TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 119/2024/HSST
Ngày 06/11/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHÓ HÀ NỘI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Thịnh Quang Trung
- - Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Hải Hoàng
- 2. Ông Trần Văn Khánh
- - Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Công – Thư ký Toà án nhân dân huyện Mê Linh.
- - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Thùy Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 06/11/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Mê Linh, thành phố Hà Nội xét xử công khai sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 117/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2004 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 121/2024/QĐXXST-HS ngày 23 tháng 10 năm 2024 đối với:
1. Bị cáo họ và tên: Lê Hồng P, sinh ngày 24/7/2006, tại Hà Nội; giới tính: nam; Nơi cư trú: thôn K, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 07/12; Con ông: Lê Hồng M và bà Nguyễn Thị Thúy V (bố mẹ đã ly hôn); Theo D chỉ bản số 358 lập ngày 16/9/2024 và lý lịch bị can xác định bị cáo không có tiền án, có 01 tiền sự:
- - Tại Quyết định số 111/QĐ-XPHC ngày 05/7/2021, Công an huyện M, thành phố Hà Nội xử phạt vi phạm hành chính 300.000 đồng về hành vi đánh nhau, nộp phạt ngày 11/9/2023.
- - Ngày 29/02/2024, Cơ quan Cảnh Sát điều tra – Công an huyện M khởi tố bị can về tội Gây rối trật tự công cộng.
- - Ngày 04/04/2024, Cơ quan Cảnh Sát điều tra – Công an huyện M khởi tố bị can, bắt tạm giam về tội Giết người. Hiện đang do Cơ quan Cảnh Sát điều tra Công an thành phố H thụ lý.
Bị cáo hiện đang tạm giam trong vụ án Giết người. Có mặt tại phiên tòa.
2. Bị cáo họ và tên: Nguyễn Anh H, sinh ngày 28/6/2005, tại Hà Nội; giới tính: nam; Nơi cư trú: thôn P, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 11/12; Con ông: Nguyễn Anh D1 và bà Lê Ngọc H1 (đã ly hôn); Theo Danhbản số 357 lập ngày 16/9/2024 và lý lịch bị can xác định bị cáo không có tiền sự, có 01 tiền án: Tại Bản án số 148/2024/HSST ngày 20/8/2024, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội xử phạt 25 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 50 tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt tại phiên tòa.
3. Bị hại: Anh Trần Minh H2, sinh ngày 01/10/2006; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Minh Đ, sinh năm 2001; Nơi cư trú: thôn T, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
5. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Lê Hồng P: bà Nguyễn Thị Thúy V, sinh năm 1984. Nơi cư trú: thôn K, xã V, huyện M, thành phố Hà Nội. Có mặt.
6. Người đại diện hợp pháp cho bị cáo Nguyễn Anh H: ông Nguyễn Anh D1, sinh năm 1984. Nơi cư trú: thôn P, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 01/3/2023, anh Trần Minh H2 có đơn trình báo Cơ quan Công an về việc: Ngày 19/02/2023, anh H2 cho Nguyễn Anh H mượn 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen - bạc, biển kiểm soát 29Z1 - 756.50 nhưng không trả. Căn cứ vào đơn trình báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M đã điều tra làm rõ:
Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 19/02/2023, Nguyễn Anh H cùng Lê Hồng P đến chơi điện tử tại tầng hai quán I ở thôn P, xã T, huyện M, thành phố Hà Nội. Đến khoảng 12 giờ 00 phút cùng ngày, Trần Minh H2 điều khiển chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen - bạc, biển kiểm soát 29Z1 - 756.50 mượn của anh trai là anh Trần Minh Đ đến quán I. Tại đây, H2 gặp H và Nguyễn Anh H hỏi mượn H2 chiếc xe mô tô trên để đi mua đồ và hẹn sẽ trả xe ngay, H2 đồng ý, giao chìa khóa xe mô tô cho H và H2 cũng nhờ H đi mua hộ H2 bộ bài tú lơ khơ luôn. Khi Nguyễn Anh H chuẩn bị đi thì Lê Hồng P hỏi H cho đi nhờ xe để đi lấy đồ. Sau đó, Nguyễn Anh H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen - bạc, biển kiểm soát 29Z1 - 756.50 chở Lê Hồng P đi mua đồ. Trên đường đi, do đang cần tiền tiêu xài nên Lê Hồng P nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe mô tô trên để bán lấy tiền. P rủ H mang bán chiếc xe mô tô trên để lấy tiền chia nhau. Sau đó, H và P mang chiếc xe mô tô đó đến cửa hàng mua bán xe máy, điện thoại cũ “Toàn M1” của anh Nguyễn Văn T (Sinh năm: 1991, trú tại: thôn P, xã K, huyện M, thành phố Hà Nội) để bán. Tại đây, H giới thiệu với anh T việc H là con bố D1 gần nhà anh T và có bạn là P có chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen - bạc, biển kiểm soát 29Z1 - 756.50 muốn bán. H và P hứa sẽ mang giấy tờ xe đến giao cho T sau nên T đồng ý mua chiếc xe mô tô này với giá 5.000.000 đồng và yêu cầu P viết giấy mua bán xe. Sau khi bán được xe, P chia cho H 2.500.000 đồng rồi cùng nhau bỏ trốn và tiêu xài cá nhân hết.
Đến khoảng 17 giờ 57 phút cùng ngày, anh Trần Minh H2 không thấy H mang trả xe mô tô nên đã gọi điện thoại, nhắn tin qua ứng dụng mạng xã hội Facebook cho H để đòi xe nhưng H không mang xe về trả. Sau đó, H2 tìm cách liên lạc và đến nhà H nhiều lần để đòi xe nhưng không được. Đến ngày 01/03/2023, anh H2 gửi đơn đến Công an xã T, huyện M đề nghị giải quyết.
Quá trình giải quyết, Nguyễn Anh H vắng mặt tại địa phương. Đến ngày 22/05/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện M mới làm việc được với Nguyễn Anh H.
Tại cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện M, Nguyễn Anh H và Lê Hồng P đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như đã nêu trên.
Tại Bản kết luận định giá tài sản số 43/KL-HĐĐGTS ngày 27/4/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện M, kết luận:
Chiếc xe máy nhãn hiệu Honda Wave Alpha, biển kiểm soát 29Z1 - 756.50, đăng ký lần đầu 13/7/2022 có giá trị là 17.100.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 5879/KL-KTHS ngày 16/8/2024 của Phòng K - Công an thành phố H kết luận:
“Chữ viết tại các mục: “Tên khách hàng”, “Địa chỉ”, chữ ký, chữ viết dòng họ tên Lê Hồng P (dưới chữ ký) trên mẫu cần giám định ký hiệu A là chữ do người có mẫu chữ viết, chữ ký đứng tên Lê Hồng P trên các tài liệu ký hiệu M1, M2 viết và ký ra.
Không đủ cơ sở kết luận chữ viết phần nội dung (trừ chữ viết tại các mục: “Tên khách hàng”, “Địa chỉ”) trên mẫu cần giám định ký hiệu A là chữ do ai trong số 02 người có mẫu chữ viết, chữ ký đứng tên Lê Hồng P, Nguyễn Anh H trên các tài liệu ký hiệu từ M1 đến M4 viết ra.”
Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen - bạc, biển kiểm soát 29Z1 - 756.50: khoảng tháng 11 năm 2023, anh Nguyễn Văn T đã bán cho một người khách qua đường với giá 800.000 đồng nên Cơ quan điều tra không thu giữ được. Quá trình điều tra xác định: Khi anh T mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave Alpha, màu đen - bạc, biển kiểm soát 29Z1 - 756.50, không biết chiếc xe này là do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Tại Bản Cáo trạng số 116/CT-VKSÐA ngày 14/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh đã quyết định truy tố các bị cáo Lê Hồng P, Nguyễn Anh H về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Điểm b Khoản 1 Điều 175 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa:
Các bị cáo Lê Hồng P, Nguyễn Anh H khai nhận hành vi phạm tội như nội dung đã nêu. Bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt. Khi được nói lời nói sau cùng, bị cáo ăn năn hối cải và các bị cáo mong nhận được sự khoan hồng của pháp luật để bị cáo có cơ hội cải tạo trở thành người tốt cho xã hội.
Bà Nguyễn Thị Thúy V trình bày việc bị cáo P phạm tội bà không biết, bà thường xuyên ốm đau phải đi viện, vợ chồng bà đã ly hôn, P ở với bà nên bị cáo P thiếu sự quan tâm của gia đình. Bà mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo P.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh giữ quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích nội dung, tính chất của vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Áp dụng: Điểm b KhoảnĐiều 175; điểm s Khoản, Khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luậtsự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Lê Hồng P từ 12 tháng đến 15 tháng tù.
- - Áp dụng: Điểm b KhoảnĐiều 175; điểm b, s Khoản, Khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 101 Bộ luậtsự năm 2015. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh H từ 09 tháng đến 12 tháng tù.
Các bị cáo không có việc làm ổn định nên không áp dụng phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.
Về phần dân sự: đã được giải quyết xong nên không xem xét giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Các cơ quan tiến hành tố tụng của huyện M thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền và các quy định khác về điều tra, truy tố và xét xử. Kết luận điều tra của Công an M, Quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Mê Linh, tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Đối với anh Nguyễn Văn T quá trình điều tra Cơ quan Cảnh Sát điều tra đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi không làm thủ tục đăng ký sang tên xe, không xử lý về hình sự và anh T cũng không có yêu cầu gì về phần dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử không đưa anh T vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
[2] Về hành vi và tội danh của bị cáo: Lời khai nhận của các bị cáo Lê Hồng P, Nguyễn Anh H tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử thấy có đủ căn cứ để kết luận: khoảng 12 giờ ngày 19/02/2023, tại quán I thuộc thôn P, xã T, huyện M, Nguyễn Anh H đã mượn chiếc xe mô tô nhãn hiện Honda Wave Alpha, màu đen - bạc, biển kiểm soát 29Z1 - 756.50 của anh Trần Minh H2 trị giá 17.100.000 đồng và chở Lê Hồng P đi giải quyết việc cá nhân. Trên đường đi, do cần tiền tiêu xài nên P đã rủ H bán chiếc xe đã mượn của anh H2 lấy tiền tiêu xài. Sau đó, P và H cửa hàng mua bán xe máy, điện thoại cũ Toàn M1 bán chiếc xe máy trên cho anh Nguyễn Văn T (chủ cửa hàng) được 5.000.000 đồng. Bán được xe P chia cho H 2.500.000 đồng. Anh T không biết chiếc xe máy này là do phạm tội mà có. Anh H2 đã gọi điện, nhắn tin cho H để đòi chiếc xe máy nhưng H không trả. Ngoài ra không chứng minh được các bị cáo có lần phạm tội nào khác.
Như vậy hành vi của các bị cáo Lê Hồng P, Nguyễn Anh H đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, được quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 175 Bộ luật hình sự 2015. Điều luật quy định:
“1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:
1. ...b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản”...
[3] Hành vi Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi nguy hiểm đã trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người bị hại, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật, nhưng vì tham lam tư lợi đã cố tình thực hiện.
[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
- - Về nhân thân và tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
- - Các bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là: các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo H đã khắc phục hậu quả do mình gây ra nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo P, bị cáo H khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ của người dưới 18 tuổi.
[5] Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự Hội đồng xét xử thấy: hành vi của các bị cáo cần thiết phải áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với các bị cáo mới có tác dụng răn đe giáo dục và phòng ngừa chung. Xét trong vụ án này 02 bị cáo cùng thực hiện hành vi phạm tội và hưởng lợi như nhau nên đánh giá các bị cáo có vai trò ngang nhau nhưng bị cáo H có nhiều tình tiết giảm nhẹ hơn bị P nên chịu mức hình phạt thấp hơn bị cáo P và áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Phong thấp hơn Viện kiểm sát đề nghị, bị cáo H như Viện kiểm sát đề nghị là phù hợp.
Các bị cáo không có việc làm nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Khi phạm tội bị cáo P và bị cáo H mỗi bị cáo được hưởng lợi 2.500.000 đồng. Bị cáo H đã khắc phục hậu qủa cho bị hại 6.000.000 đồng nên không buộc bị cáo H phải nộp lại số tiền do phạm tội mà có. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu gì khác về phần dân sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử không xét về phần dân sự nhưng thấy cần thiết phải truy thu số tiền do bị cáo P phạm tội mà có 2.500.000 đồng để sung vào ngân sách Nhà nước là phù hợp.
[7] Về án phí: các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[8] Về quyền kháng cáo: các bị cáo, người bị hại, người đại diện hợp pháp cho các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh và hình phạt:
- - Tuyên bố các bị cáo Lê Hồng P, Nguyễn Anh H phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
- - Căn cứ vào Điểm b Khoản 1 Điều 175, Điểm s Khoản 1 Điều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt: Bị cáo Lê Hồng P 10 (mười) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
- - Căn cứ vào Điểm b Khoản1 Điều 175, Điểmb, s KhoảnĐiều 51; Điều 91; Điều 101; Điều 38 Bộ luật Hìnhsự:
- Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
2. Về trách nhiệm dân sự, án phí:
Căn cứ Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án xử:
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bị cáo phải bồi thường và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
Buộc bị cáo Lê Hồng P phải nộp lại số tiền do phạm tội mà có 2.500.000 đồng để sung vào ngân sách nhà nước
Các bị cáo Lê Hồng P, Nguyễn Anh H phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo, bà V có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và ông D1 có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật về phần có liên quan./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN | THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bản án số 119/2024/HSST ngày 06/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Số bản án: 119/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN MÊ LINH – THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lê Hồng P và Nguyễn Anh H phạm tội Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản
