TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 119/2024/HS-PT
Ngày 29 tháng 11 năm 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Nguyễn Duy Sơn.
Các Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Thu Hiền và ông Nguyễn Xuân Trọng.
- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Trần Bích Huệ - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Ánh Nguyệt - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc, xét xử công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 125/2024/TLPT-HS ngày 09 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Phùng Thị Hồng N do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 129/2024/HS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
- Bị cáo có kháng cáo:
Họ và tên: Phùng Thị Hồng N (tên gọi khác: Không), sinh năm 2000 tại xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; Nơi HKTT và chỗ ở: Thôn V, xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Lớp 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn thể: Không; con ông Phùng Quang H và Lương Thị P; có chồng là Trần Văn M và chưa có con; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo tại ngoại tại địa phương, (có mặt).
- Người bào chữa cho bị cáo Phùng Thị Hồng N: Bà Vũ Ngọc Thanh H1 - Luật sư Công ty L thuộc Đoàn Luật sư thành phố H, (có mặt).
Ngoài ra trong vụ án còn có bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, kháng nghị Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phùng Thị Hồng N có quen biết với chị Hoàng Thị H2 do cả hai cùng làm việc tại sân golf Đầm Vạc. N và chị H2 thuê cùng khu trọ tại tổ dân phố Đ, phường K, thành phố V nên thường xuyên sang phòng trọ của nhau chơi. Đầu năm 2020, chị H2 mua điện thoại Iphone 13 Promax, khi sử dụng điện thoại chị H2 có nhờ N kiểm tra và cài đặt máy. Quá trình cài đặt, N có đặt mật khẩu bằng cách nhận diện khuôn mặt của chị H2 và nhận diện khuôn mặt của N. Khoảng tháng 10/2023, khi chị H2 và N cùng nhau đi chơi thì chị H2 nhờ N lấy điện thoại của chị H2 để chụp ảnh. Quá trình sử dụng điện thoại N phát hiện khi mở máy điện thoại bằng cách nhận diện khuôn mặt N cũng có thể mở được các phần mềm Smartbanking ngân hàng của chị H2 sử dụng. Từ đó, N nảy sinh mục đích chiếm đoạt tiền từ tài khoản của chị H2 để tiêu xài cá nhân. Trong khoảng thời gian từ ngày 08/10/2023 đến ngày 01/3/2024, N đã 02 lần thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chị H2 thông qua việc truy cập vào tài khoản ngân hàng của chị H2 và chuyển tiền. Cụ thể:
Lần thứ nhất:
Do N biết chị H2 đang sử dụng 01 thẻ tín dụng Ngân hàng M2 (Thương mại Cổ phần Q1), số thẻ: 4726740011546997, với hạn mức 200.000.000 đồng và sử dụng điện thoại Iphone 13 Promax đã cài đặt phần mềm Smartbanking để thực hiện các giao dịch chuyển khoản, chị H2 thường để thẻ tín dụng tại ngăn kéo chiếc bàn gỗ kê sát giường ngủ. Ngày 06/10/2023, khi N sang phòng chị H2 chơi, lợi dụng lúc chị H2 đi vệ sinh, N đã tìm và lấy trộm thẻ tín dụng của chị H2 rồi đem về phòng cất giấu, sau đó N truy cập vào mạng xã hội facebook để tìm các trang rút tiền qua thẻ tín dụng thì thấy có bài viết đăng quảng cáo kèm theo số điện thoại liên hệ (do sự việc xảy ra đã lâu, N không nhớ số điện thoại của người này, kiểm tra máy điện thoại của N không còn lưu giữ số điện thoại của người này). Sau đó N gọi điện liên hệ đến số điện thoại này thì có một nam giới nghe máy, thỏa thuận với N mức phí rút tiền là 1,7% trên tổng số tiền rút được thì N đồng ý. Khoảng 11 giờ 45 phút ngày 08/10/2023, N đến quán nước gần lối vào Siêu thị C, thuộc phường K, thành phố V gặp người nam giới trên. N đưa thẻ tín dụng của chị H2 cho nam giới này và yêu cầu rút số tiền 150.000.000 đồng từ thẻ tín dụng của chị H2 rồi chuyển tiền đến tài khoản của N thì được nam giới cho biết khi rút tiền từ thẻ tín dụng thì không chuyển được qua tài khoản tên người khác mà chỉ chuyển được qua tài khoản đứng tên chính chủ của thẻ tín dụng. N đồng ý và yêu cầu nam giới trên chuyển tiền rút được về tài khoản số 3590144736152, Ngân hàng M2 của chị H2. Sau đó, nam giới trên tiến hành thao tác quẹt thẻ số tiền 150.000.000 đồng và chuyển số tiền 147.450.000 đồng (sau khi đã trừ phí) vào tài khoản ngân hàng số 3590144736152, Ngân hàng M2 của chị H2. Do N và chị H2 là bạn thân nên N biết nếu điện thoại của N không liên lạc được thì gia đình N sẽ liên hệ với chị H2, do vậy N tắt máy điện thoại của mình. Tối cùng ngày 08/10/2023, khi N về
2
phòng trọ thì chị H2 đi sang phòng trọ của N và nói có em gái N là Phùng Thị Ánh T gọi điện cho N không được nên nhờ chị H2 liên lạc hộ, N nói dối chị H2 là điện thoại N bị hỏng để mượn điện thoại của chị H2 gọi điện cho gia đình được chị H2 đồng ý. Trong lúc N gọi điện thoại thì chị H2 về phòng tắm, vì vậy N đã mở khoá điện thoại, mở ứng dụng Smartbanking của Ngân hàng M2 rồi đăng nhập vào tài khoản số 3590144736152 của chị H2 qua xác thực khuôn mặt. Sau đó, N thực hiện thao tác chuyển vào tài khoản số [...], Ngân hàng V của anh Nguyễn Văn B có hộ khẩu tại xã T, huyện L số tiền 147.150.000 đồng để trả số tiền N nợ anh B là 26.150.000 đồng, số tiền còn lại là 121.000.000 đồng, N nhờ anh B chuyển khoản lại vào số tài khoản 0020120102000, Ngân hàng M2 của N, anh B đồng ý. Sau khi thực hiện các giao dịch trên, N xóa hết các tin nhắn thông báo của Ngân hàng gửi về máy điện thoại của chị H2 và trả điện thoại cho chị H2 (chị H2 chưa đọc các tin nhắn thông báo nên không phát hiện ra việc N chiếm đoạt tiền từ tài khoản của chị H2). Sau khi chiếm đoạt tiền của chị H2, khoảng 19 giờ 45 ngày 08/10/2023, N sử dụng tài khoản ngân hàng chuyển số tiền 70.000.000 đồng cho anh Nguyễn Huy P1, trú tại tổ dân phố Đ, phường Đ, thành phố V để trả số tiền N nợ anh P1 (do thiếu tiền tiêu xài cá nhân nên trước đó N đã bán 02 chiếc xe máy cho anh P1 và hẹn khi nào có tiền thì sẽ mua lại 02 chiếc xe máy trên), số tiền 41.000.000 đồng còn lại N đã tiêu xài cá nhân hết. Khoảng 18 giờ 00 ngày 09/10/2023, N sang phòng trọ chị H2 chơi và lợi dụng lúc chị H2 đi vệ sinh N đã trả chiếc thẻ tín dụng vào vị trí ban đầu tại ngăn kéo tủ gỗ kê trong phòng trọ của chị H2.
Lần thứ hai:
Ngày 01/03/2024, chị H2 phải nhập viện điều trị tại Bệnh viện sản nhi tỉnh V nên N vào viện chăm sóc chị H2. Quá trình chăm sóc, khoảng 11 giờ cùng ngày 01/3/2024, thấy chị H2 đi vệ sinh không mang theo điện thoại nên N nảy sinh mục đích chiếm đoạt tiền trong tài khoản ngân hàng của chị H2 để lấy tiền tiêu xài cá nhân. N biết chị H2 có sử dụng tài khoản Ngân hàng T1, số A và cài đặt ứng dụng T1 trên chiếc điện thoại Iphone 13 Promax của chị H2, do vậy N đã lấy điện thoại của chị H2 sau đó mở ứng dụng T1 của chị H2. Vì mục đích để chị H2 không phát hiện việc chiếm đoạt tiền thì N không trực tiếp chuyển tiền từ tài khoản của chị H2 vào tài khoản của N mà N nhắn tin cho em gái N là chị M1 qua ứng dụng Messenger với nội dung nhờ M1 mượn số tài khoản của bạn M1 để N chuyển khoản do tài khoản của N đang bị lỗi, sau khi nhận được tiền thì chuyển lại vào tài khoản của N số 0963387692, Ngân hàng B1 (tài khoản đứng tên N), được chị M1 đồng ý. Chị M1 mượn được tài khoản Ngân hàng M2, số tài khoản 0988159481 của chị Dương Thị Phương Q, sinh năm 2007, trú tại thôn H, xã L, huyện V, tỉnh Vĩnh Phúc và gửi số tài khoản trên cho N. Sau đó, N sử dụng tài khoản ngân hàng của chị H2 thực hiện 02 giao dịch chuyển khoản, với số tiền chuyển khoản mỗi lần là 927.000 đồng (tổng số tiền chuyển khoản hai lần là 1.854.000 đồng) đến tài khoản ngân hàng của chị Q. Sau khi thực hiện xong các giao dịch, N xóa hết các tin nhắn thông báo giao
3
dịch gửi về máy chị H2 và trả máy về vị trí cũ để chị H2 không phát hiện. Sau khi thực hiện các giao dịch, chị M1 có xin tiền N để lấy tiền đi ăn cưới, N đồng ý và bảo chị M1 khi chị Q chuyển khoản cho N thì chị Q chuyển số tiền 1.427.000 đồng cho N, số tiền 427.000 đồng còn lại thì đưa chị M1. Sau đó, N nhận được số tiền 1.427.000 đồng chuyển từ tài khoản của chị Q, số tiền này N đã tiêu xài cá nhân hết.
Quá trình giải quyết vụ án, Cơ quan CSĐT Công an thành phố V ra quyết định trưng cầu Phòng K Công an tỉnh V giám định kỹ thuật số điện tử đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Promax, màu xanh, số seri: NQ9QMT226Y của N.
Tại bản Kết luận giám định số 1533/KLKTHS, ngày 31/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh V kết luận: Khôi phục trích xuất dữ liệu trong mẫu vật gửi giám định. Qua phân tích, tìm kiếm dữ liệu theo yêu cầu giám định thu được kết quả: 10 cuộc gọi ứng dụng Zalo, 29 tin nhắn ứng dụng Messenger, 108 tin nhắn ứng dụng Zalo. Không tìm thấy trong các cuộc gọi, tin nhắn nêu trên có nội dung nào liên quan đến việc hay đối tượng liên quan đến việc rút tiền từ thẻ tín dụng.
Với nội dung trên, tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 129/2024/HS-ST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phùng Thị Hồng N phạm tội "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản".
Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Phùng Thị Hồng N 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 04 tháng 9 năm 2024 bị cáo Phùng Thị Hồng N có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin hưởng án treo. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét.
Kiểm sát viên, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên theo hướng giữ nguyên hình phạt 02 năm 06 tháng tù và cho bị cáo hưởng án treo.
Bị cáo Phùng Thị Hồng N và Luật sư bào chữa có quan điểm thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn
4
thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản" là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai. Bị cáo và Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử cân nhắc, xem xét tạo điều kiện cho bị cáo hưởng án treo, cải tạo ngoài xã hội để có cơ hội hoàn lương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị cáo Phùng Thị Hồng N trong thời hạn luật định, hợp lệ được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết.
[2] Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên; VKSND thành phố Vĩnh Yên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[3] Về nội dung: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Bản án sơ thẩm đã tóm tắt nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo tại cơ quan điều tra và lời nhận tội tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với lời khai của người làm chứng, phù hợp với kết luận giám định của cơ quan chuyên môn cùng các tài liệu, chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Từ đó có đủ căn cứ để kết luận: Xuất phát từ mục đích tư lợi, muốn có tiền chi tiêu cá nhân và trả nợ, trong thời gian từ ngày 08/10/2023 đến ngày 01/3/2024, Phùng Thị Hồng N đã 02 lần thực hiện hành vi truy cập bất hợp pháp vào các tài khoản Ngân hàng M2 và T1 của chị Hoàng Thị H2 để chiếm đoạt của chị H2 tổng số tiền 151.854.000 đồng, trong đó lần thứ nhất N chiếm đoạt của chị H2 số tiền 150.000.000 đồng, lần thứ hai N chiếm đoạt của chị H2 số tiền 1.854.000 đồng thì bị phát hiện. Quá trình giải quyết vụ án Phùng Thị Hồng N đã hoàn trả đầy đủ số tiền đã chiếm đoạt cho chị Hoàng Thị H2 và được chị H2 có đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Căn cứ vào lời khai của bị cáo Phùng Thị Hồng N tại phiên tòa và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án, thấy rằng cấp sơ thẩm đã điều tra, truy tố và xét xử bị cáo Phùng Thị Hồng N về tội "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản" theo điểm b, đ khoản 2 Điều 290 Bộ luật Hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng người, đúng tội đúng pháp luật không oan sai.
Về tính chất của vụ án là tội phạm nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Do vậy cần xử lý nghiêm nhằm mục đích giáo dục riêng, phòng ngừa chung, phục vụ tốt nhiệm vụ giữ vững an ninh trật tự tại địa phương và làm gương cho người khác.
5
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, xin hưởng án treo của bị cáo Phùng Thị Hồng N, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng:
Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào tính chất, mức độ thực hiện tội phạm, căn cứ vào nhân thân của bị cáo, giá trị tài sản bị chiếm đoạt và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra để xử phạt bị cáo Phùng Thị Hồng N 02 năm 06 tháng tù là phù hợp quy định của pháp luật, tương xứng với hành vi do bị cáo thực hiện. Do vậy, không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo Phùng Thị Hồng N. Tuy nhiên, quá trình chuẩn bị xét xử phúc thẩm bị cáo xuất trình tài liệu chứng cứ mới thể hiện gia đình bị cáo có công với nước được khen thưởng. Cụ thể là ông bà nội bị cáo có công trong cuộc kháng chiếm chống Mỹ cứu nước được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng Nhất; ông ngoại là thương binh hạng 4/4; bị cáo hiện đang có thai được cơ quan y tế có thẩm quyền xác nhận. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mới để Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét yêu cầu kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo. Bị cáo Phùng Thị Hồng N được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: Quá trình giải quyết vụ án luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ số tiền đã chiếm đoạt cho bị hại và được bị hại có đề nghị giảm nhẹ hình phạt; người thân trong gia đình có công với nhà nước khen thưởng; bị cáo là phụ nữ hiện đang có thai. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự bị cáo Phùng Thị Hồng N không bị áp dụng tình tiết nào theo quy định của pháp luật.
Xét thấy trước khi phạm tội bị cáo Phùng Thị Hồng N là người có nhân thân tốt, lần đầu bị xử lý trước pháp luật, được áp dụng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự (cụ thể là 03 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, n, s khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự) và không bị áp dụng tình tiết tăng nặng nào; bị cáo có nơi cư trú ổn định rõ ràng; gia đình bị cáo thuộc diện có công với nhà nước, bản thân là phụ nữ tuổi đời còn trẻ, nghĩ sao làm vậy không lường trước được hậu quả xảy ra. Vì vậy, việc bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là không cần thiết, nên cho bị cáo hưởng án treo cải tạo tại địa phương là phù hợp, vừa đảm bảo mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Việc cho bị cáo Phùng Thị Hồng N hưởng án treo, cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát, giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục riêng, không ảnh hưởng tới việc đấu tranh phòng chống tội phạm nói chung, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Do vậy, Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của Phùng Thị Hồng N là thể hiện sự nhân đạo và phù hợp quy định của pháp luật.
[5] Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc và Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo là có căn cứ, phù hợp quy định của pháp luật cần chấp nhận.
6
[6] Về án phí: Yêu cầu kháng cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Phùng Thị Hồng N; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 129/2024/HSST ngày 30 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.
Tuyên bố bị cáo Phùng Thị Hồng N phạm tội "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản".
Áp dụng điểm b, đ khoản 2 Điều 290; điểm b, n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Phùng Thị Hồng N 02 (Hai) năm 06 (S) tháng tù về tội “Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản” cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 05 (Năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Phùng Thị Hồng N cho Uỷ ban nhân dâ xã T, thành phố V, tỉnh Vĩnh Phúc theo dõi, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách của án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Phùng Thị Hồng N không phải chịu phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |
7
| Nguyễn Duy Sơn |
8
Bản án số 119/2024/HS-PT ngày 29/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC về sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 119/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 29/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phùng Thị Hồng N phạm tội "Sử dụng mạng máy tính, mạng viễn thông, phương tiện điện tử thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản"
