năm 1986, 1994, phù hợp với các quy định tại Điều 106 Luật Đất đai năm 2013; khoản 7, Điều 18 Thông tư số 23/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014; khoản 6, Điều 9 và khoản 3, Điều 10, Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ T12; Điều 24, Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 12/2017/QĐ-UBND ngày 31/3/2017 của UBND thành phố H.

Hiện nay, trên phần đất có diện tích 15,5m² của ông T đã được ông T2 đổ bê tông làm đường đi và phần không gian của ngõ có phần ô văng ngôi nhà 7 tầng của ông T2 đưa ra. Theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cấp cho ông T2, bà N và hiện trạng đang sử dụng thì diện tích đất nhà ông T2 ngoài diện tích đất đang tranh chấp thì vẫn còn 01 ngõ đi khác vào thửa đất. Do vậy, căn cứ Điều 158, 163, 164, 166, 174, 175, 176 Bộ luật Dân sự 2015, Hội đồng xét xử sơ thẩm chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc ông T2, bà N phải trả lại phần diện tích đất 15,5m² hiện dùng làm đường đi cho ông T, bà C (giới hạn bởi các điểm 12, 13, 14, 15, 5, 4, 3 theo sơ đồ hiện trạng nhà đất chồng ghép lên bản đồ năm 1994). Buộc ông T2, bà N phải dỡ bỏ công trình xây dựng là phần đổ bê tông trên phần diện tích đất và phần mái ô văng các tầng của nhà 7 tầng có diện tích mỗi ô văng 4,4m² thuộc một phần thửa đất số 40, tờ bản đồ 16 để trả lại quyền sử dụng đất cho ông T2, bà N là có căn cứ.

Đối với các phần diện tích đất nhà ông T lấn sang nhà thờ họ Lê 1,4m²; nhà thờ họ Lê lấn sang nhà ông T 1,9m²; nhà ông D lấn sang nhà ông T 0,5m²; nhà bà O lấn sang nhà ông T 5m², hiện nay ông T không tranh chấp, không có ý kiến gì nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4]. Về yêu cầu khởi kiện bổ sung của nguyên đơn và yêu cầu phản tố của bị đơn:

[2.4.1]. Đối với yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông T, bà C về việc yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2, bà N:

Như đã nêu trên, do không kiểm tra hồ sơ địa chính tại UBND xã, nên khi nhận chuyển nhượng đất từ vợ chồng ông H3, ông T2 và bà N đã cho rằng có ngõ đi giữa thửa đất nhà ông H3 và thửa đất nhà ông T. Đồng thời, do ông T không trực tiếp, thường xuyên quản lý đất, không rào đất, xây tường bao nên đã để hiện trạng phần diện tích đất thuộc giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình trở thành lối đi. Dẫn đến việc ông T2, bà N khi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, đã cung cấp cho Văn phòng Đ chi nhánh huyện T bản đo vẽ ngày 27/01/2015 thể hiện có 2 ngõ đi. Ngày 12/5/2017, UBND xã H đã lập Biên bản kiểm tra hiện trạng sử dụng đất thửa đất tại thửa đất số 30-8, tờ bản đồ số 16. Biên bản này không thể hiện về lối đi vào thửa đất cũng như chủ sử dụng đất liền kề là ông T. Ngày 15/5/2017, UBND xã H đã trích sao từ bản đồ năm 1994 “Sơ đồ thửa đất” đối với thửa đất số 30-8, tờ bản đồ số 16 thể hiện thửa đất chỉ có 01 ngõ đi chung (không có ngõ đi chung giáp với thửa đất của ông Nguyễn Thanh T). Tuy nhiên, sau đó, ngày 14/9/2017, UBND huyện T đã cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CK 064686 cho ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N được quyền sử dụng 153m² đất tại thửa đất số 30-8, tờ bản đồ số 16, sơ đồ thửa đất trong giấy chứng nhận thể hiện thửa đất có 02 ngõ đi chung trong đó có 01 phần ngõ đi chung giáp với thửa đất của gia đình ông Nguyễn Thanh T.

Nhận thấy: Sơ đồ thửa đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất trên là không phù hợp với bản đồ đo đạc năm 1986, 1994. Phần ngõ đi có cạnh dài 9,2m theo sơ đồ này thực tế là phần diện tích đất thuộc thửa đất số 40, tờ bản đồ 16. Tại Bản án này cũng đã xác định phần ngõ đi giữa thửa đất nhà ông T và thửa đất nhà ông T2 hiện nay trong sơ đồ kèm theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2 là thuộc thửa đất số 40, tờ bản đồ 16 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông T. Tuy nhiên phần sơ đồ này trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2 cũng không thể hiện trong phần chứng nhận về quyền sử dụng đất chung hay riêng của ông T2 mà chỉ thể hiện trên phần vẽ sơ đồ nên việc xác định phần diện tích đang tranh chấp này thuộc thửa đất số 40, tờ bản đồ 16 đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất mang tên ông T cũng không làm thay đổi nội dung quyết định cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2, do vậy không cần thiết phải hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T2 mà chỉ cần đính chính lại phần sơ đồ thửa đất trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Bởi lẽ trên, kiến nghị cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đính chính sơ đồ thửa đất số 30-8, tờ bản đồ 16 về phần ngõ đi giáp cạnh phía đông bắc dài 9,2m trong Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện T cấp ngày 14/9/2017 cho ông T2, bà N để phù hợp với quyết định của bản án đã có hiệu lực pháp luật của Tòa án.

[2.4.2]. Đối với yêu cầu phản tố của ông T2 và bà N, xét thấy:

Hội đồng xét xử đã xác định phần diện tích đất 15,5m² hiện đang tranh chấp giữa các bên là thuộc thửa đất số 40, tờ bản đồ 16 tại thôn H, xã H, huyện T, Hà Nội thuộc quyền sử dụng đất của ông Nguyễn Thanh T nên đã chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Thanh T và bà Lê Thị C nên yêu cầu phản tố của ông

T2 và bà N về việc xác định phần diện tích đất tranh chấp là ngõ đi chung không được chấp nhận.

Do yêu cầu khởi kiện của ông T, bà C đã được chấp nhận và Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số W 881875 cấp ngày 23/10/2003 của UBND huyện T và Sơ đồ thửa đất kèm theo cấp ngày 28/5/2020 của Giám đốc Văn phòng Đ – Chi nhánh huyện T cho ông Nguyễn Văn T6 đã được Hội đồng xét xử xác định là phù hợp với bản đồ đo đạc năm 1986, 1994 và đúng với quy định của pháp luật nên không chấp nhận yêu cầu phản tố của ông T2 và bà N về việc hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất 40, tờ bản đồ 16 do UBND huyện T cấp cho ông Nguyễn Thanh T ngày 23/10/2003 và sơ đồ thửa đất ngày 28/5/2020 kèm theo.

[3]. Với những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy các quyết định tại bản án số 101/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội là phù hợp, có căn cứ pháp luật, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự.

Quá trình xét xử phúc thẩm, người kháng cáo không đưa ra được các tài liệu chứng cứ nào mới làm thay đổi bản chất, nội dung vụ án; quan điểm của người kháng cáo và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp không phù hợp với nhận định của HĐXX nên không được chấp nhận.

Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

Từ những nhận định trên HĐXX căn cứ khoản 1, Điều 308-Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của các đương sự. Giữ nguyên các quyết định của bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.

[4].Về án phí phúc thẩm: Các đương sự có kháng cáo không được chấp nhận phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1, Điều 29- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:

  1. Bác kháng cáo bị đơn ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N.

Giữ nguyên các quyết định của Bản án dân sự sơ thẩm số 101/2024/DS-ST ngày 06 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội

  1. Về án phí dân sự phúc thẩm: ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N mỗi người phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí nhưng được đối trừ vào số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí ông T2 và bà N mỗi người đã nộp tại các biên lai số 0023791 ngày 20/9/2024 và biên lai số 0023792 ngày 19/9/2024 đều của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội. Xác nhận ông Lê Hồng T2 và bà Nguyễn Thị Minh N đều đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
  2. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSNDCC tại Hà Nội;
  • - TAND thành phố Hà Nội;
  • - VKSND thành phố Hà Nội;
  • - Cục THA dân sự thành phố Hà Nội;
  • - Các đương sự (theo địa chỉ).
  • - Lưu HS, HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẢM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Ong Thân Thắng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2025/DS-PT ngày 18/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 119/2025/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất, yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 18/03/2025
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bác kháng cáo Y án sơ thẩm
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger