Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 119/2024/HS-PT

Ngày: 04/12/2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Lê Vũ Huy Hoàng;

Các Thẩm phán: Ông Trần Nam Trung;

Bà Tôn Thị Thanh Thuý.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Bích Trâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa:

Bà Bùi Thị Thuý Ngà - Kiểm sát viên.

Ngày 04/12/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 111/2024/TLPT-HS ngày 01/10/2024 đối với các bị cáo Phạm Thị H, Nguyễn Thị N, Trần Văn T, Nguyễn Văn R, Trần Thị T1, Mai Thanh K, Nguyễn Thị Cà U, Lê Toàn T2 do có kháng cáo của các bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị cáo có kháng cáo:

  1. Phạm Thị H, sinh ngày 13/3/1976; Nơi sinh: Huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Mua bán; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 9/12; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Văn Đ và bà Nguyễn Thị H1; Có chồng là Đoàn Văn Đ1 (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2001; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 về hành vi đánh bạc bị Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang xử phạt 1.500.000 đồng vào ngày 26/4/2023, theo Quyết định xử phạt hành chính số 18, đã nộp phạt xong nhưng chưa được xem là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/01/2024 đến nay. (Vắng mặt, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
  2. Nguyễn Thị N, sinh ngày 01/01/1973; Nơi sinh: Huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp P, thị trấn M, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Làm thuê; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 02/12; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn K1 và bà Phan Thị T3; Có chồng là Nguyễn Thanh D (đã chết) và 01 người con sinh năm 1996; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/3/2024 đến nay. (Có mặt)

    Người bào chữa cho bị cáo N: Luật sư Nguyễn Khánh T4 – Văn phòng Luật sư Nguyễn Khánh T4 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh S; Địa chỉ văn phòng: Số E đường P, Khóm B, Phường B, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng. (Có mặt)

  3. Trần Văn T, sinh ngày 01/01/1966; Nơi sinh: Huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Làm vườn; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 03/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn P và bà Nguyễn Thị L; Bị cáo có vợ là Huỳnh Thị Q và 03 người con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2008; Tiền án: Không; Tiền sự: 01 về hành vi đánh bạc bị Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang xử phạt 1.500.000 đồng vào ngày 26/4/2023, theo Quyết định xử phạt hành chính số 22, đã nộp phạt xong nhưng chưa được xem là chưa bị xử lý vi phạm hành chính; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/01/2024 đến nay. (Có mặt)
  4. Nguyễn Văn R, sinh ngày 09/6/1990; Nơi sinh: Huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Làm vườn; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 11/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L1 và bà Nguyễn Thị B; Bị cáo chưa có vợ, con; Tiền sự: Không ; Tiền án: Không; Về nhân thân bị cáo đã 01 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang xử phạt 06 tháng tù về tội đánh bạc tại Bản án số 33 ngày 23/8/2013, đã được xóa án tích; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/01/2024 đến nay. (chết)
  5. Trần Thị T1, sinh ngày 01/01/1979; Nơi sinh: Huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Nội trợ; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 07/12; Giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn C và bà Nguyễn Thị L2; Có chồng là Nguyễn Văn T5 và 03 người con, lớn sinh năm 1998, nhỏ nhất sinh năm 2014; Tiền án: Không; Tiền sự: 03 về hành vi tàng trữ chất cấm và đánh bạc (trong đó có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc bị Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang xử phạt 1.500.000 đồng vào ngày 26/4/2023, theo Quyết định xử phạt hành chính số 25, đã nộp phạt xong, nhưng chưa được xem là chưa bị xử lý vi phạm hành chính. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/01/2024 đến nay. (Có mặt)
  6. Mai Thanh K, sinh ngày 01/01/1979; Nơi sinh: Huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp P, xã P, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Tài xế; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 10/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Văn N1 và bà Chung Thị N2; Bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Ngọc D1 và 02 người con, lớn sinh năm 2000, nhỏ sinh năm 2009; Tiền án, tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 11/3/2024 đến nay. (Có mặt)
  7. Nguyễn Thị Cà U, sinh ngày 29/6/1977; Nơi sinh: Thành phố Cần Thơ; Nơi cư trú: Số C Khu V, phường T, quận C, thành phố Cần Thơ; Nghề nghiệp: Nội trợ; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: Không biết chữ; Giới tính: Nữ; Tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn B1 và bà Phạm Thị T6; Bị cáo có chồng là Lương Minh T7 và 01 người con sinh năm 2009; Tiền án: Không ; Tiền sự: Không; Về nhân thân đã 01 lần bị Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc vào ngày 24/02/2021, theo Quyết định xử phạt hành chính số 05. Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/01/2024 đến nay. (Có mặt)
  8. Lê Toàn T2, sinh ngày 01/01/1987; Nơi sinh: Huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nơi cư trú: Ấp P, xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Nghề nghiệp: Tài xế; Dân tộc: Kinh; Trình độ học vấn: 09/12; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T8 và bà Đỗ Thị S; Có vợ là Hồ Thị T9 và 02 người con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2017; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 18/01/2024 đến nay. (Có mặt)

- Những người dưới đây không liên quan đến kháng cáo Hội đồng xét xử phúc thẩm không triệu tập gồm: Các bị cáo Ngô Trường T10, Trương Thị Cẩm V, Nguyễn Thị S1; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Nguyễn Gia L3; Người làm chứng bà Phạm Kim L4, bà Phạm Thị Kim U1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 16 giờ ngày 10/9/2023, lực lượng Cảnh sát hình sự Công an tỉnh S kết hợp cùng Công an huyện K bắt quả tang 12 người gồm các ông, bà: Phạm Thị H, Nguyễn Thị S1, Phạm Thị Kim U1, Trương Thị Cẩm V, Trần Thị T1, Lê Toàn T2, Trần Văn T, Nguyễn Thị Cà U, Mai Thanh K, Nguyễn Văn R, Ngô Trường T10 và Phạm Kim L4 đang có hành vi đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền, với hình thức chơi bài ngầu hầm, loại bài tây 52 lá, tại quán C1 thuộc ấp A, thị trấn A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng do ông Nguyễn Gia L3, sinh năm 2004, làm chủ. Cơ quan Công an tạm giữ 01 chiếc chiếu lát đã qua sử dụng; 01 keo bằng nhựa có nhãn hiệu “NGUYỄN THỦY”, không có nắp, đã qua sử dụng; 66 bộ bài tây DOUBLEK, chưa qua sử dụng; 01 bọc nilon đựng bài Tây đã qua sử dụng, trong đó có 22 vỏ bài DOUBLEK và nhiều lá bài Tây đã qua sử dụng; 70 lá bài Tây loại 52 lá đã qua sử dụng và số tiền 200.000 đồng.

* Kiểm tra, tạm giữ trên người và đồ vật gồm:

  1. Bà Phạm Thị H tiền Việt Nam 19.075.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 14 Promax, màu tím, đã qua sử dụng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung S10 5G, màu đen, đã qua sử dụng;
  2. Ông Ngô Trường T10 tiền Việt Nam 6.200.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 12, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô, loại Wave, biển số xe 95F5-0762, xe đã qua sử dụng;
  3. Ông Trần Văn T tiền Việt Nam 4.350.000 đồng, 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Nokia, màu đỏ (màn hình trắng đen), đã qua sử dụng: 01 (một) xe mô tô, loại Wave Alpha màu đỏ, biển số 95F4-2913, xe đã qua sử dụng;
  4. Ông Nguyễn Văn R tiền Việt Nam 18.110.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo Y16, màu xanh, đã qua sử dụng, 01 (một) xe mô tô, loại Wave, màu xanh, biển số 95U1-6217, đã qua sử dụng;
  5. Ông Mai Thanh K tiền Việt Nam 20.750.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Redme, màu đen, đã qua sử dụng;
  6. Ông Lê Toàn T2 tiền Việt Nam 23.600.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A22, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô loại Wave, biển số 95U1-0462, xe đã qua sử dụng;
  7. Bà Trần Thị Thúy tiền Việt N3 13.600.000 đồng; 01 xe mô tô Sirius biển số 95R1-003.99 xe đã qua sử dụng;
  8. Bà Trương Thị Cẩm V tiền Việt Nam 9.397.000 đồng; 01 (một) điện thoại Oppo F11, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô loại SH Mode, biển số xe 95H1-678.71, xe đã qua sử dụng;
  9. Bà Nguyễn Thị Cà U tiền Việt Nam 1.300.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Vivo, màu xanh, đã qua sử dụng;
  10. Bà Nguyễn Thị S1 tiền Việt Nam 15.709.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Samsung A11, màu đen, đã qua sử dụng; 01 (một) xe mô tô Wave alpha, màu đen, biển số 65V1-2662, đã qua sử dụng;
  11. Bà Phạm Thị Kim U1 tiền Việt Nam 1.900.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Mini, màu hồng, đã qua sử dụng;
  12. Phạm Kim L4 tiền Việt Nam 3.051.000 đồng; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, màu tím, số seri G736YRQJ5W, đã qua sử dụng;

Tổng số tiền thu trên 12 người là 137.042.000 đồng.

Ngoài ra, còn thu 01 (một) xe mô tô, loại xe Blacksta, Biển số 95G1-013.87, xe đã qua sử dụng của bà Nguyễn Thị Lệ H2.

Qua làm việc, xác định được các bị cáo Phạm Thị H, Nguyễn Thị S1, Trương Thị Cẩm V, Trần Thị T1, Lê Toàn T2, Trần Văn T, Nguyễn Thị Cà U, Mai Thanh K và Nguyễn Văn R khai nhận trực tiếp chơi đánh bài ăn thua bằng tiền. Hình thức chơi gồm có 01 nhà làm cái và nhiều tụ con đặt cược, mỗi tụ chia 05 lá bài, cá cược trực tiếp với người làm cái. Nhà cái thì làm xoay vòng, mỗi nhà làm tối đa tới 10 ván (bàn) thì chuyển người khác làm cái, và xoay vòng cho đến khi nghỉ chơi. Các bị cáo khai nhận đã làm cái được nhiều bàn, còn cụ thể bao nhiêu bàn thì không xác định được, các bị cáo dùng số tiền vào mục đích đánh bạc gồm: Phạm Thị H số tiền 800.000 đồng, Nguyễn Thị S1 13.425.000 đồng, Trương Thị Cẩm V 1.500.000 đồng, Lê Toàn T2 7.300.000 đồng, Trần Văn T 1.200.000 đồng, Nguyễn Thị Cà U 1.000.000 đồng, Mai Thanh K 3.300.000 đồng, Nguyễn Văn R 500.000 đồng, tổng cộng số tiền dùng để tham gia đánh bạc là 33.225.000 đồng (bao gồm số tiền dùng vào mục đích đánh bạc và tiền thu tại chiếu bạc). Số tiền thu lợi bất chính là 5.084.000 đồng (trong đó bị cáo K thắng 2.400.000 đồng, bị cáo V thắng 400.000 đồng, bị cáo S1 thắng 2.284.000 đồng). Còn lại đa số đối tượng chơi liên tục nhiều ván bài, nhiều người làm cái xoay vòng, nên không nhớ cụ thể số tiền đặt cược ở các tụ, số tiền ăn thua cụ thể của từng người, từng ván bài, ngoài ra các bị cáo Trần Văn T, Trần Thị T1, Mai Thanh K, Trương Thị Cẩm V đều thừa nhận trước ngày bị bắt, là ngày 09/9/2023, đều có tham gia đánh bài cũng tại quán cà phê L3.

Các bị cáo Phạm Thị H và Ngô Trường T10 đều khai nhận: T10 có nhiệm vụ đứng ở cửa canh gác, khi phát hiện lực lượng Công an, thì thông báo cho nhóm người chơi biết để trốn tránh, đồng thời cung cấp đồ ăn, nước uống, bài để các đối tượng tham gia chơi đánh bài ăn thua bằng tiền, thu tiền xâu của những người đánh bạc chia với Phạm Thị H, còn H có nhiệm vụ ở trong phòng coi việc đánh bài ăn thua bằng tiền, thu tiền xâu. Các con bạc mỗi khi kết thúc việc làm cái thì xâu tiền bỏ vào cái keo, số tiền xâu từ 50.000 đồng đến 100.000 đồng. Khi kết thúc đánh bài, thì Ngô Trường T10 lấy tiền xâu chi trả các chi phí và số tiền còn lại phân chia với Phạm Thị H. Ngoài ra, H và Ngô Trường T10 còn khai nhận trước ngày bị bắt (là ngày 09/9/2023) và các ngày khác, hai bị cáo H và T10 cũng có tổ chức cho các con bạc gồm Trần Thị T1, Trần Văn T và một số người khác không nhớ tên, tham gia đánh bài ăn tiền cũng tại quán cà phê L3.

Bị cáo Nguyễn Thị N khai nhận: N là người được thuê để quản lý quán cà phê L3, những ngày trước đó, N ở quán và có bưng nước vào phòng lạnh trong quán, biết việc những người đến phòng lạnh để tham gia chơi đánh bài ăn thua bằng tiền, nhưng do lợi nhuận thu lại từ việc bán nước, đồ ăn cho những người tham gia đánh bạc nhiều, nên bị cáo N đồng ý cho những người này tham gia chơi đánh bài ăn thua bằng tiền trong quán, không có động thái can ngăn và không cho những người này chơi đánh bài ăn thua bằng tiền trong quán; việc cho những người tham gia chơi đánh bài ăn thua bằng tiền trong quán, thì bị cáo N không có báo cho ông L3 chủ quán biết. Vào ngày 10/9/2023, trước khi những người tham gia chơi đánh bài đến quán cà phê L3 để tham gia chơi đánh bài ăn thua bằng tiền, thì Ngô Trường T10 có liên lạc trước với N và được N đồng ý, Trường T11 dắt những người đến quán, vào phòng lạnh để tham gia chơi đánh bài ăn thua bằng tiền, N bưng nước, đồ ăn nhiều lần lên phòng lạnh và thấy những người này tham gia chơi đánh bài ăn thua bằng tiền từ 100.000 đồng đến 200.000 đồng.

* Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng quyết định:

- Căn cứ các điểm c, d, đ khoản 1 và khoản 3 Điều 322 và khoản 1 và khoản 3 Điều 321; các điểm s, r khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52, các điều 17, 38, 55 và 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Thị H. Xử phạt bị cáo H 07 (Bảy) tháng tù về tội đánh bạc và 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội tổ chức đánh bạc; buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 02 (Hai) năm 01 (Một) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xử phạt bổ sung tổng số tiền 30.000.000 đồng đối với bị cáo H (20.000.000 đồng trong tội Tổ chức đánh bạc và 10.000.000 đồng trong tội đánh bạc).

- Căn cứ điểm c khoản 1 và khoản 3 Điều 322, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Thị N, xử phạt bị cáo N 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xử phạt bổ sung số tiền 20.000.000 đồng đối với bị cáo N.

- Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321, các điểm s, r khoản 1 và khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với hai bị cáo Trần Thị T1 và Trần Văn T: Xử phạt bị cáo T1 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xử phạt bị cáo T 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xử phạt bổ sung số tiền 20.000.000 đồng đối với mỗi bị cáo T1 và T.

- Căn cứ các điểm c, d khoản 1 và khoản 3 Điều 322, các điểm s, r khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52, các điều 17, 38 và 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Ngô Trường T10. Xử phạt bị cáo T10 01 (Một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xử phạt bổ sung số tiền 20.000.000 đồng đối với bị cáo T10.

- Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Nguyễn Văn R, xử phạt bị cáo R 07 (Bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xử phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng đối với bị cáo R.

- Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 321, các điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 54, Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo Mai Thanh K, Lê Toàn T2, Nguyễn Thị Cà U. Xử phạt bị cáo K 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xư phạt bị cáo Toàn T2 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xử phạt bị cáo Cà U 05 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Xử phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng đối với mỗi bị cáo K, Toàn T2 và C.

- Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về kết tội, xử phạt đối với các bị cáo Ngô Trường T10, Trương Thị Cẩm V, Nguyễn Thị S1; xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo của các bị cáo theo quy định pháp luật.

* Ngày 22/8/2024, bị cáo Phạm Thị H kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt, vì Toà án Kế Sách xử phạt là quá nặng, quá nghiêm khắc so với hành vi phạm tội của bị cáo, cũng chưa thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

* Ngày 23/8/2024, lần lượt bị cáo Nguyễn Văn R, Trần Thị T1, Mai Thanh K, Nguyễn Thị Cà U, Lê Toàn T2 kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền là hình phạt chính.

* Ngày 23 và 26/8/2024, lần lượt bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Thị N kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho hưởng án treo.

Tại phiên toà phúc thẩm:

- Các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

- Luật sư bào chữa cho bị cáo N trình bày lời bào chữa: Bị cáo N không phạm tội gá bạc mà phạm tội đánh bạc. Đề nghị áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; Điều 357; Điều 65 của Bộ luật Hình sự cho bị cáo được hưởng án treo.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Sóc Trăng đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 356; Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021), không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình sự đối với các bị cáo và huỷ quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn R.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:

[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo và phạm vi xét xử phúc thẩm: Xét Đơn kháng cáo của các bị cáo Phạm Thị H, Nguyễn Văn R, Trần Thị T1, Mai Thanh K, Nguyễn Thị Cà U, Lê Toàn T2, Trần Văn T, Nguyễn Thị Ngọc L5 và nộp cho Tòa án cấp sơ thẩm vào các ngày 22, 23 và 26/8/2024 là đúng quy định về người kháng cáo, thời hạn kháng cáo, hình thức, nội dung kháng cáo theo quy định tại các điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021). Do đó, căn cứ vào Điều 345 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021), Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét nội dung kháng cáo của các bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

[2] Xét hành vi phạm tội của các bị cáo Phạm Thị H, Nguyễn Văn R, Trần Thị T1, Mai Thanh K, Nguyễn Thị Cà U, Lê Toàn T2, Trần Văn T, Nguyễn Thị Ngọc N4 sau: Vào khoảng 16 giờ ngày 10/9/2023, lực lượng công an kiểm tra bắt quả tang tại quán C1, thuộc ấp A, thị trấn A, huyện K, tỉnh Sóc Trăng, bị cáo Nguyễn Thị N có hành vi dùng địa điểm do mình quản lý để cho hai bị cáo Phạm Thị H và Ngô Trường T10 tổ chức cho các bị cáo Phạm Thị H, Trần Thị T1, Nguyễn Thị S1, Nguyễn Thị Cà U, Trần Văn T, Nguyễn Văn R, Lê Toàn T2, Mai Thanh K và Trương Thị Cẩm V đánh bạc trái phép ăn thua bằng tiền, với tổng số tiền dùng vào việc đánh bạc là 29.025.000 đồng (trong đó số tiền dùng để đánh bạc của từng bị cáo như sau: Phạm Thị H 800.000 đồng, Nguyễn Thị S1 13.425.000 đồng, Trương Thị Cẩm V 1.500.000 đồng, Lê Toàn T2 7.300.000 đồng, Trần Văn T 1.200.000 đồng, Nguyễn Thị Cà U 1.000.000 đồng, Mai Thanh K 3.300.000 đồng, Nguyễn Văn R 500.000 đồng). Bị cáo H phân công Ngô Trường T10 canh gác và phục vụ khi đánh bạc. Trước ngày bị bắt là ngày 09/9/2023 và các ngày khác, các bị cáo H và Trường T10 cũng đã tổ chức cho Trần Thị T1, Trần Văn T và một số người khác đánh bài được thua bằng tiền cũng tại quán cà phê L3. Do đó, Hội đồng xét xử sơ thẩm kết luận bị cáo Phạm Thị Hà P1 các tội “Tổ chức đánh bạc” và “Đánh bạc” theo quy định tại các điểm c, d, đ khoản 1 Điều 322 và khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo Ngô Trường T10 phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại các điểm c, d khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); bị cáo Nguyễn Thị N phạm tội “Gá bạc” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Các bị cáo Trần Văn T, Nguyễn Văn R, Mai Thanh K, Lê Toàn T2, Trần Thị T1, Trương Thị Cẩm V, Nguyễn Thị Cà U và Nguyễn Thị S1 đều phạm tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng quy định pháp luật.

[3] Xét kháng cáo xin giảm hình phạt tù của bị cáo Phạm Thị H, Hội đồng xét xử thấy: Khi lượng hình phạt đối với bị cáo thì Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xác định bị cáo có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự thú ra lần phạm tội trước đó; bị cáo tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính 500.000 đồng đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm hình phạt, nhưng không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) mà lẽ ra bị cáo được áp dụng nhưng cấp sơ thẩm chưa áp dụng cho bị cáo hoặc tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự mà cấp sơ thẩm áp dụng không đúng đối với bị cáo. Toà án cấp sơ thẩm căn cứ vào tính chất mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà bị cáo được áp dụng để quyết định mức hình phạt 07 tháng tù về tội “đánh bạc” và 01 năm 06 tháng tù về tội “tổ chức đánh bạc” là tương xứng. Do đó, kháng cáo của bị cáo H về việc xin giảm hình phạt là không có căn cứ để chấp nhận.

[4] Xét kháng cáo xin phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền là hình phạt chính của các bị cáo Nguyễn Văn R, Trần Thị T1, Mai Thanh K, Nguyễn Thị Cà U, Lê Toàn T2, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo T1 có 03 tiền sự về hành vi tàng trữ chất cấm và đánh bạc, trong đó có 01 tiền sự về hành vi đánh bạc bị Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang xử phạt 1.500.000 đồng theo Quyết định xử phạt hành chính số 25 ngày 26/4/2023, đã nộp phạt nhưng chưa được xem là chưa bị xử lý hành chính; Bị cáo Nguyễn Thị Cà U đã 01 lần bị Công an huyện C, tỉnh Hậu Giang xử phạt 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc theo Quyết định xử phạt hành chính số 05 ngày 24/02/2021. Tình hình tội phạm xâm phạm trật tự quản lý hành chính đang có chiều hướng gia tăng. Cấp sơ thẩm quyết định hình phạt tù là tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo. Việc áp dụng phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền là hình phạt chính đối với các bị cáo là không nghiêm. Do đó, kháng cáo của các bị cáo T1, K, C, Toàn T2 là không có căn cứ để chấp nhận. Đối với bị cáo Nguyễn Văn R có kháng cáo xin phạt cải tạo không giam giữ hoặc phạt tiền là hình phạt chính. Tuy nhiên, theo Trích lục khai tử số 61/TLKT ngày 23/9/2024 của Ủy ban nhân dân xã Đ, huyện C, tỉnh Hậu Giang thì bị cáo R đã chết lúc 07 giờ 00 phút ngày 09/9/2024. Do đó, chấp nhận đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát căn cứ khoản 2 Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021) huỷ quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn R.

[5] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Trần Văn T, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo bị cấp sơ thẩm xử phạt không quá 03 năm tù. Khi lượng hình phạt đối với bị cáo thì Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xác định bị cáo T có 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự thú ra lần phạm tội trước đó; Bị cáo T tự nguyện nộp lại số tiền dùng vào việc đánh bạc 300.000 đồng đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Tuy nhiên, tình hình tội phạm xâm phạm trật tự quản lý hành chính đang có chiều hướng gia tăng, việc cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện sẽ gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội và bị cáo thuộc trường hợp không đủ điều kiện hưởng án treo theo quy định tại khoản 5 Điều 3 của Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 4 năm 2022 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao. Do đó, kháng cáo của bị cáo về việc xin hưởng án treo là không có căn cứ chấp nhận.

[6] Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị N, Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo bị cấp sơ thẩm xử phạt không quá 03 năm tù. Khi lượng hình phạt đối với bị cáo thì Hội đồng xét xử sơ thẩm đã xác định bị cáo N không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đồng thời, Hội đồng xét xử sơ thẩm xác định bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau khi phạm tội bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, trình độ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế đây là các tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng. Tuy nhiên, tình hình tội phạm xâm phạm trật tự quản lý hành chính đang có chiều hướng gia tăng, việc cho bị cáo được miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện sẽ gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội. Do đó, kháng cáo của các bị cáo về việc xin hưởng án treo là không có căn cứ để chấp nhận.

Đối với các lý do nuôi con, cháu nhỏ, cha mẹ già, gia đình khó khăn, lao động chính sẽ được xem xét giai đoạn thi hành án.

[7] Từ những nhận định, phân tích trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm căn cứ vào Điều 355; Điều 356; Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021) chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, không chấp nhận đề nghị của người bào chữa, không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo, giữ nguyên án sơ thẩm và huỷ quyết định về hình sự của bản án sơ thẩm đối với bị cáo Nguyễn Văn R.

[8] Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên các bị cáo kháng cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.

[9] Các phần khác của bản án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355; Điều 356; khoản 7 Điều 157; khoản 2 Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021).

    Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của các bị cáo Phạm Thị H, Trần Thị T1, Mai Thanh K, Nguyễn Thị Cà U, Lê Toàn T2, Trần Văn T, Nguyễn Thị N.

    Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình sự đối với các bị cáo Phạm Thị H, Trần Thị T1, Mai Thanh K, Nguyễn Thị Cà U, Lê Toàn T2, Trần Văn T, Nguyễn Thị N của Bản án hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 13/8/2024 của Tòa án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng.

  2. Căn cứ vào các điểm c, d, đ khoản 1 và khoản 3 Điều 322 và khoản 1 và khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm s, r khoản 1 và khoản 2 Điều 51; các điều 17, 38, 55 và 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với bị cáo Phạm Thị H. Xử phạt bị cáo H 07 (Bảy) tháng tù tội “Đánh bạc” và 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù tội “Tổ chức đánh bạc”; buộc bị cáo H phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 02 (Hai) năm 01 (Một) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    Xử phạt bổ sung bị cáo H tổng số tiền 30.000.000 đồng (Trong đó, 20.000.000 đồng tội “Tổ chức đánh bạc.” và 10.000.000 đồng tội “Đánh bạc”).

  3. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Trần Thị T1 07 (Bảy) tháng tù tội “Đánh bạc”, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
  4. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017) đối với các bị cáo Mai Thanh K, Lê Toàn T2, Nguyễn Thị Cà U. Xử phạt:
    • - Bị cáo K 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
    • - Bị cáo Toàn T2 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
    • - Bị cáo Cà U 05 (Năm) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    Xử phạt bổ sung số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng) đối với mỗi bị cáo K, Toàn T2, C.

  5. Căn cứ vào khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm g khoản 1 Điều 52; các điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Trần Văn T 07 (Bảy) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    Xử phạt bổ sung bị cáo T số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

  6. Căn cứ vào điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị N 01 (Một) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

    Xử phạt bổ sung bị cáo N số tiền 20.000.000 đồng (Hai mươi triệu đồng).

  7. Căn cứ vào khoản 7 Điều 157; khoản 2 Điều 359 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2021).

    Căn cứ điểm b.2, tiểu mục b, mục 1; điểm a.2, tiểu mục a, điểm b.3, tiểu mục b, mục 2, phần II của Thông tư Liên tịch số 03/2000/TTLT-TANDTC-VKSNDTC ngày 25 tháng 12 năm 2000 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao.

    Huỷ phần trách nhiệm hình sự, án phí hình sự sơ thẩm, hình phạt bổ sung của Bản án Hình sự sơ thẩm số 50/2024/HS-ST ngày 13/8/2024 của Toà án nhân dân huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng đối với bị cáo Nguyễn Văn R.

  8. Về án phí hình sự phúc thẩm: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2021) và điểm a khoản 2 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Các bị cáo Phạm Thị H, Trần Thị T1, Mai Thanh K, Nguyễn Thị Cà U, Lê Toàn T2, Trần Văn T, Nguyễn Thị N mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí phúc thẩm.

  9. Các phần Quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  10. Bản án phúc thẩm này có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - TAND huyện Kế Sách (02);
  • - VKSND huyện Kế Sách (01);
  • - CQCSĐT-Công an huyện Kế Sách (01);
  • - CQTHAHS-Công an huyện Kế Sách (01);
  • - Chi cục THADS huyện Kế Sách (01);
  • - Bị cáo (08);
  • - PKTNV&THA-TAND tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - CQTHAHS- Công an tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - Phòng HSNV-Công an tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Sóc Trăng (01);
  • - Lưu HSVA, THS (04);

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Lê Vũ Huy Hoàng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HS-PT ngày 04/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG về hình sự phúc thẩm

  • Số bản án: 119/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 04/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH SÓC TRĂNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận KC
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger