TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ TỈNH PHÚ THỌ Bản án số: 119/2024/HSST Ngày 31-10-2024 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHÓ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tùng.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông: Đào Văn Kiểm
- Ông: Nguyễn Duy Tính
- Thư ký phiên toà: Bà Dương Vũ Hồng Anh - Thư ký tòa án Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Bích Hạnh - Kiểm sát viên.
Ngày 31 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 114/2024/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 129/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2024 đối với:
Bị cáo: Nguyễn Văn M, sinh năm 1992 tại thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nơi cư trú và chỗ ở: Tổ A, phố Đ, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1962 và con bà Khổng Thị T (đã chết); có vợ: Nguyễn Thị Hồng N, sinh năm 1997 và 02 con, con lớn sinh năm 2017 con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/07/2024, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố V, tỉnh Phú Thọ (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 11 giờ 20 phút ngày 11/07/2024, tổ công tác Công an phường B làm nhiệm vụ kiểm tra tại Tổ A, khu M, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, phát hiện bị cáo Nguyễn Văn M có biểu hiện vi phạm pháp luật. Quá trình kiểm tra bị cáo tự giác giao nộp 01 túi nilong màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu xanh, bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng và tự khai nhận đây là ma túy đá, mục đích để sử dụng cho bản thân. Tại chỗ, tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang với bị cáo, niêm phong và thu giữ 01 túi ma túy có đặc điểm nêu trên theo quy định. Ngoài ra còn thu giữ của bị cáo: 01 điện thoại di động Iphone màu trắng, đen đã cũ số IMEI: 359282706205649 kèm sim trong máy số 0976.606.663 và tiền Việt Nam: 1.000.000 đồng. Cùng ngày Công an phường B đã tiến hành kiểm tra xét nghiệm ma túy bằng que thử nước tiểu đối với bị cáo. Kết quả dương tính, bị cáo có sử dụng ma túy đá.
Tại bản Kết luận giám định số 967/KL-KTHS ngày 14/7/2024 của Phòng K - Công an tỉnh P kết luận:
“Chất rắn dạng tinh thể màu trắng chứa trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có khuy bấm, viền màu xanh trong bì niêm phong gửi đến giám định là ma túy, có khối lượng là 2,698gam, loại Methamphetamine. Methamphetamine: Số thứ tự 247, danh mục IIC, Nghị định số 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất”.
Về nguồn gốc số ma túy đã thu giữ khi bắt quả tang, bị cáo khai nhận: Do bản thân có nhu cầu sử dụng ma túy đá nên khoảng 10 giờ ngày 11/7/2024, bị cáo một mình bắt xe ôm của người đàn ông không quen biết sang khu vực cổng làng thuộc xã Đ, huyện B, thành phố Hà Nội để tìm mua Methamphetamine (bị cáo hay gọi là ma túy đá). Tại đây, bị cáo gặp và hỏi mua của một người đàn ông giới thiệu tên là T1 01 gói ma túy có đặc điểm là túi nilong màu trắng, một đầu có khuy bấm viền màu xanh bên trong có chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng là ma túy đá với giá 5.000.000 đồng. Sau đó T1 đi đâu bị cáo không biết, bị cáo cầm số ma túy vừa mua được cất vào túi quần bên phải rồi bắt xe ôm của người không quen biết ở ven đường để đi về. Khi đến cụm khu công nghiệp B thuộc Tổ A, khu M, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ, bị cáo xuống xe đi bộ một đoạn để tìm chỗ sử dụng ma túy thì bị Tổ công tác Công an phường B kiểm tra, lập biên bản và thu giữ vật chứng, tài sản như đã nêu trên. Ngoài ra, bị cáo khai nhận bản thân đã bắt đầu sử dụng ma túy từ năm 2022, lần gần nhất bị cáo sử dụng ma túy là khoảng một tuần trước khi bị bắt ngày 11/7/2024, bị cáo đã mua ma túy với giá 500.000 đồng của một người đàn ông không quen biết tại huyện B, thành phố Hà Nội.
Đối với người đàn ông bán ma túy cho bị cáo ngày 08/7/2024 và người đàn ông đã bán ma túy cho bị cáo ngày 11/7/2024 tại huyện B, thành phố Hà Nội, do bị cáo không biết họ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể, ngoài những lời khai của bị cáo không có tài liệu nào khác chứng minh nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V không đủ căn cứ để xác minh làm rõ, xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của bị cáo M. Ngày 30/8/2024, Công an thành phố V đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với bị cáo bằng hình thức Cảnh cáo.
Quá trình điều tra, truy tố bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, lời khai của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã thu thập được trong hồ sơ vụ án
Cáo trạng số 119/CT-VKSVT ngày 08/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, tỉnh Phú Thọ đã truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa,
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng đã truy tố. Thừa nhận Bản kết luận giám định số 967/KL-KTHS ngày 14/7/2024 của Phòng K Công an tỉnh P là đúng.
Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy", tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt chính: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy" quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, thời hạn tù tính từ ngày 11/7/2024.
- Về hình phạt bổ sung: Áp dụng Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự: Tịch thu 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, đen đã cũ số IMEI: 359282706205649 và số tiền 1.000.000 đồng của M.
[2]. Về xử lý vật chứng, tài sản: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm b khoản 2, điểm a khoản 3 Điều 106 BLTTHS:
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 967/KL-KTHS của Phòng K - Công an tỉnh P chứa 2,032 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng;
- Trả lại cho bị cáo 01 sim số 0976.606.663 là sim của bị cáo Nguyễn Văn M. Bị cáo không sử dụng vào việc liên hệ mua bán ma túy, tại phiên tòa bị cáo đề nghị được nhận lại sim số này.
c. Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/20216 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, bị cáo nói lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn, hối hận về hành vi phạm tội của mình, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo có cơ hội sửa chữa lỗi lầm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an thành phố V, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Việt Trì, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng đã được tống đạt cho bị cáo đúng thời hạn do pháp luật quy định. Do đó, các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
[2] Về nội dung:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp với lời khai của người làm chứng, hiện trường nơi xảy ra sự việc và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận:
Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 11/7/2024, tại tổ A, khu M, phường B, thành phố V, tỉnh Phú Thọ bị cáo đã có hành vi tàng trữ trái phép 2,698 gam ma túy, loại Methamphetamine với mục đích để sử dụng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, trực tiếp xâm phạm chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các loại thuốc gây nghiện, xâm phạm trật tự, an toàn xã hội và tính mạng, sức khỏe con người, sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc. Bị cáo đã thành niên, có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết được hành vi phạm tội của mình là sai trái nhưng vẫn cố ý thực hiện.
Xem xét nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng: Bị cáo M có nhân thân tốt. Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa hôm nay bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình nên bị cáo được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào
Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy: Tuy bị cáo có nhân thân tốt nhưng hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo xâm phạm chế độ độc quyền chế độ thống nhất quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy và các loại thuốc gây nghiện. Ma túy là nguyên nhân chính đã đến nhiều tệ nạn xã hội gây mất an ninh trật tự xã hội, ảnh hưởng sức khỏe của con người, sự phát triển bình thường của nòi giống dân tộc. Vì vậy, cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ răn đe, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho gia đình và xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì người phạm tội có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng...tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy bị cáo không có việc làm, thu nhập ổn định. Tuy nhiên, bị cáo đang bị tạm giữ số tiền 1.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, đen đã cũ, số IMEI: 359282706205649, đã qua sử dụng là tài sản riêng của bị cáo nên cần áp dụng hình phạt bổ sung tịch thu sung công quỹ tiền và điện thoại này là phù hợp.
Về vật chứng vụ án và biện pháp tư pháp:
Đối với 2,032 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng là mẫu vật còn lại sau khi giám định cùng toàn bộ bao gói gửi đến giám định đã được niêm phong của Phòng K là vật chứng của vụ án, là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp.
Đối với 01 sim số 0976606663 thu giữ của bị cáo: Đây là sim của bị cáo. Bị cáo không sử dụng để liên lạc mua ma túy, sim số này không có giá trị. Tại phiên tòa, Bị cáo đề nghị được trả lại sim số này nên cần chấp nhận đề nghị của bị cáo là phù hợp.
Đối với số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, đen đã cũ, số IMEI: 359282706205649 thu giữ của bị cáo: Tài sản này đã bị áp dụng biện pháp bổ sung tịch thu sung quỹ nhà nước nên không xem xét giải quyết.
Đối với người đàn ông tên T1 bán ma túy cho bị cáo: Do bị cáo không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của người đàn ông này nên cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố V chưa xác định được người đàn ông này. Vì vậy, Cơ quan cảnh sát điều tra không xem xét xử lý trong cùng vụ án này là phù hợp.
[3] Về án phí: Bị cáo phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Xét đề nghị của Kiểm sát viên về căn cứ pháp luật, trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng và án phí là phù hợp. Đối hình phạt mà Viện kiểm sát đề nghị đúng so với hành vi phạm tội, nhân thân và thái độ của bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1, khoản 5 Điều 249, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm c khoản 2 Điều 106, khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 24 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/07/2024.
Về hình phạt bổ sung: Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 1.000.000đ (Một triệu đồng) và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone màu trắng, đen đã cũ, số IMEI: 359282706205649 của bị cáo Nguyễn Văn M.
[2]. Về xử lý vật chứng, biện pháp tư pháp:
Tịch thu và tiêu hủy: 01 bì niêm phong số 967/KL-KTHS của phòng K Công an tỉnh P chứa 2,032 gam chất rắn dạng tinh thể màu trắng cùng toàn bộ bao gói gửi đến phòng K Công an tỉnh P hoàn trả lại sau giám định;
Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn M 01 sim số 0976.606.663 của bị cáo.
(Vật chứng trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì theo biên bản bàn giao ngày 11/10/2024 giữa Công an thành phố V với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì)
(Số tiền trên đang tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì theo biên lai thu tiền số 0004806 ngày 11/10/2024 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Việt Trì)
[3] Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra xem xét giải quyết.
[4] Về án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Nguyễn Văn M phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án, bị cáo có mặt có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thanh Tùng |
Bản án số 119/2024/HSST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 119/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ VIỆT TRÌ, TỈNH PHÚ THỌ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn M phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
