|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI TỈNH QUẢNG NINH Bản án số: 119/2024/HS-ST Ngày: 29/11/2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: bà Đỗ Thị Thanh Huệ
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Giang
bà Đinh Thanh Hoàn
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Ngọc Lâm, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh tham gia phiên tòa: bà Tạ Thị Huyền, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 117/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 117/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thị B (tên gọi khác: không); sinh ngày 17/02/1981, tại: huyện Kiến Thuỵ, thành phố Hải Phòng;
Nơi đăng ký thường trú: khu 5, phường K, thành phố M, tỉnh Quảng Ninh; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nữ; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Công K và bà Vũ Thị B; chồng: Đỗ Đức C, con: 03 con, lớn sinh năm 2004 và nhỏ sinh năm 2015; tiền án, tiền sự: chưa; bị can bị bắt khẩn cấp ngày 03/8/2024, bị tạm giữ đến ngày 12/8/2024, được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú, tại phường Ka Long, thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh, thời hạn đến ngày 11/12/2024. Có mặt.
- Người chứng kiến: anh Nguyễn Thanh X, sinh năm: 1959. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu năm 2022, Bị cáo quen biết một người phụ nữ tên “A Chế” và biết “A Chế” có nguồn thuốc lá điếu do Trung Quốc sản xuất bán, nên bị cáo đã nảy sinh ý định mua thuốc lá điếu về bán kiếm lời. Trong khoảng thời gian từ tháng 01/2024 đến cuối tháng 7/2024, bị cáo đã nhiều lần mua thuốc lá điếu nhập lậu của “A Chế”. Đến khoảng
2
10 giờ, ngày 03/8/2024, khi bị cáo đem 16 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu chữ nước ngoài, màu trắng; 03 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu ESSE CHANGE DOUBLE, màu xanh-cam; 01 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu ESSE CHANGE, màu xanh; 02 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu ESSE CHANGE STRAWBERRY, màu đỏ; 02 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu SHUANGXI, màu đỏ; 02 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu NANJING, màu xanh, tổng cộng là 26 cây = 260 bao, đến quán nước tại khu vực vỉa hè phía trước cửa nhà số 38, đường Tuệ Tĩnh thuộc khu 4, phường Ka Long, thành phố Móng Cái để bán, nhưng chưa kịp bán thì bị Tổ công tác của Công an thành phố Móng Cái phối hợp với Đội kiểm soát Hải quan số 1 - Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh kiểm tra, bắt giữ. Ngoài ra, bị cáo còn tự nguyện khai báo và giao nộp 19 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu SHUANGXI, màu đỏ; 18 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu YELLOW CRANE TOWER, màu vàng; 10 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu ESSE CHANGE STRAWBERRY, màu đỏ; 11 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu ESSE CHANGE, màu đỏ; 62 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu ZHENLONG, màu vàng; 12 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu NANJING, màu xanh; 09 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu YUXI, màu đỏ-trắng; 10 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu LIQUN, màu đỏ-trắng; 09 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu FURONGWANG, màu xám; 06 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu FURONGWANG, bao dẹt, màu xám; 08 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu SEQUOIA, màu đỏ; 04 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu SHUANGXI since 1906, màu đỏ; 49 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu chữ nước ngoài, vỏ cây màu trắng; 08 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu FURONGWANG CLASS A, màu đen; 13 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu ZHENLONG, màu đen; 06 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu ZHENLONG, màu đỏ; 04 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu GOLDEN LEAF, màu vàng; 05 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu HUANGHELOU, màu vàng; 03 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu SEPTWOLVES, màu đỏ; 02 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu SEPTWOLVES 1995, màu xám; 15 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu HEHUA, màu xanh; 11 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu CHUNGHWA, màu đỏ; 07 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu NANJING, màu vàng; 21 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu HUANGHELOU, màu trắng; 22 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu HUANGHELOU, màu trắng, loại bao dẹt; 04 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu LIQUN, màu nâu; 04 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu GUIYAN, màu đen; 05 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu HARMONIZATION, màu tím, tổng cộng là 357 cây = 3.570 bao thuốc lá điếu, đang cất giấu tại chỗ ở của bị cáo số nhà 35, ngõ 108, đường Yết Kiêu thuộc khu 5, phường Ka Long, thành phố Móng Cái.
Tổng số lượng thuốc lá điếu nhập lậu đã phát hiện, thu giữ của bị cáo là 383 cây = 3.830 bao thuốc lá điếu, loại 10 bao/cây, 20 điếu/bao. Ngoài ra, còn tạm giữ của bị cáo 01 điện thoại di động nhãn hiệu iPhone XS Max màu vàng, gắn sim số 0368.685.029.
Tại Chứng thư giám định về tình trạng và nguồn gốc số 24D06GCV00094-01 ngày 09/8/2024, của Vinacontrol Quảng Ninh, kết luận: lô hàng gồm 383 cây = 3.830 bao thuốc lá điếu ghi thu của Nguyễn Thị Ban, gửi giám định, không sản xuất tại Việt Nam. Lô hàng thuốc lá điếu trên, đều bị ẩm mốc, hư hỏng, không còn giá trị sử dụng.
3
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Ngoài ra, bị cáo khai đã mua và bán thuốc lá điếu cho nhiều người trước đó, nhưng không nhớ rõ là ai, số lượng, chủng loại cụ thể.
Về xử lý vật chứng: đối với 2.920 bao thuốc lá điếu còn lại sau giám định, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Móng Cái đã ra Quyết định tiêu hủy.
Người chứng kiến anh Nguyễn Thanh X trong quá trình điều tra có lời khai thể hiện như nội dung vụ án.
Bản cáo trạng số: 2356/CT - VKSMC ngày 14/11/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị B về tội “Buôn bán hàng cấm”, theo quy định tại điểm e khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa: bị cáo khai lại toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung vụ án và quá trình điều tra.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo như nội dung Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng: điểm e khoản 2, khoản 4 Điều 190; điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; khoản 1, 2, 3, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B 36 (ba mươi sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, về tội “Buôn bán hàng cấm”.
- Về hình phạt bổ sung: xử phạt bị cáo số tiền từ 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) đến 25 (hai mươi lăm) triệu đồng.
Về vật chứng:
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng bên trong có gắn sim, điện thoại đã qua sử dụng.
Bị cáo không tranh luận với lời luận tội của Đại diện Viện kiểm sát và nói lời sau cùng đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- [1] Về tố tụng: hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Móng Cái, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- [2] Nhận định của Hội đồng xét xử về những chứng cứ xác định bị cáo có tội. Đánh giá các lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa; lời khai của người làm chứng; Chứng thư giám định về tình trạng và nguồn gốc số 24D06GCV00094-01 ngày 09/8/2024, của Vinacontrol và các tài liệu, chứng cứ khác
4
- có trong hồ sơ vụ án; Hội đồng xét xử xét thấy có đủ cơ sở kết luận: ngày 03/8/2024, tại khu 4 và khu 5, phường Ka Long, thành phố Móng Cái, bị cáo có hành vi cất giấu trái phép 3.830 (Ba nghìn tám trăm ba mươi) bao thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất, mục đích để bán kiếm lời, bị Công an thành phố Móng Cái phối hợp với Đội kiểm soát Hải quan số 1 - Cục Hải quan tỉnh Quảng Ninh kiểm tra, phát hiện bắt, thu giữ vật chứng.
Hành vi của bị cáo đã phạm vào tội: “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, đó là chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm (thuốc lá điếu). Nhưng vì mục đích lợi nhuận bị cáo đã có hành vi tàng trữ thuốc lá điếu do nước ngoài sản xuất với số lượng lớn nhằm mục đích bán kiếm lời. Do đó quan điểm truy tố và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Móng Cái là có căn cứ pháp lý.
- [3] Xét tính chất, mức độ của hành vi: hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, đó là chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm (thuốc lá điếu). Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, cần xử lý nghiêm, mới có tác dụng giáo dục bị cáo và phục vụ công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm, phòng ngừa chung.
- [4] Về áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt bổ sung.
- - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Sau khi bị kiểm tra hành chính tại quán nước của bị cáo, bị cáo đã tự nguyện khai báo việc cất giấu thêm số lượng thuốc lá điếu nhập lậu tại nơi ở, nên được hưởng tình tiết “Người phạm tội tự thú”. Bên cạnh đó chính quyền địa phương cũng xác nhận gia đình bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, phải chăm sóc bố mẹ đẻ bị tai biến và nuôi 3 (ba) con nhỏ, chồng bị cáo không có công việc ổn định. Do đó bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo là người có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội, tự thú và thành khẩn khai báo, nên áp dụng khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt mà điều luật đã quy định, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà cải tạo mình cho tốt, trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.
- Về hình phạt bổ sung: phạt bị cáo số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng).
- [5] Sau khi xem xét, đánh giá tính chất của vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng. Do đó xét thấy không cần phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, nên Hội đồng xét xử chấp
5
nhận theo đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho bị cáo được cải tạo, giáo dục tại địa phương để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo thành công dân có ích cho xã hội.
- [6] Về vật chứng:
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng bên trong có gắn sim, điện thoại đã qua sử dụng.
Đối với 2.920 bao thuốc lá điếu còn lại sau giám định, Cơ quan Cảnh sát điều tra công an thành phố Móng Cái đã ra Quyết định tiêu hủy.
- [7] Về nghĩa vụ chịu án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
- [8] Về quyền kháng cáo: bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
- [9] Đối với Người phụ nữ bị cáo khai là A Chế bán thuốc là điếu nhập lậu cho bị cáo, quá trình điều tra không xác định được lai lịch, địa chỉ cụ thể, nên không có căn cứ để xử lý.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- 1. Căn cứ vào: điểm e khoản 2, khoản 4 Điều 190; điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, khoản 1, 2, 3, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị B 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, Thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Buôn bán hàng cấm” và phạt số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) nộp sung ngân sách nhà nước.
Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đã áp dụng đối với các bị cáo theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 542 /LCCC, ngày 12/8/2024 của Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh.
- 2. Về vật chứng và xử lý vật chứng:
Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng bên trong có gắn sim, điện thoại đã qua sử dụng.
- 3. Về án phí:
Áp dụng: khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Thị B phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
- 4. Về quyền kháng cáo:
Áp dụng: khoản 1 Điều 331 và khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa Đỗ Thị Thanh Huệ |
Bản án số 119/2024/HS-ST ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH về buôn bán hàng cấm (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 119/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Buôn bán hàng cấm (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ MÓNG CÁI, TỈNH QUẢNG NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: 1. Căn cứ vào: điểm e khoản 2, khoản 4 Điều 190; điểm s, r khoản 1, 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, khoản 1, 2, 3, 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ban 36 (ba mươi sáu) tháng tù cho hưởng án treo, Thời gian thử thách là 60 (sáu mươi) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội “Buôn bán hàng cấm” và phạt số tiền 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng) nộp sung ngân sách nhà nước. Căn cứ vào điểm d khoản 1 Điều 125 Bộ luật Tố tụng hình sự, hủy bỏ biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú” đã áp dụng đối với các bị cáo theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 542 /LCCC, ngày 12/8/2024 của Công an thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh. 2. Về vật chứng và xử lý vật chứng: Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu vàng bên trong có gắn sim, điện thoại đã qua sử dụng. 3. Về án phí: Áp dụng: khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo Nguyễn Thị Ban phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
