|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ TỈNH BÌNH PHƯỚC |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh Phúc |
|
Bản án số: 119/2024/HS-ST Ngày: 21/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Sơn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Trung Thành
Ông Phạm Văn Giới
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoài Thương – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước tham gia phiên tòa: Ông Lê Hoàng Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 114/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 110/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Ngô Thị Cẩm N (Tên gọi khác: không), sinh năm 1989 tại Bến Tre; giới tính: Nữ; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Chức vụ (Đoàn thể, đảng phái): Không; Nghề nghiệp: công nhân; Trình độ học vấn: 9/12; Họ và tên cha: Ngô Văn C; Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị N1; có chồng tên Lê Hữu T và có 04 con ruột (Lớn nhất sinh năm 2009, nhỏ nhất sinh năm 2019); Nơi cư trú: Ấp G, xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 24/10/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Nguyễn Xuân H, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
+ Đồng Thị Ngọc Y, sinh năm 1996; địa chỉ: Ấp F, xã M, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Hiện đang chấp hành án tại Trại giam A – Tổng cục V – Bộ C1. (Có mặt)
+ Trần Công T1, sinh năm 1984; địa chỉ: Khu phố B, phường T, thành phố Đ, tỉnh Bình Phước; hiện đang chấp hành án tại Trại giam Đ- Tổng cục V- Bộ C1. (Vắng mặt)
+ Nguyễn Xuân H1, sinh năm 1967; địa chỉ: Thôn C, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Phước. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 16/3/2020, Nguyễn Xuân H điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 93T5 – 3453 lưu thông trên đường Quốc lộ 14 theo hướng thành phố Đ đi huyện B, tỉnh Bình Phước. Khi đến đoạn đường trước nhà ông Lê Hữu T2 thuộc ấp C, xã Đ, huyện Đ thì tự ngã, dẫn đến H bị thương và được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh B còn xe mô tô của H được người dân đưa vào sân nhà của ông T2 để gửi. Khoảng 18 giờ cùng ngày, Ngô Thị Cẩm N thấy xe mô tô BKS 93T5 – 3453 của H để ở sân, có chìa khóa sẵn trên xe nên nảy sinh ý định đem xe mô tô đi cầm cố lấy tiền tiêu xài. Sau đó, N điều khiển xe mô tô BKS 93T5 – 3453 đến cầm cố cho một người đàn ông (không rõ nhân thân, lai lịch) tại tiệm game bắn cá thuộc phường T, thành phố Đ được số tiền 2.200.000 đồng (hai triệu hai trăm nghìn đồng). Đến khoảng 21 giờ 00 phút cùng ngày, N nhờ Đồng Thị Ngọc Y đến tiệm game bắn cá để bán xe mô tô BKS 93T5 – 3453. Sau đó, Y gọi điện thoại cho Trần Công T1 đến chuộc lại xe rồi bán cho T1 với giá 3.000.000 đồng (ba triệu đồng). Số tiền 800.000 đồng (tám trăm nghìn đồng) còn dư sau khi bán xe Y trả tiền taxi hết 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) và cấn trừ 600.000 đồng (sáu trăm nghìn đồng) N còn nợ Y. Sau đó, T1 đã bán xe mô tô trên cho L (không rõ nhân thân, lai lịch) với giá 4.000.000 đồng. Đối với Y sau khi biết xe do N phạm tội mà có thì Y đã trả lại cho N số tiền 800.000 đồng.
Theo Kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐG ngày 23/6/2020, của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng hình sự huyện Đ, kết luận: 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Future, màu đen, xám, biển kiểm soát: 93T5 – 3453, số máy: C35E-2719283, số khung: 35098Y007953, có giá trị là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Tại bản Cáo trạng số: 113/CT-VKS ngày 04/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú truy tố bị cáo Ngô Thị Cẩm N về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như Cáo trạng đã đề cập và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Cẩm N phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, I, s khoản 1 Điều 51; các điều 38, 50, 65 của Bộ luật hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Ngô Thị Cẩm N từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù, cho hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đã nhận thức được hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra, truy tố, các hành vi, quyết định của cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với khai của bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở nhận định: Ngày 16/3/2020, do muốn có tiền tiêu xài cá nhân nên Ngô Thị Cẩm N đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô BKS 93T5 – 3453 của anh Nguyễn Xuân H, tại ấp C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Bình Phước. Trị giá tài sản bị chiếm đoạt là 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).
Như vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú đối với bị cáo Ngô Thị Cẩm N là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo nhận thức và làm chủ hành vi của mình, bị cáo biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và sẽ bị pháp luật nghiêm trị, nhưng vì muốn chiếm đoạt tài sản của người khác mà không phải lao động, nên bị cáo vẫn cố tình thực hiện, thể hiện bị cáo có ý thức coi thường pháp luật. Vì vậy, cần có loại và mức hình phạt nghiêm mới có đủ tác dụng giáo dục, cải tạo, răn đe và phòng ngừa tội phạm, đảm bảo được tính nghiêm minh của pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Sau khi phạm tội và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải; bị cáo đã bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có con còn nhỏ, lao động chính trong gia đình. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, được Hội đồng xét xử xem xét, áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi quyết định hình phạt.
Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, nên xét không cần phải áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà chỉ cần giao bị cáo về chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để quản lý, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với bị cáo.
Do bị cáo không có thu nhập ổn định nên miễn xử phạt bổ sung cho bị cáo là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự:
Tại phiên tòa, bị cáo và ông Nguyễn Xuân H đã thỏa thuận được với nhau về việc bị cáo bồi thường cho ông H 10.000.000 đồng (Gồm số tiền 4.000.000 đồng bị cáo đã giao cho ông H và 6.000.000 đồng bị cáo đã nộp khắc phục hậu quả). Việc thỏa thuận như trên là hoàn toàn tự nguyện, đúng quy định của pháp luật, nên được Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6] Về vật chứng của vụ án:
Đối với vật chứng, gồm 01 (một) đăng ký xe mô tô, xe máy BKS 93T5 – 3453 là của ông Nguyễn Xuân H1, nên tuyên trả cho ông H1 là phù hợp.
Đối với số tiền 4.000.000 đồng do Trần Công T1 giao nộp trong quá trình điều tra, nay Trần Công T1 yêu cầu được hoàn trả số tiền trên. Xét yêu cầu trên là có căn cứ, nên tuyên trả cho Trần Công T1 là phù hợp.
[7] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước đề nghị về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và đề nghị mức hình phạt như trên là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
[8] Về án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm: Bị cáo Ngô Thị Cẩm N phải chịu theo luật định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Ngô Thị Cẩm N phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 38, 50, 65 của Bộ luật Hình sự;
Xử phạt bị cáo Ngô Thị Cẩm N 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 03 (Ba) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Ngô Thị Cẩm N cho Ủy ban nhân xã H, huyện M, tỉnh Bến Tre quản lý, giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về Thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo và ông Nguyễn Xuân H1: Buộc bị cáo Ngô Thị Cẩm N phải bồi thường cho ông Nguyễn Xuân H1 số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng), được khấu trừ vào số tiền bị cáo đã giao cho ông H1 là 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng) và số tiền bị cáo đã tự nguyện giao nộp để khắc phục hậu quả là 6.000.000 đồng (Sáu triệu đồng) theo biên lai thu tiền số 005207, ngày 01/7/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đồng Phú, tỉnh Bình Phước.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng các điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tuyên :
Trả cho ông Nguyễn Xuân H1 01 (một) Giấy đăng ký xe mô tô, xe máy số 027959, biển kiểm soát 93T5 – 3453, mang tên Nguyễn Xuân H1.
Trả cho ông Trần Công T1 số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng).
Về án phí : Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo Ngô Thị Cẩm N phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án, bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo luật định.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lê Văn Sơn |
Bản án số 119/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 119/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỒNG PHÚ, TỈNH BÌNH PHƯỚC
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngô Thị Cẩm N - Trộm cắp tài sản
