|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 119/2024/HSST
Ngày: 05/12/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Thanh;
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Trần Thị Chín;
Ông Trần Đức Hòa.
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Quốc Hải – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Văn Đàm - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước, mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 117/2024/HSST ngày 21 tháng 11 năm 2024. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 237/2024/QĐXXST – HS ngày 23 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Điểu Xinh, sinh ngày 07/5/2004, tại tỉnh Bình Phước.
Căn cước công dân số: [...]
Nơi cư trú: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Nghề nghiệp: Làm rẫy; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: M'nông; giới tính: Nam; tôn giáo: Tin lành; quốc tịch: Việt Nam; con ông Điểu D và bà Thị C; bị cáo có vợ và hai người con lớn sinh năm 2021, nhỏ sinh năm 2023.
Tiền án, tiền sự: không
Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Điểu X: Bà Trương Thị Bích H - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp tỉnh B, (có mặt).
Bị hại: Điểu P, sinh năm 1997, (có mặt).
Địa chỉ: Thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
- Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại Điểu Phước: ông Phạm Văn H1 - Trợ giúp viên pháp lý, Trung tâm trợ giúp pháp tỉnh B, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Chiều tối ngày ngày 02/6/2024, Điểu P tổ chức uống rượu cùng Điểu M ở nhà của mình tại thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. Trong lúc uống rượu, giữa M và P xảy ra mâu thuẫn, xô xát với nhau, P dùng tay đẩy M ngã xuống đất thì được mọi người can ngăn. Lúc này, Điểu X đang ở nhà gần đó nghe tin em trai mình là Điểu M bị P (P là anh rể của X và M) đánh, nên X đã cầm 01 đoạn cây gỗ hình tròn đường kính 03cm dài 85cm đi đến nhà P. Khi đến nơi, X cầm 01 đoạn cây gỗ xông đến đánh 01 cái trúng vào đầu P gây thương tích, cây gỗ bị gãy làm đôi. Sau đó, X dẫn M đi về, còn anh P được người nhà đưa đi cấp cứu, điều trị tại Bênh viện.Tại Kết luận giám định tổn thương trên cơ thể người sống số: 239 ngày 08/7/2024 của Trung tâm Pháp y Sở y tế tỉnh B, kết luận: Tỉ lệ tổn thương cơ thể của Điểu P tại thời điểm giám định là: 16%.- Về vật chứng vụ án: 02 đoạn gậy gỗ hình tròn chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ việc truy tố, xét xử. - Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường 35.000.000 đồng cho bị hại, người bị hại không yêu cầu gì thêm.- Về vật chứng vụ án: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B xử lý như sau: Hai đoạn cây gỗ hình tròn đường kính 3cm chuyển sang Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ quá trình truy tố và xét xử.Tại Cáo trạng số: 120/CT –VKS - BĐ ngày 21/11/2024, của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo Điểu X về Tội cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát khẳng định nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật. Vì vậy, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố. Về tội danh đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Điêu X1 phạm Tội cố ý gây thương tích.
Về hình phạt: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đề nghị xử phạt bị cáo Điểu X từ 12 đến 18 tháng tù.
Về vật chứng của vụ án: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Về án phí buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Người bào chữa trình bày quan điểm: Đồng ý với tội danh và các tình tiết giảm nhẹ mà Viện kiểm sát đưa ra; do hiện tại bị cáo là lao động chính trong gia đình, nên đề nghị Hội đồng xét xử xử bị cáo 01 năm tù để bị cáo sớm trở về lo cho gia đình.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày: Đồng ý với tội danh mà Viện kiểm sát đưa ra, phần trách nhiệm dân sự không yêu cầu gì thêm; về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử xử lý theo quy định của pháp luật.
Bị cáo Điểu X thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố, không có ý kiến tranh luận về tội danh, hình phạt và các vấn đề khác đối với đại diện Viện kiểm sát.
Lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được xét hỏi tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện B, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về hành vi phạm tội của bị cáo: Khoảng 17 giờ ngày 02/6/2024, Điểu X dùng 01 cây gậy gỗ hình tròn đường kính 03cm dài 85cm là hung khí nguy hiểm đánh vào đầu của Điểu P gây thương tích 16% tại thôn Đ, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với lời khai tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của người bị hại về thời gian, địa điểm và hành vi phạm tội.
Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo Điểu X đã phạm vào Tội cố ý gây thương tích, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Điều 134. Tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác
1. Người nào cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% hoặc dưới 11% nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.
a) Dùng vũ khí, vật liệu nổ, hung khí nguy hiểm hoặc thủ đoạn có khả năng gây nguy hại cho nhiều người;
2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 06 năm:
đ) Gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 11% đến 30% nhưng thuộc một trong các trường hợp quy định tại các điểm từ điểm a đến điểm k khoản 1 Điều này”.
Như vậy, nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức rõ hành vi dùng cây gỗ có đường kính 3cm, dài 85cm là hung khí nguy hiểm tác động vào cơ thể người khác có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khỏe của người khác. Nhưng do nóng nảy, thiếu kiềm chế nên bị cáo đã tấn công người bị hại. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an ở địa phương, xâm phạm đến sức khỏe, của người khác, đây là quyền nhân thân được Nhà nước và pháp luật bảo vệ.
[3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo đã bồi thường, khắc phục hậu quả, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống trên địa bàn đặc biệt khó khăn; bị cáo có hai con còn nhỏ, hiện bị cáo là lao động chính trong gia đình, người bị hại đã xin giảm nhẹ cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Sau khi cân nhắc mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo và tình tiết giảm nhẹ mà bị cáo được hưởng, Hội đồng xét xử thấy cần xử bị cáo một mức án tương xứng với hành vi phạm tội để giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung.
[5] Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Cần tịch thu tiêu hủy: 02 đoạn gậy gỗ hình tròn đường kính 03 cm chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng để phục vụ việc truy tố, xét xử.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận đủ tiền bồi thường đã làm đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
[7] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định tại Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
- Đối với Điểu P có xảy ra xô xát với Điểu M, nhưng không gây ra thương tích; Điểu M không bàn bạc hay xúi dục Điểu Xinh đánh P, không có tài liệu chứng cứ khác, không có căn cứ xử lý. Nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Quan điểm của người bào chữa cho bị cáo và Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại phù hợp với tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Quan điểm xử lý vụ án của đại diện Viện kiển sát tham gia phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
[1] Về tội danh và hình phạt: Tuyên bố bị cáo Điểu X phạm Tội cố ý gây thương tích.
Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Điểu X 01 năm, 03 tháng tù (một năm, ba tháng tù). Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo đi chấp hành án.
[2] Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự 2015, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên tịch thu tiêu hủy: 02 đoạn gậy gỗ hình tròn, đường kính 03cm
(Theo biên bản giao, nhận vật chứng số 0010189 ngày 19/11/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng).
[3] Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Điểu X phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Khắc Thanh |
Bản án số 119/2024/HSST ngày 05/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tội cố ý gây thương tích
- Số bản án: 119/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Tội cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Điểu X, K2, Đ 139, Cố Ý gây Thương Tích
