Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2024/DSPT

Ngày: 29-11-2024

V/v “Tranh chấp đòi lại đất lấn

chiếm và buộc di dời mồ mã, cây

trồng trên đất lấn chiếm”

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Cao Thị Thanh Huyền.

Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Hà.

Ông Lưu Anh Tuấn.

Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Trà My - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai: Bà Nguyễn Thị Thanh Bình - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 29 tháng 11 năm 2024, tại Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 63/2024/TLPT-DS ngày 07 tháng 8 năm 2024 về “Tranh chấp đòi lại đất lấn chiếm và buộc di dời mồ mã, cây trồng trên đất lấn chiếm".

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2024/DS-ST ngày 18 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 231/2024/QĐ-PT ngày 04 tháng 9 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trần Thị S, sinh năm 1942; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Thành N, sinh năm 1977; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai (theo văn bản ủy quyền ngày 24-9-2024). Ông N có mặt.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Bá T, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. Ông T có mặt.
  4. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Bà Trần Thị L, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện M, tỉnh Gia Lai. Bà L có mặt.
  5. Người kháng cáo: Bị đơn là ông Nguyễn Bá T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị L.
  6. Viện kiểm sát kháng nghị: Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

  1. Theo nội dung đơn khởi kiện của nguyên đơn và người đại diện hợp pháp của nguyên đơn là ông Nguyễn Thành N trình bày:

    Ngày 17-7-2006, bà Trần Thị S được Ủy ban nhân dân huyện M cấp thửa đất số 26; tờ bản đồ số 73; diện tích 8057m²; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AE 012084 tại thôn C, xã Đ, huyện M; có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đường kích thước 36,55m; phía Tây giáp đường kích thước 41,57m; phía Nam giáp đất bà Trần Thị N1 kích thước 22,8m+181,5m; phía Bắc giáp đất ông Nguyễn Bá T kích thước 198,95m.

    Năm 2023, bà S muốn bán một phần diện tích đất cho con lấy vốn làm ăn thì phát hiện ông Nguyễn Bá T có lấn chiếm phần diện tích đất phía Tây giáp đất ông T kích thước 1,47m và phía Đông giáp đất ông T kích thước 2,55m; chiều dài 198,95m; trị giá khoảng 25.000.000 đồng. Bà S yêu cầu nhưng ông T không trả đất nên có yêu cầu giải quyết và được Ủy ban nhân dân xã Đ hòa giải nhiều lần nhưng các bên không thể thương lượng giải quyết. Hậu quả là người đến mua đất của bà S đã đặt cọc tiền nhưng không mua được đất vì Văn phòng đăng ký đất đai huyện M cho rằng đất đang có tranh chấp không được sang nhượng ở bất kỳ phía nào của toàn bộ diện tích đất nên bà Trần Thị S khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc ông Nguyễn Bá T và bà Trần Thị L phải trả lại phần diện tích đã lấn chiếm, tháo dỡ toàn bộ cây trồng, bờ rào và hai ngôi mộ trên đất để trả lại nguyên trạng đất cho bà S.

  2. Bị đơn là ông Nguyễn Bá T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị L trình bày:

    Năm 1987, ông T được Hợp tác xã A cấp cho thửa đất để canh tác, sinh sống. Từ thời điểm đó vợ chồng ông T canh tác không có tranh chấp với ai. Đến năm 1988, vợ ông T hư thai nên có chôn con ngay phần ranh đất giữa ông T và bà Trần Thị S. Đến năm 2006, ông T được Nhà nước cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: AE012115. Lúc đó không biết địa chính xã đã đo thế nào mà biến phần đất của ông T (phần đang tranh chấp hiện tại) thành đất của bà S. Cho nên, ông T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bởi phần đất tranh chấp này ông T đã sử dụng ổn định trồng cà phê mít từ năm 1987, có 02 mộ phần con ông T năm 1988. Ông T không lấn đất mà do địa chính xã đo đạc sai dẫn đến diện tích đất được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông T không đúng hiện trạng thực tế đất đang sử dụng, phần đất đang tranh chấp đúng ra là của ông T chứ không phải của bà S, khi được cấp đất bà Trần Thị S cũng đã ký giáp ranh đất cho ông T, nên ông T không lấn đất của bà S.

  3. Tại bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2024/DS-ST ngày 18-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai đã quyết định:

    Áp dụng khoản 9 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 228, Điều 235, Điều 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

    Áp dụng Điều 158, khoản 1 Điều 163, khoản 2 Điều 164, khoản 1 Điều 166 của Bộ luật Dân sự.

    Áp dụng Điều 6, Điều 100, khoản 1 Điều 166, Điều 170, khoản 1 Điều 203 của Luật đất đai.

    Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trần Thị S về việc “Tranh chấp đòi lại đất lấn chiếm và buộc di dời mồ mã, cây trồng trên đất lấn chiếm”.

    Buộc bị đơn ông Nguyễn Bá T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Trần Thị L phải trả cho bà Trần Thị S 42.000.000 đồng tương ứng phần diện tích đất lấn chiếm phía Tây giáp đất ông T kích thước 1,47m và phía Đông giáp đất ông T kích thước 2,55m; chiều dài giáp ranh 198,95m.

    Buộc bà Trần Thị S phải giao cho ông Nguyễn Bá T và bà Trần Thị L diện tích đất lấn chiếm nêu trên phía Tây giáp đất ông T kích thước 1,47m và phía Đông giáp đất ông T kích thước 2,55m; chiều dài giáp ranh là 198,95m.

    Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên nghĩa vụ chịu chi phí tố tụng, nghĩa vụ chịu án phí dân sự sơ thẩm và tuyên quyền kháng cáo của các đương sự.

  4. Kháng cáo, kháng nghị:

    Ngày 26-6-2024, bị đơn là ông Nguyễn Bá T và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị L có đơn kháng cáo đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử lại toàn bộ vụ án.

    Ngày 01-7-2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai kháng nghị, đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm theo hướng hủy bản án dân sự sơ thẩm.

    Nguyên đơn không kháng cáo.

  5. Tại phiên toà phúc thẩm:
    • Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện.
    • Bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan giữ nguyên nội dung kháng cáo.
    • Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
    • Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Thư ký Tòa án, Hội đồng xét xử phúc thẩm, người tham gia tố tụng bảo đảm theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tòa án cấp phúc thẩm đã khắc phục được những vi phạm về thu thập chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm; vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Gia Lai đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang; sửa bản án dân sự sơ thẩm, theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về nội dung kháng cáo, kháng nghị:

Quyền sử dụng của thửa đất số 26; tờ bản đồ số 73; địa chỉ tại thôn C, xã A (nay là xã Đ), huyện M, tỉnh Gia Lai; diện tích 8057m² (gồm 400m² đất ở tại nông thôn và 7657m² đất trồng cây lâu năm) là của bà Trần Thị S và đã được Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 012084 ngày 17-7-2006; thửa đất có tứ cận: Phía Đông giáp đường có cạnh dài 36,55m; phía Tây giáp đường có cạnh dài 41,57m; phía Nam giáp đất bà Trần Thị N1 có cạnh dài 22,8m+181,5m; phía Bắc giáp đất ông Nguyễn Bá T có cạnh dài 198,95m.

Quyền sử dụng của thửa đất số 25; tờ bản đồ số 73; địa chỉ tại thôn C, xã A (nay là xã Đ), huyện M, tỉnh Gia Lai; diện tích 5891m² (gồm 400m² đất ở tại nông thôn và 5491m² đất trồng cây lâu năm) là của ông Nguyễn Bá T, bà Trần Thị L và đã được Ủy ban nhân dân huyện M, tỉnh Gia Lai cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AE 012115 ngày 17-7-2006; thửa đất có tứ cận: Phía Đông giáp đường có cạnh dài 26,78m; phía Tây giáp đường có cạnh dài 32,33m; phía Nam giáp đất bà Trần Thị S có cạnh dài 198,95m; phía Bắc giáp thửa đất số 21 có cạnh dài 195,48m.

Ngày 16-01-2024, Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ đối với hiện trạng sử dụng đất của các đương sự, xác định phần diện tích đất đang tranh chấp có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đường có cạnh dài 2,55m; phía Tây giáp đường có cạnh dài 1,47m; phía Nam giáp phần đất còn lại của bà Trần Thị S có cạnh dài 198,95m; phía Bắc giáp đất ông Nguyễn Bá T, bà Trần Thị L có kích thước 199,15m. Trên phần diện tích đất đang tranh chấp, bị đơn có trồng có 78 cây bạch đàn tái sinh năm thứ 3, 39 cây cà phê mít, 3 bụi chuối và 2 ngôi mộ trẻ sơ sinh chỉ quây bằng các viên gạch.

Quá trình tham gia tố tụng, ông Nguyễn Bá T không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thọ S1 bởi phần đất tranh chấp này ông đã sử dụng ổn định trồng cà phê mít từ năm 1987, có 2 mộ phần của con ông T được chôn cất từ năm 1988. Ông Nguyễn Bá T cho rằng ông không lấn đất mà do địa chính xã đo đạc sai dẫn đến diện tích đất được cấp theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của ông ít hơn so với hiện trạng thực tế đất ông đang sử dụng và phần đất đang tranh chấp đúng ra là của ông chứ không phải của bà Trần Thị S, khi được cấp đất bà Trần Thị S cũng đã ký giáp ranh đất cho ông Nguyễn Bá T, nên ông Nguyễn Bá T không lấn chiếm đất của bà Trần Thị S.

Ngày 07-10-2024, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh G - Chi nhánh huyện M cung cấp cho Tòa án cấp phúc thẩm hồ sơ giấy tờ liên quan đến việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của bà Trần Thị S và ông Nguyễn Bá T. Tại Đơn xin xác minh nguồn gốc đất đề ngày 04-12-2005, bà Trần Thị S kê khai kích thước của thửa đất thể hiện thửa đất rộng 30m và được ba nhân chứng là ông Phạm Văn M, ông Trần B và bà Võ Thị Đ ký xác nhận biết rõ nguồn gốc, vị trí tứ cận và diện tích thửa đất bà Trần Thị S đang sự dụng; sau đó, Ủy ban ban nhân dân xã A và Ủy ban mặt trận Tổ quốc Việt Nam xã A đã ký xác nhận vào Đơn xin xác minh nguồn gốc đất này. Tuy nhiên, Ủy ban nhân dân huyện M lại cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà Trần Thị S có chiều rộng của thửa đất là 36,55m là nhiều hơn so với kê khai và chưa phù hợp với thực tế sử dụng đất của bà Trần Thị S.

Theo kết quả xác minh ngày 21-11-2024, thì hiện trạng ranh giới giữa hai thửa đất nêu trên từ mét thứ nhất của đường đi 3,2m đến mét thứ 30 là hàng rào lưới B40 và có trồng phân cách bởi hàng cà phê mít gồm 8 cây trồng từ năm 1987; từ mét thứ 30 đến mét thứ 40 có hai ngôi mộ, trong đó có một ngôi mộ nằm trên đường ranh giới giữa hai thửa đất; từ mét thứ 40 đến hết chiều dài thửa đất là hàng bạch đàn 78 cây, xen giữa hàng bạch đàn có 11 cây cà phê mít trồng năm 1998 và 5 cây cà phê mít được trồng dặm. Giáp với phía Bắc của ranh giới giữa hai thửa đất có hàng rào bằng dây kẽm gai, phía đất của bà Trần Thị S còn nhiều gốc cây keo tiếp giáp hàng rào dây kẽm gai.

Như vậy, có căn cứ để xác định ông Nguyễn Bá T và bà Trần Thị L đã sử dụng đất ổn định từ năm 1987 và giữa hai bên có ranh giới ổn định đã tồn tại hơn 30 năm mà không có tranh chấp; đến năm 2023, khi bà Trần Thị S muốn chuyển nhượng một phần đất cho người khác thì mới phát hiện việc diện tích đất của nguyên đơn đang sử dụng ít hơn so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được cấp và phát sinh tranh chấp với bị đơn.

Tòa án cấp sơ thẩm cho rằng ông Nguyễn Bá T, bà Trần Thị L lấn chiếm đất của bà Trần Thị S và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị S là đánh giá chứng cứ chưa toàn diện và không đúng với hiện trạng sử dụng đất của các đương sự. Do đó căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của bị đơn; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai; sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

[2] Về vi phạm tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm:

Các vi phạm về thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm đã được Tòa án cấp phúc thẩm bổ sung đầy đủ.

Đối với những vi phạm về tống đạt các văn bản tố tụng, ban hành quyết định tạm đình chỉ giải quyết vụ án, quyết định tiếp tục giải quyết vụ án và quyết định đưa vụ án ra xét xử chưa đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; người kháng cáo là ông Nguyễn Bá T và bà Trần Thị L nhưng chỉ có ông Nguyễn Bá T nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, những vi phạm này không ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự nên không cần thiết phải hủy bản án dân sự sơ thẩm.

[3] Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng: Do yêu cầu của nguyên đơn không được chấp nhận nên nguyên đơn phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm và 5.000.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ, định giá tài sản.

[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do Hội đồng xét xử phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm nên người kháng cáo không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 147, khoản 2 Điều 148, khoản 1 Điều 157, khoản 2 Điều 158, khoản 1 Điều 165, khoản 2 Điều 166 và khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 158, 163 và 175 của Bộ luật Dân sự;

Căn cứ các Điều 6, 100, 170, 202 và 203 của Luật đất đai;

Căn cứ khoản 1 Điều 26, điểm a khoản 2 Điều 27 và khoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận kháng cáo của ông Nguyễn Bá T và bà Trần Thị L; chấp nhận một phần kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai; sửa bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2024/DS-ST ngày 18-6-2024 của Tòa án nhân dân huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.
    1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị S về việc:
      • Buộc bị đơn là ông Nguyễn Bá T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Trần Thị L phải trả cho bà Trần Thị S phần diện tích đất lấn chiếm, có tứ cận như sau: Phía Đông giáp đường có cạnh dài 2,55m; phía Tây giáp đường có cạnh dài 1,47m; phía Nam giáp phần đất còn lại của bà Trần Thị S có cạnh dài 198,95m; phía Bắc giáp đất ông Nguyễn Bá T, bà Trần Thị L có kích thước 199,15m.
      • Buộc ông Nguyễn Bá T và bà Trần Thị L phải tháo dỡ toàn bộ cây trồng, bờ rào và hai ngôi mộ trên phần đất đang tranh chấp để trả lại nguyên trạng đất cho bà Trần Thị S.
    2. Về án phí dân sự sơ thẩm:

      Bà Trần Thị S phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào 625.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0010858 ngày 16-3-2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai; hoàn trả lại cho bà Trần Thị S 325.000 đồng.

    3. Về chi phí tố tụng:

      Bà Trần Thị S phải chịu toàn bộ chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản là 5.000.000 đồng. Bà Trần Thị S đã nộp đủ số tiền này.

  2. Án phí dân sự phúc thẩm:

    Ông Nguyễn Bá T và bà Trần Thị L không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Hoàn trả cho ông Nguyễn Bá T 300.000 đồng tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0012533 ngày 26-6-2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Mang Yang, tỉnh Gia Lai.

  3. Trường hợp quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
  4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • -VKSND tỉnh Gia Lai;
  • -TAND huyện Mang Yang;
  • -Chi cục THADS huyện Mang Yang;
  • -Đương sự;
  • - Lưu Tòa, lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cao Thị Thanh Huyền

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/DSPT ngày 29/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI về tranh chấp đòi lại đất lấn chiếm và buộc di dời mồ mã, cây trồng trên đất lấn chiếm

  • Số bản án: 119/2024/DSPT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp đòi lại đất lấn chiếm và buộc di dời mồ mã, cây trồng trên đất lấn chiếm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH GIA LAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Sửa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger