TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG TỈNH BẮC GIANG Bản án số: 119/2024/HSST Ngày 13 tháng 12 năm 2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Ánh Dương
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Tin.
2. Ông Đào Xuân Thịnh.
* Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hải Đăng – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng.
* Đại diện VKSND huyện Yên Dũng tham gia phiên tòa: Bà Hoàng Ngọc N – Kiểm sát viên .
Trong ngày 13 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 126/2024/HSST ngày 15/11/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/2024/HSST- QĐ ngày 18 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
- Họ tên: Phạm Văn N1, sinh năm 1983; Giới tính: Nam; Tên gọi khác: Không;
- Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: A, đường Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng;
- Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lái xe; Đảng, đoàn thể: Không
- Họ tên bố: Phạm Hữu V, sinh năm 1958;
- Họ tên mẹ: Phạm Thị T (đã chết).
- Vợ: Mai Thị T1, sinh năm 1984;
- Có 03 con, lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm 2014.
- Tiền án, tiền sự: Không
Bị cáo đầu thú, không bị tạm giữ, tạm giam, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Hiện tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Đại diện hợp pháp của người bị hại (bà Vũ Thị H đã chết):
- Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1938 (Vắng mặt)
Trú tại: thôn M, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Phan Văn L, sinh năm 1963 (Vắng mặt)
Trú tại: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Chị Phan Thị M, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
Trú tại: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Phan Văn N2, sinh năm 1989 (Có mặt)
Trú tại: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
* Đại diện theo ủy quyền của bà Nguyễn Thị T2, anh Phan Văn L, chị Phan Thị M:
- Anh Phan Văn N2, sinh năm 1989 (Có mặt)
Trú tại: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Công ty TNHH V1 ở tầng 2, tòa nhà E, đường V, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng - Do bà Phạm Thị Thu H1: Giám đốc, đại diện (Vắng mặt).
Đại diện theo ủy quyền: Ông Phạm Việt P, sinh năm 1983 - Trưởng phòng vận tải (Có mặt).
Trú tại: Số E, tổ dân phố L, phường M, quận H, thành phố Hải Phòng.
* Người làm chứng:
- Anh Lại Văn K, sinh năm 1982 (Vắng mặt)
Trú tại: thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
- Anh Mai Thanh T3, sinh năm 1979 (Có mặt)
Trú tại: Số A, đường Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng.
- Chị Vũ Thị L1, sinh năm 1985 (Vắng mặt)
Trú tại: Số A, đường Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 01 giờ 30 phút ngày 04/6/2024, Phạm Văn N1, sinh năm 1983 ở A, đường Đ, phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng có bằng lái xe hạng FC là nhân viên lái xe container của Công ty TNHH V1 ở tầng 2, tòa nhà E, đường V, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng, điều khiển xe ô tô tải đầu kéo biển kiểm soát 15H-074.99 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15RM-005.97 đi đến cảng H nhận hàng chở đi giao cho Công ty cổ phần Đ ở số D, đường B, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Nguyên. Sau khi nhận hàng xong, Phạm Văn N1 điều khiển xe ô tô đầu kéo di chuyển qua tỉnh Hải Dương đến địa phận tỉnh Bắc Giang đi theo tuyến Tỉnh lộ 293 hướng huyện L, tỉnh Bắc Giang đi thành phố B, tỉnh Bắc Giang. Khoảng 05 giờ 30 phút cùng ngày, Phạm Văn N1 điều khiển xe ô tô đầu kéo đi vào đường V theo hướng cầu Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đi Quốc lộ A với vận tốc khoảng 50 km/giờ. Khi đi đến gần khu vực ngã tư giao nhau giữa đường V; Quốc lộ A và Quốc lộ C, thuộc địa phận thôn Q, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang, Phạm Văn N1 thấy đèn tín hiệu giao thông tại ngã tư đang ở chế độ đèn vàng nhấp nháy, các phương tiện tham gia giao thông qua khu vực ngã tư vắng vẻ nên N1 tiếp tục điều khiển xe ô tô đi vào ngã tư. Lúc này, ở phía trước bà Vũ Thị H, sinh năm 1965 ở thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang điều khiển xe mô tô biển kiểm soát 98Y5-9012 đi từ hướng xã T đi xã N đến giữa ngã tư, thấy xe ô tô N1 điều khiển đi đến nên đã đánh lái sang trái để tránh xe của N1. Tuy nhiên, do N1 không chú ý quan sát, không giảm tốc độ vi phạm điểm c khoản 3 Điều 10, Điều 12 và Điều 24 Luật giao thông đường bộ; Khoản 1, 3, Điều 5 Thông tư 31 ngày 29/8/2019, của Bộ G nên N1 đã để phần ba đờ sốc trước bên trái đầu xe ô tô do N1 điều khiển va vào xe mô tô biển kiểm soát 98Y5-9012 do bà Vũ Thị H điều khiển làm bà H bị ngã xuống đường, phần bánh xe ô tô đầu kéo chèn đè lên xe mô tô và cơ thể bà Vũ Thị H, xe ô tô của Phạm Văn N1 tiếp tục di chuyển hướng về Quốc lộ C khoảng 40 mét thì dừng lại. Hậu quả, bà Vũ Thị H bị chết tại chỗ.
Sau khi vụ việc xảy ra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nghiệm phương tiện liên quan đến vụ tai nạn, tiến hành trích xuất dữ liệu camera được lắp đặt tại khu vực ngã tư lưu trữ trong 01 đĩa DVD-R.
Ngày 04/6/2024, Phạm Văn N1 đã đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Y đầu thú, giao nộp 01 giấy phép lái xe hạng FC, số [...] mang tên Phạm Văn N1; 01 chứng nhận đăng ký xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-074.99; 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-074.99; 01 giấy chứng nhận đăng ký rơ móoc, biển kiểm soát 15RM-005.97; 01 giấy chứng nhận kiểm định rơ móoc, biển kiểm soát 15RM-005.97 (BL 192, 193).
Kết quả khám nghiệm hiện trường:
Hiện trường nơi xảy ra vụ tai nạn giao thông đường bộ được xác định tại Km số 60 + 900m, Quốc lộ A (khu vực ngã tư giao nhau giữa Quốc lộ A, Quốc lộ C và đường V) thuộc địa phận thôn Q, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang.
Vị trí xảy ra tai nạn có tổng chiều rộng là 35 mét. Chiều đường bên phải Quốc lộ A theo hướng xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đi xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang rộng 20,60 mét; chiều đường bên trái rộng 14,40 mét. Đường Võ Văn K1 phân chia đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt. Chiều đường bên phải của đường V theo hướng cầu Đ, thành phố B, tỉnh Bắc Giang đi Quốc lộ C rộng 15,30 mét. Tại khu vực ngã tư, ở mỗi chiều đường đều được lắp đặt cột đèn tín hiệu giao thông đường bộ (màu vàng, xanh, đỏ đang hoạt động). Trên lề đường bên phải Quốc lộ A theo hướng xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đi xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang cắm đặt ba biển báo hiệu giao thông đường bộ gồm: Biển báo hiệu đi chậm, biển báo nguy hiểm nơi giao nhau với đường ưu tiên và biển báo hiệu đường dành cho người đi bộ sang đường.
Xe ô tô tải đầu kéo biển kiểm soát 15H-074.99 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15RM-005.97 trong trạng thái đỗ hoàn toàn. Tử thi bà Vũ Thị H, sinh năm 1965, trú tại thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang trong tình trạng phần đầu nằm dưới mặt lăn bánh lốp bên trong của trục bánh sau cùng bên trái sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15RM-005.97. Đầu tử thi hướng xã N, huyện Y, tỉnh Bắc Giang; chân tử thi hướng xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. Xe mô tô biển kiểm soát 98Y5-9012 trong trạng thái đổ nghiêng trái, nằm phía dưới gầm đầu xe ô tô tải đầu kéo biển kiểm soát 15H-074.99. Đầu xe mô tô hướng đường V, đuôi xe mô tô hướng Quốc lộ C.
Trên hiện trường để lại các dấu vết:
- Vết số 01 là vết cày xước mặt đường, dạng ngắt quãng và liên tục, hình vòng cung, nằm trên mặt đường bên phải, kích thước (41,15 x 0,55)m hướng đường V đi Quốc lộ C; Điểm đầu dấu vết cách điểm chuẩn và điểm mốc lần lượt là 5,65m và 49m. Điểm cuối dấu vết kết thúc ở vị trí đầu giá để chân phía trước bên trái xe mô tô biển kiểm soát 98Y5-9012.
- Vết số 2 là vết cày xước mặt đường dạng liên tục, hình vòng cung nằm trên mặt đường bên phải, kích thước (27,15 x 0,01)m hướng đường V đi Quốc lộ C. Điểm đầu dấu vết cách điểm chuẩn và điểm đầu dấu vết số 01 lần lượt là 7,35 mét và 12,9 mét. Điểm cuối dấu vết kết thúc tại vị trí đầu tay nắm bên trái xe mô tô biển kiểm soát 98Y5-9012.
- Vết số 03 dấu vết trà sát, mài xước mặt đường bám dính chất màu đen và mô cơ thể người nằm trên mặt đường bên phải, kích thước (13,40 x 0,75)m, đánh ký hiệu số 3. Tâm điểm đầu dấu vết cách điểm đầu dấu vết số 02 là 2,16m, cách điểm chuẩn 6,05m. Điểm cuối dấu vết kết thúc tại mặt lăn bánh lốp sau cùng bên trái xe ô tô tải đầu kéo biển kiểm soát 15H-074.99 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15RM-005.97.
Ngoài ra còn một số dấu vết khác thể hiện trong bản khám nghiệm riêng (BL 55-59).
Khám nghiệm xe ô tô tải đầu kéo biển kiểm soát 15H-074.99 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15RM-005.97:
Mặt dưới bên trái ba đờ sốc trước có vết mài sát sơn, kim loại, bám dính chất màu đen hướng từ trước ra sau, từ trên xuống dưới, kích thước (8 x 6)cm. Điểm thấp nhất cách đất 58 cm. Bên trái ốp nhựa bảo vệ cụm đèn pha, đèn xi nhan bên trái có dấu vết mài sát, vỡ khuyết nhựa, bám dính chất màu đen hướng từ trái sang phải, từ trước về sau, kích thước (16 x 25)cm; điểm thấp nhất cách đất 73cm. Mặt ngoài cánh cửa trước bên trái có dấu vết hằn lõm, mài sát sơn, kim loại hướng từ trước ra sau, kích thước (9 x 2)cm; điểm thấp nhất cách đất 125cm.
Ngoài ra không phát hiện dấu vết nào khác (BL112-113).
Khám nghiệm xe mô tô biển kiểm soát 98Y5-9012:
Mặt ngoài bên phải chắn bùn bánh trước có vết mài sát sơn nhựa, bám dính chất màu nâu đen, kích thước (35 x 18)cm nối từ sau ra trước; Mặt ngoài dây phanh bánh trước có vết mài sát cao su, bám dính chất màu nâu hướng từ trước ra sau, kích thước (15 x 2)cm; Má lốp, vành bánh trước bên phải có vết mài sát cao su, hướng từ trong ra ngoài, bề mặt bám dính chất màu đen dạng cao su, kích thước (52 x 5)cm; Vỡ khuyết ốp nhựa bảo vệ đèn pha, xi nhan trước. Gãy khuyết đầu tay phanh, trên tay phanh có dấu vết mài sát kim loại bám dính chất màu trắng-đen, kích thước (9 x 1)cm. Đầu tay lái bên phải có dấu vết mài sát sơn, nhựa bám dính chất màu nâu-đen, hướng từ trước ra sau, kích thước (17 x 9)cm và dấu vết mài sát sơn nhựa, bám dính chất màu trắng, kích thước (10,5 x 9)cm; Ốp kim loại bảo vệ ống xả dán đề can màu xanh - cam có dấu vết hằn lõm, mài sát kim loại, bám dính chất chất màu đen dạng cao su trên diện kích thước (50 x 13)cm. Đầu ốc trục bánh trước bên trái có dấu vết mài sát kim loại, bám dính chất bột màu trắng, dạng bê tông. Mặt ngoài cánh yếm bên trái có dấu vết mài sát, mòn nhựa trên diện kích thước (34 x 10)cm. Tay lái, giá gắn tay lái bên trái có dấu vết mài sát, mòn nhựa, cao su, kích thước (16 x 3,5)cm. Cần số bị chèn cong, mài sát kim loại, bám dính chất bột màu trắng dạng bê tông trên diện kích thước (29 x 3)cm, hướng từ trái sang phải. Để chân trước bên trái bật rời ốp cao su; bề mặt có vết chùn cong, mài sát kim loại, kích thước (12 x 2)cm, hướng từ trên xuống dưới, từ trái sang phải. Mặt ngoài bên trái chân chống chính có vết mài sát, bám dính chất bột màu trắng dạng bê tông, kích thước (3 x 1)cm; thanh kim loại bên phải chùn cong theo hướng từ phải sang trái. Ốp nhựa sườn xe bên trái có vết mài sát nhựa, kích thước (14 x 2)cm. Để chân và giá để chân sau bên trái có vết mài sát cao su, kim loại, kích thước (4 x 4)cm.
Ngoài ra còn một số dấu vết khác thể hiện trong bản khám nghiệm riêng (BL114-115)
Khám nghiệm tử thi Vũ Thị H, sinh năm 1965 ở thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang:
Vùng đầu tóc đen để dài, dập nát biến dạng vùng đầu, mặt không rõ hình dạng. Gãy sập phức tạp toàn bộ xương lồng ngực hai bên và hệ thống xương cột sống. Căng chướng vùng bụng, mất các nếp nhăn tự nhiên. Vùng ngực có vết rách, thủng da, kích thước 01 x 0,8 (cm). Toàn bộ vùng lưng hai bên có nhiều vết hằn tím, sây sát da. Dập nát toàn bộ cánh tay, cẳng tay và bàn tay phải; lộ tổ chức gân, cơ, hệ thống xương gãy hở phức tạp. Mặt sau cánh tay và bàn tay trái có vết dập, rách da, bầm tím, trên diện kích thước 22 x 7 (cm). Kiểm tra diện dập, rách da vùng đầu thấy: Dập nát toàn bộ tổ chức dưới da vùng đầu, mặt; vỡ phức tạp xương hộp sọ và xương hàm mặt thành nhiều mảnh rời, thoát toàn bộ tổ chức não ra bên ngoài, dập nát, qua đó có nhiều máu không đông chảy ra. Chọc hút bằng bơm kim tiêm tại vùng bẹn phải thu được mẫu máu tử thi (BL93-94).
Tại Bản kết luận giám định pháp y tử thi số 1438/KLGĐTT-KTHS ngày 01/7/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận: Nguyên nhân chết của Vũ Thị H do đa chấn thương; Chấn thương sọ não, chấn thương hàm mặt, chấn thương cột sống, chấn thương ngực kín, gãy hở toàn bộ xương tay phải (BL107-108).
Ngày 19/6/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y quyết định trưng cầu giám định cơ chế hình thành dấu vết. Tại Bản kết luận giám định số 1550/KL-KTHS ngày 16/7/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:
“1. Dấu vết vỡ, mài sát sơn nhựa, bám dính chất màu đen tại bên trái ốp nhựa đầu xe ô tô biển kiểm soát 15H-074.99, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 6 bản ảnh khám nghiệm phương tiện) phù hợp với dấu vết gãy khuyết, mài sát cao su, kim loại, bám dính chất màu trắng - đen tại đầu tay nắm và phanh tay bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98Y5-9012, có chiều hướng từ phải sang trái (ảnh số 17, 18 bản ảnh khám phương tiện). Đây là vị trí va chạm đầu tiên trên hai phương tiện.
- Dấu vết mài sát sơn nhựa, bám dính chất màu đen tại mặt dưới bên trái ba đờ sốc trước của xe ô tô biển kiểm soát 15H-074.99, có chiều hướng từ trước ra sau (ảnh số 5 bản ảnh khám phương tiện) phù hợp với dấu vết mài sát sơn nhựa, bám dính chất màu trắng tại mặt ngoài cánh yếm bên phải của xe mô tô biển kiểm soát 98Y5-9012, có chiều hướng từ phải sang trái (ảnh số 16 bản ảnh khám phương tiện).
- Dấu vết mài sát cao su, bám dính chất màu xanh - cam tại má ngoài lốp bánh trước bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 15H-074.99 (ảnh số 26, 27 bản ảnh khám nghiệm hiện trường) phù hợp với dấu vết chùn cong, mài sát sơn nhựa, kim loại, bám dính chất màu đen tại bảo vệ ống xả của xe mô tô biển kiểm soát 98Y5. 9012, hướng từ phải sang trái (ảnh số 20, 21 bản ảnh khám phương tiện).
- Dấu vết mài trượt cao su, bám dính chất màu nâu đỏ và mô cơ thể tại mặt lăn lốp bánh số II và số IV bên trái của xe ô tô biển kiểm soát 15H-074.99 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 15RM-005.97 (từ ảnh số 28 đến ảnh số 31 bản ảnh khám nghiệm hiện trường) được hình thành do chèn đè lên cơ thể nạn nhân Vũ Thị H tạo nên là phù hợp.
- Dấu vết mài sát, mòn sơn nhựa, cao su, gãy khuyết, chùn cong kim loại tại bên trái của xe mô tô biển kiểm soát 98Y5-9012 gồm: Tay lái, cánh yếm, chắn bùn bánh trước, để chân, cần số, chân chống, ốp nhựa sườn xe (từ ảnh số 22 đến ảnh số 28 bản ảnh khám phương tiện) được hình thành do va chạm với bề mặt vật tày cứng (như mặt đường) tạo nên là phù hợp.
2. Vị trí va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 15H-074.99 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 15RM-005.97 và xe mô tô biển kiểm soát 98Y5-9012 trên mặt đường tại trước điểm đầu hệ thống dấu vết cày xước ký hiệu số 1, thuộc khu vực giao nhau giữa Quốc lộ A với Quốc lộ C và đường V.
3. Tại thời điểm xảy ra tai nạn, xe ô tô biển kiểm soát 15H-074.99 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 15RM-005.97 di chuyển hướng đường V đi Quốc lộ C va chạm với xe mô tô biển kiểm soát 98Y5-9012 từ bên trái chuyển động đến (tính theo chiều chuyển động của xe ô tô biển kiểm soát 15H-074.99 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 15RM-005.97).
4. Ngoài dấu vết va chạm giữa xe ô tô biển kiểm soát 15H-074.99 kéo theo rơ moóc biển kiểm soát 15RM-005.97 và mô tô biển kiểm soát 98Y5-9012, trên hai phương tiện không phát hiện thấy dấu vết va chạm với phương tiện khác.
5. Không xác định được tốc độ của hai phương tiện tại thời điểm xảy ra tai nạn qua các dấu vết cơ học.” (BL138-139).
Ngày 24/9/2024, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Y đã trưng cầu giám định file video được trích xuất từ dữ liệu camera được lắp đặt tại khu vực ngã tư. Tại Bản kết luận giám định số 2111/KL-KTHS ngày 02/10/2024 của Phòng K2 Công an tỉnh B kết luận:
“1. Không phát hiện dấu vết cắt ghép, chỉnh sửa nội dung hình ảnh trong file video có tên: “ng14624tpnh.MP4", dung lượng: 62.7MB; thời lượng: 03 phút 19 giây lưu trữ trong đĩa DVD-R gửi giám định.
2. Trích xuất được 10 (Mười) hình ảnh liên quan đến vụ việc có trong file video gửi giám định.” (BL 89).
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 27/6/2024, Phạm Văn N1 đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Vũ Thị H 170.000.000 đồng, anh Phan Văn N2, sinh năm 1989 ở thôn T, xã Đ, huyện Y là đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho N1. Đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH V1 là anh Phạm Việt P, sinh năm 1983 ở số E, tổ dân phố L, phường M, quận N, thành phố Hải Phòng không yêu cầu N1 phải sửa chữa, bồi thường, không yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự.
Về vật chứng vụ án: Trong các ngày 01/8/2024 và 03/8/2024, Cơ quan điều tra trả lại 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98Y5-9012 cho đại diện gia đình bị hại là anh Phan Văn N2; 01 chiếc xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-074.99 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15RM-005.97; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H- 074.99; 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-074.99; 01 Giấy chứng nhận đăng ký Sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15RM- 005.97; 01 Giấy chứng nhận kiểm định Sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15RM-005.97 cho đại diện theo uỷ quyền của công ty Công ty TNHH V1 là anh Phạm Việt P (BL 38, 39). Vật chứng còn lại: 01 đĩa DVD-R lưu giữ hình ảnh vụ tai nạn được chuyển theo hồ sơ vụ án, 01 Giấy phép lái xe hạng FC, số [...] mang tên Phạm Văn N1 được chuyển đến Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Dũng để xử lý theo quy định pháp luật.
Tại cơ quan điều tra, Phạm Văn N1 thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.
Bản Cáo trạng số: 119/CT-VKS, ngày 11/11/2024 Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng truy tố Phạm Văn Nam về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 260 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 260, điểm b điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn N1 18 tháng đến 24 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 tháng đến 48 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”. Giao bị cáo Phạm Văn N1 cho UBND phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
- Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn N1: 01 Giấy phép lái xe hạng FC, số [...] mang tên Phạm Văn N1 do Sở giao thông thành phố H cấp ngày 13/2/2023.
Bị cáo Phạm Văn N1 nói lời sau cùng: Đề nghị cho bị cáo được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần 2 đối với người tham gia tố tụng trên nhưng vắng mặt. Nên Tòa án xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng theo Điều 293 BLTTHS.
Tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến gì hay khiếu nại gì về tài liệu, chứng cứ, hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về nội dung vụ án: Khoảng 05 giờ 30 phút ngày 04/6/2024, Phạm Văn N1 có giấy phép lái xe hạng FC, điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-074.99 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15RM-005.97 đi đến khu vực ngã tư giao nhau giữa đường V; Quốc lộ A và Quốc lộ C, thuộc địa phận thôn Q, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang. N1 thấy đèn giao thông báo hiệu nhấp nháy vàng, đường vắng vẻ nên tiếp tục điều khiển xe đi thẳng từ hướng đường V để qua ngã tư sang Quốc lộ C. Khi N1 điều khiển xe ô tô đi đến giữa ngã tư, do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ vi phạm điểm c khoản 3 Điều 10; Điều 12 và Điều 24 Luật giao thông đường bộ; Khoản 1, 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G nên N1 đã để phần ba đờ sốc trước bên trái đầu xe ô tô do N1 điều khiển đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 98Y5-9012 do bà Vũ Thị H điều khiển, làm bà H bị ngã xuống đường, phần bánh xe ô tô đầu kéo chèn đè lên xe mô tô và cơ thể bà Vũ Thị H. Hậu quả, làm bà Vũ Thị H bị chết tại chỗ.
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với: Lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của đại diện phía bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng. Như vậy, hành vi của bị cáo Phạm Văn N1 đã đủ yếu tố cấu thành tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo quy định tại điểm a khoản 01 Điều 260 Bộ Luật Hình sự. Bị cáo hoàn toàn đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Do vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Dũng và kết luận của Kiểm sát viên truy tố bị cáo theo tội danh và điều khoản trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự an toàn giao thông đường bộ, xâm phạm đến sức khỏe, tính mạng của công dân được pháp luật bảo vệ, hành vi phạm tội của bị cáo gây mất trật tự trị an xã hội, làm ảnh hưởng đến tâm lý và sự an toàn của người tham gia giao thông, bị dư luận quần chúng nhân dân lên án. Do vậy, hành vi phạm tội của bị cáo cần phải được xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.
[5] Xét lỗi trong vụ án thì thấy: Bị cáo Phạm Văn N1 là người có 01 Giấy phép lái xe hạng FC, số [...] mang tên Phạm Văn N1 do Sở giao thông thành phố H cấp ngày 13/2/2023. Bị cáo Phạm Văn N1 điều khiển xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-074.99 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15RM-005.97 đi đến khu vực ngã tư giao nhau giữa đường V; Quốc lộ A và Quốc lộ C, thuộc địa phận thôn Q, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Giang đang có tín hiệu đèn giao thông trạng thái đèn chỉ nhấp nháy màu vàng nhưng do không chú ý quan sát, không giảm tốc độ nên N1 đã để phần ba đờ sốc trước bên trái đầu xe ô tô do N1 điều khiển đâm vào xe mô tô biển kiểm soát 98Y5-9012 do bà Vũ Thị H, sinh năm 1965 ở thôn T, xã Đ, huyện Y, tỉnh Bắc Giang điều khiển, làm bà H bị ngã xuống đường, phần bánh xe ô tô đầu kéo chèn đè lên xe mô tô và cơ thể bà Vũ Thị H. Hậu quả, làm bà Vũ Thị H bị chết. Bị cáo N1 đã vi phạm điểm c khoản 3 Điều 10, Điều 12 và Điều 24 Luật giao thông đường bộ; khoản 1, khoản 3 Điều 5 Thông tư 31/2019/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G. Theo điểm c khoản 3 Điều 10 Luật giao thông đường bộ thì: Tín hiệu vàng là phải dừng lại trước vạch dừng, trừ trường hợp đã đi quá vạch dừng thì được đi tiếp; trong trường hợp tín hiệu vàng nhấp nháy là được đi nhưng phải giảm tốc độ, chú ý quan sát, nhường đường cho người đi bộ qua đường. Theo khoản 01 Điều 24 Luật giao thông đường bộ thì: 1. Tại nơi đường giao nhau không có báo hiệu đi theo vòng xuyến, phải nhường đường cho xe đi đến từ bên phải. Căn cứ vào bản ảnh (BL 84, 85) và hình ảnh Video (BL 79), phù hợp lời khai của bị cáo nên có căn cứ xác định trước, trong khi xảy ra tai nạn thì đang có tín hiệu đèn giao thông nhấp nháy màu vàng nhưng bị hại Vũ Thị H không giảm tốc độ, không chú ý quan sát, không nhường đường cho xe bên phải nên bị hại có phần lỗi.
[6] Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Không có.
Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Bị cáo Phạm Văn N1 đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho gia đình người bị hại. Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo Phạm Văn N1 đầu thú. Gia đình bị hại xin giảm trách nhiệm hình sự đối với Phạm Văn N1. Nên bị cáo Phạm Văn N1 được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b điểm điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 Bộ Luật Hình sự.
Xem xét nhân thân của bị cáo Phạm Văn N1 là người lao động, chưa có tiền án, chưa có tiền sự. Bản thân bị cáo Phạm Văn N1 ngoài lần vi phạm này thì chưa có lần vi phạm pháp luật nào khác. Bị cáo Phạm Văn N1 có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng, quá trình sinh sống ở địa phương luôn chấp hành tốt pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân ở nơi cư trú. Xét thấy việc không bắt bị cáo Phạm Văn N1 đi chấp hành hình phạt tù thì cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu trong cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm. Nhằm đề cao chính sách nhân đạo, khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội, tạo cơ hội cho họ sửa chữa, cải tạo thành công dân có ích cho xã hội, do vậy đối với bị cáo Phạm Văn N1 không cần thiết phải bắt chấp hành hình phạt tù có thời hạn mà cho bị cáo Phạm Văn N1 được hưởng mức án treo theo quy định tại Điều 65 của BLHS cũng đủ để bị cáo Phạm Văn N1 lấy đó làm bài học tu dưỡng rèn luyện bản thân làm người có ích cho gia đình và xã hội như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có cơ sở.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
[7] Về trách nhiệm dân sự: Ngày 27/6/2024, Phạm Văn N1 đã bồi thường cho gia đình nạn nhân Vũ Thị H 170.000.000 đồng, anh Phan Văn N2 là đại diện gia đình bị hại không yêu cầu bồi thường thêm và có đơn xin miễn truy cứu trách nhiệm hình sự cho N1. Đại diện theo uỷ quyền của Công ty TNHH V1 là anh Phạm Việt P không yêu cầu N1 phải sửa chữa, bồi thường, không yêu cầu đề nghị gì về trách nhiệm dân sự nên không đặt ra xem xét.
[8] Về vật chứng: Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
Trả lại cho bị cáo Phạm Văn N1: 01 Giấy phép lái xe hạng FC, số [...] mang tên Phạm Văn N1 do Sở giao thông thành phố H cấp ngày 13/2/2023.
[9] Trong các ngày 01/8/2024 và 03/8/2024, Cơ quan điều tra trả lại 01 chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98Y5-9012 cho đại diện gia đình bị hại là anh Phan Văn N2; 01 chiếc xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-074.99 kéo theo sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15RM-005.97; 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H- 074.99; 01 Giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô đầu kéo biển kiểm soát 15H-074.99; 01 Giấy chứng nhận đăng ký Sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15RM- 005.97; 01 Giấy chứng nhận kiểm định Sơ mi rơ moóc biển kiểm soát 15RM-005.97 cho đại diện theo uỷ quyền của công ty Công ty TNHH V1 là anh Phạm Việt P là đúng. Vật chứng còn lại: 01 đĩa DVD-R lưu giữ hình ảnh vụ tai nạn được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Bị cáo phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH :
1. Căn cứ: Điểm a khoản 01 Điều 260, điểm b điểm s khoản 01 khoản 2 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn N1 18 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 36 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.
Giao bị cáo Phạm Văn N1 cho UBND phường Đ, quận H, thành phố Hải Phòng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
3. Về vật chứng: Áp điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự:
- Trả lại cho bị cáo Phạm Văn N1: 01 Giấy phép lái xe hạng FC, số [...] mang tên Phạm Văn N1 do Sở giao thông thành phố H cấp ngày 13/2/2023.
4. Áp dụng khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của BLTTHS; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Buộc bị cáo Phạm Văn N1 phải chịu 200.000 đồng án phí HSST.
Bị cáo, Đại diện hợp pháp của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án .
Đại diện hợp pháp của người bị hại (vắng mặt) có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt (hoặc niêm yết) bản án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7, 7a, 7b và 9 Lụât Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận - TAND Tỉnh Bắc Giang; - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Yên Dũng; - Công an huyện Yên Dũng; - Chi cục THADS huyện Yên Dũng; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu Hs, Vp. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Ánh Dương |
Bản án số 119/2024/HSST ngày 13/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG về vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Số bản án: 119/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN DŨNG, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn N vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ
