TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG Bản án số: 119/2025/DS-PT Ngày 03-3-2025 V/v tranh chấp quyền sử dụng đất | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: | Bà Đinh Thị Mộng Tuyết |
| Các Thẩm phán: | Ông Nguyễn Trung Dũng |
| Ông Nguyễn Văn Tài | |
| Thư ký phiên tòa: | Bà Lê Thị Hoa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương. |
| Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: | Ông Trần Đức Thoại – Kiểm sát viên. |
Ngày 03 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 755/2024/TLPT-DS ngày 18 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2025/DS-ST ngày 08 tháng 7 năm 2025 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 64/2024/QĐ-PT ngày 10 tháng 02 năm 2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ông Lê Văn T, sinh năm 1971; địa chỉ: tổ D, khu phố A, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn:
- Ông Thái Thanh H, sinh năm 1979; địa chỉ: tổ B, khu phố A, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Ông Bùi Tấn Đ, sinh năm 1997; địa chỉ: tổ A, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Ông H và ông Đ là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 10/8/2022); ông H có mặt, ông Đ vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn: Ông Lê Thành D - Luật sư Văn phòng L1 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh B, vắng mặt.
- Bị đơn: Ông Trần Văn T1, sinh năm 1968; địa chỉ: số A đường N, tổ A, khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1976; địa chỉ: tổ B, khu phố C, phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người đại diện hợp pháp của bà Nguyễn Thị H1:
- Ông Thái Thanh H, sinh năm 1979; địa chỉ: tổ B, khu phố A, phường U, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Ông Bùi Tấn Đ, sinh năm 1997; địa chỉ: tổ A, khu phố C, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương,
Ông H2 và ông Đ là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 29/11/2022); ông H2 có mặt, ông Đ vắng mặt.
- Bà Phạm Thị Mai A, sinh năm 1970, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Trần Minh L, sinh năm 1988, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Ông Trần Minh T2, sinh năm 1990, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
- Bà Trần Thị Mộng T3, sinh năm 1993, có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Cùng địa chỉ: số A đường N, tổ A, khu phố B, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Người kháng cáo: nguyên đơn Lê Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Nguyên đơn ông Lê Văn T trình bày:
Ông Lê Văn T là chủ sử dụng hợp pháp phần đất có diện tích khoảng 22.859,0m² thuộc các thửa đất số 38, 283, tờ bản đồ số 41 tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (sau đây viết tắt là GCNQSDĐ) số bìa AO 922451, số vào sổ cấp GCN: H 02240 do Ủy ban nhân dân (sau đây viết tắt là UBND) huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp cho vợ chồng bà Nguyễn Thị H1, ông Lê Văn T vào ngày 19/10/2009. Phần đất này đã có ranh giới rõ ràng, có lập hàng rào là các trụ bê tông với các phần đất liền kề, do vợ chồng ông T là người trực tiếp quản lý, sử dụng phần đất nêu trên, không có tranh chấp với bất kỳ ai. Hiện nay, trên toàn bộ phần đất nêu trên vợ chồng ông T đã trồng cao su và đang khai thác mủ.
Trong quá trình quản lý, sử dụng đất, vào năm 2002, do cột mốc ranh đất giữa thửa đất số 38, tờ bản đồ số 41 của ông T và thửa đất số 41 của ông T1 bị hư hỏng nên ông T và phía ông T1 đã thoả thuận với nhau phục hồi trụ mốc ranh đất. Theo đó, ông T đã đổ trụ bê tông, tôn tạo lại các cột mốc ranh đúng thoả thuận giữa hai bên (hiện nay các trụ mốc phân ranh nêu trên vẫn còn hiện hữu trên đất). Đến năm 2017, gia đình ông T tiếp tục phục hồi, tôn tạo lại ranh đất nêu trên lần nữa dựa trên cơ sở các trụ mốc đã thống nhất từ năm 2002 và cũng có sự chứng kiến của ông T1.
Vào ngày 08/12/2021, ông T nộp hồ sơ tại Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T, yêu cầu đo đạc lại diện tích thực tế đất của ông T tại hai thửa đất 38, 283. Đến ngày 27/12/2021, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T đã phối hợp cùng đại diện UBND phường V và ông T tiến hành khảo sát mốc giới và thực hiện thủ tục đo đạc thửa đất số 38, 283. Trong quá trình thực hiện, chủ sử dụng đất liền kề là ông T1 không thống nhất ranh giới thửa đất với ông T mặc dù phần đất giữa ông T và đất ông T1 đã có cột mốc ranh giới rõ ràng và tồn tại tính đến nay đã hơn 20 năm. Do ông Trần Văn T1 không thống nhất ranh giới đất nên Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T không thể hoàn tất thủ tục ban hành số liệu đo đạc thực tế hai thửa đất nêu trên theo yêu cầu của ông T được.
Ngày 12/01/2022, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T ban hành Công văn số 88/CNTU/KT về việc giải quyết hồ sơ xin đo đạc đất trên thực tế của ông T tại thửa đất số 38, 283. Theo đó, Chi nhánh thông báo trả lại hồ sơ của ông T với lý do ông Trần Văn T1 (chủ sử dụng thửa đất số 41) có tranh chấp ranh đất với ông T. Chi nhánh đề nghị ông T liên hệ UBND phường V để được giải quyết.
Trên diện tích đất mà ông Trần Văn T1 yêu cầu vợ chồng ông T phải dời cột mốc vào thì vợ chồng ông T đã trồng phủ kín khoảng 100 cây cao su vào năm 2002, hiện nay ông T đang khai thác mủ. Nhận thấy ông T1 không đồng ý xác định ranh đất đã tồn tại từ lâu là xâm phạm nghiêm trọng đến quyền, lợi ích hợp pháp của ông T, qua hòa giải tranh chấp quyền sử dụng đất tại UBND phường V không thành.
Nguyên đơn thống nhất với kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc, định giá, không có ý kiến gì khác. Ông T khởi kiện ông Trần Văn T1, yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau đây:
- Yêu cầu xác định ranh đất giữa thửa đất số 38, tờ bản đồ số 41 do ông Lê Văn T quản lý, sử dụng và thửa đất số 41, tờ bản đồ số 41 do ông Trần Văn T1 quản lý, sử dụng là hàng 16 trụ bê tông (tương ứng với các điểm mốc 17-18-19-20-21-22-23-24-25-26 do nguyên đơn xác định, tương ứng với các điểm mốc 6-7-8-9-10-11-12-13-14-15 của phần đất tranh chấp trên Mảnh trích lục địa chính số 3/2023) do ông Lê Văn T xây dựng tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Yêu cầu công nhận ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H1 là chủ sử dụng hợp pháp đối với phần đất diện tích 1.562,4m² tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Yêu cầu công nhận ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H1 là chủ sở hữu đối với 79 cây cao su trên phần đất tranh chấp nêu trên.
Việc chỉnh giảm diện tích GCNQSDĐ với diện tích 1.378m² vào năm 2008 với căn cứ là theo Biên bản số 290/BB-VP ngày 04/3/2008 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T là không đúng. Bởi vì, ông T không có yêu cầu chỉnh giảm diện tích đất trên GCNQSDĐ của ông T. Việc chỉnh giảm diện tích đất do Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T tự thực hiện mà không có sự đồng ý của ông T. Việc ông T ký trên Biên bản trích đo bản đồ địa chính ngày 04/3/2008 chỉ là ký với tư cách là chủ sử dụng đất giáp ranh (thửa đất số 38), bà H1 là đồng chủ sử dụng đất cũng không có ký tên. Ông T, bà H1 cũng không ký tên xác nhận, đồng ý với nội dung của Biên bản số 290/BB-VP ngày 04/3/2008 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T. Do ông T không hiểu về thủ tục hành chính, bản đồ địa chính nên không phát hiện việc chỉnh giảm diện tích 1.378m² đất nêu trên sai hiện trạng sử dụng đất, sai pháp luật nên chưa có ý kiến. Đến năm 2021 ông T yêu cầu làm thủ tục đo đạc lại đất theo hiện trạng sử dụng đất thì ông T1 không đồng ý ký giáp ranh nên ông T mới phát hiện và đi khởi kiện. Do đó, đối với ý kiến của ông T1 về việc ông T đã ký trả lại ông T1 diện tích đất 1.378m² là không đúng. Đối với phần đất được điều chỉnh giảm là 1.378m² vẫn chưa được UBND huyện (nay là thành phố) Tân Uyên cấp GCNQSDĐ cho ông Trần Văn T1 hay ai khác và hiện trạng vẫn do ông T đang quản lý, sử dụng trồng 79 cây cao su từ năm 2003 đến nay.
- Bị đơn ông Trần Văn T1 trình bày:
Ông Trần Văn T1 là chủ sử dụng thửa đất số 41, giáp ranh với thửa 38 của ông Lê Văn T và vợ là bà Nguyễn Thị H1 đứng tên sử dụng. Nguồn gốc phần đất của ông T1 là đất rừng khai phá, vào năm 1997, ông T1 có thuê máy ủi để ủi rừng để trồng trọt, trong khi ủi đất thì ông T1 có chừa lại bờ đất khoảng 5m nằm kế bên thửa đất số 38 của ông T và bà H1. Thời điểm năm 2000, đất của ông T và bà H1 đang trồng cây điều, đến năm 2003 ông T và bà H1 chặt bỏ điều cày đất lại và trồng cây cao su. Đến năm 2005, ông T1 phát hiện ra việc ông T đã ủi phẳng bờ đất và trồng cao su, đến năm 2006, ông T1 tiến hành trồng cây cao su như hiện nay.
Đầu năm 2005, ông T1 thuê máy cày lại phần đất thì phát hiện phần ranh đất có bờ đất bị lấn chiếm và ông T1 có gặp ông T để nói chuyện phần ranh đất.
Sau đó, ông T1 và ông T đã có cãi nhau và xô sát tại phần đất này. Ông T kêu đến một nhóm khoảng 7-8 người đến cầm cây, cầm gậy hành hung và đuổi đánh ông T1, ông T1 thấy bên ông T người đông thế mạnh, ông T1 không dám nói gì nữa rồi bỏ đi về. Do bận làm ăn nên ông T1 không đi kiện ông T, ông T1 nghĩ đất mình đã có sổ đỏ rồi không ai lấy được nên không tranh chấp nữa.
Năm 2008, ông T1 yêu cầu đo đạc lại diện tích thửa đất số 41, 43 của ông T1 thì xác định được phần đất diện tích 1.378m² do ông T1 quản lý, sử dụng nhưng đã cấp sổ cho ông T. Do đó, cơ quan đo đạc đã lập Biên bản số 290/BB-VP ngày 04/3/2008 xác định hiện trạng phần đất ông T1 đang quản lý, sử dụng với diện tích 1.378m² đã được cấp GCNQSDĐ cho ông T. Ông T đã ký trên biên bản thống nhất nội dung. Đến năm 2009, ông T đã chỉnh lý giảm diện tích 1.378m² thửa đất số 38 đã ký trả lại cho ông T1. Tuy nhiên, thời điểm đó sổ đỏ của ông T1 đang thế chấp để chăm sóc cây, ông T1 thiết nghĩ đã ký trả lại cho ông T1 rồi nên ông T1 không đi chỉnh lý. Đối với các cây cao su ông T đã trồng thì ông T xin ông T1 cho tiếp tục chăm sóc, khai thác khi nào ông T1 cần thì sẽ cắt cây cao su để trả lại. Sau đó, ông T tự ý cắm ranh mốc trên phần đất mà không có ý kiến của ông T1, ông T1 đã nhiều lần nhổ bỏ các trụ mốc do ông T tự làm, nhân thời gian ông T1 không có mặt tại đất thì ông T đã làm các trụ mốc như hiện nay. Ông T1 xác định các trụ mốc này do ông T tự ý xây dựng không có ý kiến của ông T1 nên không phải là ranh giới giữa hai phần đất. Cho đến ngày 27/12/2021, ông T1 được cán bộ đo đạc Trần trọng N đến nhà thông báo là lúc trước ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H1 có ký trả lại phần đất diện tích 1.378m², hiện nay ông T, bà H1 yêu cầu lấy diện tích 1.378m² cán bộ đo đạc Trần Trọng N hỏi ý kiến ông T1 thì ông T1 không đồng ý với ranh do ông T tự cắm mốc. Do đó, ông T1 không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của ông T.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 trình bày:
Thống nhất ý kiến của nguyên đơn, không có ý kiến gì khác.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Minh L trình bày:
Ông L thống nhất với ý kiến của bị đơn. Tại Biên bản số 290/BB-VP ngày 04/3/2008 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T thể hiện nội dung phần số 2 do ông T1 đang quản lý, sử dụng, ông T cũng ký xác nhận thống nhất nên biên bản này có hiệu lực. Năm 2009 thì ông T cũng đã làm thủ tục chỉnh giảm diện tích 1.378m² khỏi GCNQSDĐ trả lại đất cho ông T1. Ông T xin giữ lại các cây cao su đã trồng trên đất đến khi nào ông T1 có nhu cầu sử dụng đất thì sẽ cắt cây cao su. Ông T1 đồng ý nên mới để các cây cao su trên đất cho đến nay.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Mai A, ông Trần Minh T2, bà Trần Thị Mộng T3 thống nhất trình bày: Thống nhất ý kiến của bị đơn ông Trần Văn T1.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2024/DS-ST ngày 08/7/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương đã quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn T đối với bị đơn ông Trần Văn T1 về việc công nhận ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H1 là chủ sở hữu đối với 79 cây cao su trên phần đất diện tích 1.562,4m² thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 41, toạ lạc tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn T đối với bị đơn ông Trần Văn T1 về việc công nhận ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H1 được quyền sử dụng phần đất diện tích 1.562,4m² thuộc thửa đất số 38, tờ bản đồ số 41, toạ lạc tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương và xác định ranh đất giữa thửa đất số 38, tờ bản đồ số 41 do ông Lê Văn T quản lý, sử dụng và thửa đất số 41 do ông Trần Văn T1 quản lý, sử dụng là hàng 16 trụ bê tông (tương ứng với các điểm mốc 17-18-19-20-21-22-23-24-25-26 do nguyên đơn xác định, tương ứng với các điểm mốc 6-7-8-9-10-11-12-13-14-15 của phần đất tranh chấp trên Mảnh trích lục địa chính số 3/2023) toạ lạc tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
Ngoài ra, bản án còn quyết định về án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 19/7/2024 nguyên đơn ông Lê Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa, người đại diện hợp pháp của nguyên đơn ông T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H1 vẫn giữ yêu cầu kháng cáo. Bị đơn ông Trần Văn T1 và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan gồm bà Phạm Thị Mai A, ông Trần Minh L, ông Trần Minh T2, bà Trần Thị Mộng T3 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp nguyên đơn ông T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H1 đề nghị Hội đồng xét xử xem xét 04 lý do kháng cáo, cụ thể:
Tòa án cấp sơ thẩm công nhận tài sản 79 cây cao su trên đất là của nguyên đơn nhưng lại không công nhận đất cho ông T, bà H1 là có mâu thuẫn; Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét đến nguồn gốc đất của ông T, bà H1 là do ông T và bà H1 nhận chuyển nhượng; Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét, đánh giá quá trình quản lý, sử dụng đất của ông T, bà H1; Tòa án cấp sơ thẩm không xem xét đến tình tiết tại sao ông T, bà H1 trồng cao su trên đất từ năm 2003 đến nay nhưng ông T1 không khiếu nại, tranh chấp, không khiếu nại gì liên quan đến việc cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bị đơn bị thiếu so với thực tế.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự tại Tòa án cấp phúc thẩm.
- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà H1, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Sau khi nghiên cứu tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, lời trình bày của các đương sự, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn ông Trần Văn T1 và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Mai A, ông Trần Minh L, ông Trần Minh T2, bà Trần Thị Mộng T3 có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự trên quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Trong quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm, người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn ông Lê Văn T là ông Bùi Tấn Đ có đơn yêu cầu ông Lê Thành D, là Luật sư Văn phòng Luật sư Thái Thanh H là người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn. Tại phiên tòa phúc thẩm, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn vắng mặt, người đại diện hợp pháp cho nguyên đơn là Thái Thanh H đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Luật sư D, ông H sẽ tự mình trình bày và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử ghi nhận, tiến hành xét xử vắng mặt người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
[2] Nguyên đơn ông T khởi kiện yêu cầu xác định ranh đất giữa thửa đất số 38, tờ bản đồ 41 tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương của nguyên đơn và thửa đất số 41, tờ bản đồ số 41 tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương của ông Trần Văn T1 là 16 trụ bê tông (tương ứng với các điểm mốc 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25) do ông Lê Văn T cấm mốc tương ứng với các điểm mốc 6,7, 8, 9 ,10, 11, 12, 13, 14, 15 tại Mảnh trích lục địa chính ngày 28/02/2023; công nhận ông Lê Văn T, bà Nguyễn Thị H1 là chủ sử dụng hợp pháp đối với phần diện tích 1.562,4m² theo ranh giới xác định và công nhận tài sản 79 cây cao su trên phần đất tranh chấp là của ông T, bà H1. Như vậy, trong trường hợp này ông T tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền với ông T1 theo quy định tại Điều 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
[3] Theo Mảnh trích đo địa chính ngày 28/02/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh B thì phần diện tích tranh chấp là 1.562,4m². Nguyên đơn cho rằng, ranh giới giữa thửa 38 của nguyên đơn và thửa 41 của bị đơn là 16 trụ bê tông do nguyên đơn cấm tương ứng với các số hiệu đỉnh thửa 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 tại Mảnh trích lục địa chính ngày 28/02/2023. Bị đơn không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và xác định ranh giới giữa thửa 41 của bị đơn với thửa 38 của nguyên đơn là số hiệu đỉnh thửa 2, 3, 3, 5, 6, 7 tại Mảnh trích lục địa chính ngày 28/02/2023 và xác định ranh giới này đã được xác định từ năm 2008 theo Biên bản số 290/BB-VP ngày 04/3/2008 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T.
[4] Theo hồ sơ cung cấp thông tin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 38, 283, tờ bản đồ 41 của hộ bà Nguyễn Thị H1 thể hiện: Ngày 14/4/2003, UBND huyện T cấp GCNQSDĐ số W 247075 mang tên hộ bà Nguyễn Thị H1 với diện tích 24.237m², trong đó thửa 38 có diện tích là 19.232m², nguồn gốc đất do bà Nguyễn Thị H1, ông Lê Văn T nhận chuyển nhượng từ bà Huỳnh Thị H3 và ông Đặng Phước H4 theo hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 21/01/2002. Tại mục “Những thay đổi sau khi cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất” của Giấy chứng nhận nêu trên cập nhật biến động (bút lục 166) cụ thể như sau:
Ngày 16/12/2008 cập nhật nội dung “Căn cứ biên bản số 290/BB-VP v/v đo đạc và xác minh thực tế đất sử dụng. Nay chỉnh lý thửa 38 diện tích 17.854m² (giảm 1.378m²), Diện tích còn lại GCN 22.859m²” .
Ngày 05/10/2009 cập nhật nội dung “Căn cứ đơn xin điều chỉnh. Nội dung trang 2 GCN “hộ bà Nguyễn Thị H1 điều chỉnh là “bà Nguyễn Thị H1, chồng là ông Lê Văn T”.
Ngày 19/10/2009, bà Nguyễn Thị H1 cùng chồng là ông Lê Văn T được UBND huyện T cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ H02240 đối với diện tích 22.859m², trong đó thửa 38 có diện tích 17.854m².
[5] Như vậy, theo chứng cứ trên, chứng minh thửa 38 của ông T, bà H1 có sự điều chỉnh giảm diện tích 1.378m² theo Biên bản số 290/BB-VP v/v đo đạc và xác minh thực tế đất sử dụng ngày 04/3/2008. Trường hợp này, ranh giới thửa 38 của ông T, bà H1 đã được xác lập theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
[6] Theo kết quả công cấp thông tin của Phòng Tài nguyên và Môi trường thành phố T tại Công văn số 1442/PTNTM ngày 21/6/2024 và tại Biên bản xác minh ngày 14/11/2023; Công văn số 749/CNTU-KT ngày 27/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T thể hiện việc đo đạc và xác minh thực tế đất sử dụng vào năm 2008 trên cơ sở đơn xin đo đạc diện tích ngày 26/12/2007 của ông Trần Văn T1. Theo Biên bản số 290/BB-VP v/v đo đạc và xác minh thực tế đất sử dụng ngày 04/3/2008 của Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T thể hiện: “đo đạc xác minh thực tế thửa đất số 41, 43 tờ BĐ 41 tại xã V hiện trạng ông Trần Văn T1 đang sử dụng. Hiện trạng thực tế sai diện tích và hình thể so với bản đồ (biên bản kèm theo sơ đồ trích đo BĐĐC). Ranh giới thửa đất rõ ràng sử dụng ổn định không tranh chấp...DT 531m², 1378m², 136m², 692m², 981m², 1082m², 740m² tách từ thửa 282, 38, 24, 292, 291, 40, 49 hiện trạng ông T1 đang sử dụng”. Biên bản trích đo bản đồ địa chính ngày 04/3/2008 có đánh số từ 01-9 thể hiện phần diện tích đất bị đơn đang sử dụng và không sử dụng, trong đó nguyên đơn có ký tên xác nhận đối với phần đất mình đang quản lý, sử dụng. Theo trích đo bản đồ ngày 04/3/2008 thì diện tích 1.378m² tách từ thửa 38 của nguyên đơn hiện trạng bị đơn đang sử dụng. Căn cứ vào biên bản số 290/BB-VP v/v đo đạc và xác minh thực tế đất sử dụng ngày 04/3/2008, Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T đã có sự điều chỉnh giảm diện tích 1.378m² thuộc thửa 38. Giá trị của biên bản là để chỉnh lý diện tích sử dụng thực tế. Như vậy, có căn cứ xác định ranh giới giữa thửa 38 của ông T và thửa 41 của ông T1 được xác định theo Điều 265 của Bộ luật Dân sự năm 2005 trên cơ sở quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
[7] Nguyên đơn cho rằng do không hiểu biết về thủ tục hành chính nên không biết việc bị điều chỉnh giảm diện tích đất 1.378m² trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không đồng ý việc Văn phòng đăng ký quyền sử dụng đất huyện T điều chỉnh giảm diện tích là không có căn cứ. Bởi lẻ, nguyên đơn là người chứng kiến việc đo đạc và đồng ý ký tên vào Biên bản ngày 04/3/2008, nguyên đơn cũng không có ý kiến khiếu nại gì về việc xác định 1.378m² thuộc thửa 38 hiện bị đơn đang sử dụng và cũng không bất kỳ khiếu nại về việc cập nhật biến động giảm thửa trên tại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của mình. Sau đó, vợ chồng nguyên đơn còn tự đi thực hiện thủ tục xin cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và năm 2009 và trong hồ sơ có trích đo địa chính ngày 17/9/2008 thể hiện diện tích 1.378m² thuộc thửa 38 hiện trạng ông T1 đang quản lý, sử dụng.
[8] Theo kết quả cung cấp thông tin tại Công văn số 749/CNTU-KT ngày 27/3/2023 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai thành phố T thể hiện phần chỉnh lý giảm 1.378m² của thửa 38 thuộc vị trí hướng Nam của thửa đất. Đối chiếu vị trí, tứ cận, hình thể của diện tích 1.378m² với ranh mốc do ông T1 xác định tại Mảnh trích lục địa chính ngày 28/02/2023 là phù hợp về hình thể. Như vậy, mốc giới giữa thửa 38 của ông T và thửa 41 của ông T1 đã được xác lập theo Biên bản ngày 04/3/2008 và đã được chính ông T thực hiện điều chỉnh trên thực tế và tại biên bản xác minh ngày 14/11/2023 thể hiện phần diện tích giảm thửa 1.378m² từ thửa 38 chưa có số thửa, do đó có căn cứ xác định diện tích đất trên không còn thuộc thửa 38 của ông T và bà H1 mà thuộc quyền quản lý, sử dụng thực tế của ông T1 đã được xác định từ năm 2008 nên Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu xác định mốc giới của thửa 38 với thửa 41 là 16 trụ bê tông tương ứng tương ứng với các số hiệu đỉnh thửa 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 tại Mảnh trích lục địa chính ngày 28/02/2023 và không chấp nhận yêu cầu công nhận đối với diện tích 1.562,4m² thuộc thửa 38 của ông T1, bà H1 là có căn cứ. Tuy nhiên, như đã phân tích, tranh chấp giữa ông T, bà H1 với ông T1 là tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản nên trong trương hợp này, Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, phải xác định ranh giới, mốc giới giữa đất ông T, bà H1 với ông T1 theo quy định tại 265 của Bộ luật Dân sự năm 2005 và Điều 175 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Ranh giới giữa hai bên chính là ranh giới đất theo sự xác định ranh của ông T1 tương ứng là số hiệu đỉnh thửa 2, 3, 3, 5, 6, 7 tại Mảnh trích lục địa chính ngày 28/02/2023.
[9] Theo sự xác định ranh giới trên thì phần diện tích ông T1 quản lý, sử dụng bao gồm 16 trụ bê tông, phần móng tường xây gạch và 79 cây cao su của ông T và bà H1. Tòa án cấp sơ thẩm công nhận cây cao su của ông T và bà H1 trên diện tích 1.562,4m² thuộc thửa 38 trong khi diện tích đất trên chưa xác định được số thửa và ông T1 là người quản lý, sử dụng, Tòa án cấp sơ thẩm không công nhận quyền sử dụng đất cho ông T và bà H1 nhưng lại công nhận cây trồng trên đất là có mâu thuẫn. Như trên đã phân tích, đất tranh chấp là ông T1 quản lý, sử dụng có tài sản của ông T, bà H1, cây cao su trồng từ năm 2003, trước thời điểm có việc xác định mốc giới và chỉnh giảm thửa đất, ông T có tranh chấp cây trồng và yêu cầu công nhận đất nên để giải quyết triệt để vụ án, trong trường hợp này cần buộc ông T1 thanh toán giá trị 79 cây cao su cho ông T, bà H1. Đối với 16 trụ bê tông và phần móng tường xây gạch do nguyên đơn cắm và xây không được sự đồng ý của ông T1, cắm và xây trên phần đất không thuộc quyền quản lý, sử dụng của mình nên ông T, bà H1 phải tháo dỡ, di dời các tài sản trên. Theo kết quả định giá thì giá trị 79 cây cao su là 37.841.000 đồng. Ông T1 có nghĩa vụ thanh toán giá trị cây cao su cho ông T và bà H1.
[10] Từ những phân tích trên, kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 là có căn cứ chấp nhận một phần.
[11] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tại phiên tòa là phù hợp một phần.
[12] Về chi phí tố tụng: Chi phí xem xem xét thẩm định, đo đạc và định giá là 12.975.970 đồng. Ông Lê Văn T phải chịu và được khấu trừ vào tạm ứng đã nộp (đã thực hiện xong).
[13] Án phí dân sự sơ thẩm: đương sự phải chịu theo quy định.
[14] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do sửa án nên người kháng cáo không phải chịu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 147, Điều 148, Điều 296, khoản 2 Điều 308, Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 265 của Bộ luật Dân sự năm 2005.
- Căn cứ Điều 164, 165, Điều 166, Điều 175 và Điều 176 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Căn cứ Điều 166 và Điều 170 của Luật Đất đai năm 2013.
- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Khóa XIV quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn ông Lê Văn T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1.
- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2024/DS-ST ngày 08 tháng 7 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, như sau:
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Văn T về việc xác định ranh giới giữa thửa 38, tờ bản đồ 41 của nguyên đơn và thửa 41, tờ bản đồ 41 của bị đơn ông Trần Văn T1 là 16 trụ bê tông do nguyên đơn cắm tương ứng với các số hiệu đỉnh thửa 6, 7, 8, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 15, 16 tại Mảnh trích lục địa chính ngày 28/02/2023 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Lê Văn T về việc công nhận cho ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H1 được quyền quản lý, sử dụng 1562,4m² thuộc thửa 38, tờ bản đồ 41 tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương.
- Xác định ranh giới giữa thửa 38, tờ bản đồ 41 của ông Lê Văn T và thửa 41, tờ bản đồ 41 của ông Trần Văn T1 (đang quản lý, sử dụng thực tế) tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương, như sau:
Ranh giới tại cạnh hướng Nam của thửa 38 với cạnh hướng Bắc của thửa 41, tờ bản đồ 41 là số hiệu đỉnh thửa 2,3,4,5,6,7 cụ thể:
- Từ số hiệu đỉnh thửa 2 đến 3 có chiều dài 84,15m;
- Từ số hiệu đỉnh thửa 3 đến 4 có chiều dài 14,68m;
- Từ số hiệu đỉnh thửa 4 đến 5 có chiều dài 9,90m;
- Từ số hiệu đỉnh thửa 5 đến 6 có chiều dài 36,33m;
- Từ số hiệu đỉnh thửa 6 đến 7 có chiều dài 3,59m;
(có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- Ông Trần Văn T1 có nghĩa vụ thanh toán giá trị 79 cây cao su có trên phần diện tích đất 1562,4m² tại phường V, thành phố T, tỉnh Bình Dương cho ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H1 với số tiền là 37.841.000 đồng (ba mươi bảy triệu tám trăm bốn mươi mốt nghìn đồng). Sau khi thanh toán xong, ông T1 được quyền sở hữu các cây cao su trên.
- Về chi phí tố tụng: Ông Lê Văn T phải chịu số tiền 12.975.970 đồng (Mười hai triệu chín trăm bảy mươi lăm nghìn chín trăm bảy mươi đồng) chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá, được trừ vào số tiền tạm ứng đã nộp (đã thực hiện xong).
Buộc ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị H1 phải tháo dỡ, di dời 16 trụ bê tông cấm là 16 trụ bê tông (tương ứng với các số hiệu đỉnh thửa 17, 18, 19, 20, 21, 22, 23, 24, 25 tại sơ đồ bản vẽ kèm theo) và phần phần móng tường xây gạch trên phần đất 1562,4m² mà ông T1 đang quản lý, sử dụng.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Lê Văn T phải chịu số tiền 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) được trừ và o số tiền đã nộp theo biên lai thu tiền án phí, lệ phí Tòa án số AA/2021/0006436 ngày 07/11/2022, số AA/2021/0007994 ngày 18/8/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên. Hoàn trả cho ông Lê Văn T số tiền còn lại là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).
Ônng Trần Văn T1 phải chịu số tiền 2.192.050 đồng (hai triệu một trăm chín hai nghìn không trăm năm mươi đồng).
- Án phí dân sự phúc thẩm:
Trả lại cho ông Lê Văn T số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0000293 ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Trả lại cho bà Nguyễn Thị H1 số tiền 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu số 0000294 ngày 01 tháng 8 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Mộng Tuyết |
Bản án số 119/2025/DS-PT ngày 03/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 119/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: y án sơ thẩm
