Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2024 / HS-ST

Ngày 31 tháng 10 năm 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lư Thị Châu Ngọc

Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Phước Cường và bà Huỳnh Thoại My My.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Công Trí, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lâm Hải Huy, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 107/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Phạm Đình H, sinh năm 1984, tại C - An Giang; nơi cư trú: tổ C, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: 01/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đình H1 và bà Ngô Thị Đ; vợ Nguyễn Thị Kim X, con có 02 người, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2017.

Tiền án, tiền sự: không; nhân thân: Ngày 16/7/2004, Tòa án nhân dân thị xã (nay là thành phố) Châu Đốc xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, đã chấp hành xong, được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 14/8/2024 cho đến nay, hiện đang bị tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an thành phố C (có mặt).

Bị hại:

  • - Bà Lê Trương Mỹ P, sinh năm 1997, nơi cư trú: tổ C, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang (có mặt);
  • - Ông Đặng Sĩ H2, sinh năm 1970, nơi cư trú: số A, đường H, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt)
  • - Bà Lê Thị Tuyết O, sinh năm 1982, nơi cư trú: số A, đường H, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (vắng mặt).

Người làm chứng: Ông Lê Văn L, sinh năm 1951 (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 05 giờ ngày 14/8/2024, Phạm Đình H đi bộ ngang nhà ông Lê Văn L, thuộc tổ C, khóm C, phường C B, thành phố C nhìn thấy nhà mở cửa không người trông coi nảy sinh ý định vào nhà tìm tài sản lấy trộm. H vào nhà thấy H2 nằm ngủ, bên cạnh có 01 điện thoại di động hiệu Redme 9T, màu đen, H vén mùng lấy điện thoại bỏ vào túi quần đang mặc. Xong, tiếp tục đi lại chỗ tủ thờ ở giữa nhà thấy có 02 điện thoại di động để trên tủ, H lấy 02 điện thoại trên bỏ vào túi quần. Sau đó, nghe tiếng động bên ngoài cửa nên chạy vào bếp trốn thì bị ông L phát hiện, ông L tri hô H sợ bỏ chạy ra ngoài trốn thoát. Cùng ngày H đến Công an phường C đầu thú và giao nộp 03 điện thoại đã lấy trộm.

Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Redme 9T, màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Realme C21 - Y, màu đen; 01 điện thoại di động hiệu Itel Vision 1 pro, màu xanh (đã giao trả bị hại).

Kết quả khám nghiệm hiện trường và bản ảnh đã lưu giữ phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Tại kết luận định giá tài sản số 2093/KL-ĐG ngày 21/8/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố C, kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Redme 9T, màu đen, giá trị 1.217.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Realme C21 - Y, màu đen, giá trị 1.200.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Itel Vision 1 pro, màu xanh, giá trị 500.000 đồng. Tổng giá trị 2.917.000 đồng.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác.

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo H khai nhận phù hợp với nội dung vụ án đã nêu trên.

Tại Cáo trạng số 101/CT-VKSCĐ-HS ngày 11/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc đã truy tố Phạm Đình H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Phạm Đình H khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung cáo trạng đã nêu, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị hại và người làm chứng vắng mặt nhưng quá trình điều tra đều khai nhận phù hợp với nội dung Cáo trạng đã nêu trên. Về hình phạt bị hại đề nghị Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật. Còn về phần trách nhiệm dân sự, bị hại không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thêm gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát luận tội đối với bị cáo, giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Đình H từ 09 tháng đến 01 năm tù, về tội “Trộm cắp

tài sản”; Bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng các bị hại đã nhận lại tài sản không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác nên không đề cập.

Bị cáo Phạm Đình H không có tranh luận và bào chữa gì, chỉ xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

- Đối với hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên và Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

- Tại phiên tòa, bị hại và người làm chứng đều vắng mặt. Xét thấy, sự vắng mặt của họ không gây trở ngại đến việc xét xử của vụ án. Căn cứ Điều 292, 293 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về nội dung: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp lời khai của bị hại, người làm chứng về thời gian, địa điểm, thủ đoạn, mục đích, động cơ phạm tội và hậu quả do tội phạm gây ra, cùng các tang vật đã thu giữ, các tài liệu chứng cứ khác được thu thập khách quan đúng pháp luật có trong hồ sơ vụ án. Do đó có đủ căn cứ để kết luận:

Khoảng 05 giờ ngày 14/8/2024, tại khu vực tổ C, khóm C, phường C, thành phố C, tỉnh An Giang, bị cáo Phạm Đình H đã có hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại Lê Trương Mỹ P, Đặng Sĩ H2 và Lê Thị Tuyết O. Tổng giá trị tài sản giá trị 2.917.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Đình H đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm (tội phạm ít nghiêm trọng).

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác và gây mất trật tự trị an và an toàn cho xã hội, làm quần chúng nhân dân lên án và bất bình.

[4] Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của người phạm tội, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Lẽ ra phải lao động tích cực, rèn luyện tu dưỡng để trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Nhưng ngược lại, vì muốn có tiền tiêu xài mà không phải lao động nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản với lỗi cố ý. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng với mức độ nghiêm trọng của tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã thành khẩn khai báo và thực sự ăn năn hối cải, học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế, đầu thú, sau khi phạm tội đã tự nguyện nộp lại toàn bộ tài sản chiếm đoạt để trả lại cho bị hại. Đây là các tình tiết để giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Xét thấy: Trước khi phạm tội bị cáo là người có nhân thân xấu, đã 01 lần bị Tòa án kết án về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Điều đó chứng tỏ bị cáo là người rất coi thường pháp luật, không biết ăn năn hối cải để hoàn lương. Cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa để buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù một thời gian mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, người công dân có ích cho xã hội.

[5] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000đ đến 50.000.000đ. Xét thấy, bị cáo không có tài sản, nghề nghiệp và thu nhập ổn định nên Hội đồng xét xử quyết định miễn hình phạt bổ sung cho các bị cáo.

[6] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng: Các bị hại đã nhận lại tài sản chiếm đoạt, nay không yêu cầu bồi thường gì khác, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét giải quyết tiếp.

[7] Về các vấn đề khác: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Phạm Đình H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Phạm Đình H 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo được tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam (ngày 14/8/2024).

Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; bị cáo Phạm Đình H phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tỉnh AG;
  • - Viện KSND tỉnh AG;
  • - Viện KSND thành phố;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Nhà Tạm giữ;
  • - Phòng hồ sơ;
  • - Chi cục THADS thành phố;
  • - Bộ phận THA Tòa án;
  • - UBND cấp xã nơi BC cư trú;
  • - Bị cáo;
  • - Bị hại;
  • - Lưu hồ sơ;
  • - Lưu văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Lư Thị Châu Ngọc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024 / HS-ST ngày 31/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)

  • Số bản án: 119/2024 / HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố bị cáo phạm tội trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger