Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Y

TỈNH H

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

ĐỘC LẬP - TỰ DO - HẠNH PHÚC

***

Bản án số: 119/2024/HS-ST

Ngày: 22-10-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH H

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị T
  • Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Minh Đ và ông Lê Xuân Th
  • - Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Bá Th - Thư ký viên chính Tòa án nhân dân huyện Y.
  • - Đại diện VKSND huyện Yên Mỹ tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Ngọc T - Kiểm sát viên.

Trong ngày 22/10/2024, tại trụ Tòa án nhân dân huyện Y, tỉnh H mở phiên tòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 112/2024/TLST -HS ngày 03 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024, đối với các bị cáo:

  1. Phạm Quý H, sinh năm 1983; STQ: Thôn Y, xã D, huyện G, TP .; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Quý H1, sinh năm 1958 và bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1960; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ: Đào Thị H2, sinh năm 1983; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2008, con nhỏ sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/7/2024 đến ngày 31/7/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  2. Hoàng Văn C, sinh năm 1991; STQ: Thôn X, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Văn L, sinh năm: 1969 và bà Trần Thị L1, sinh năm: 1967; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là thứ ba; Vợ: Nguyễn Thị N1, sinh năm 1991 (đã ly hôn); Bị cáo có 01 con sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Bản án số 07/2014/HSST ngày 21/01/2014 của Toà án nhân dân huyện Y, tỉnh H xử phạt bị cáo C 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Đánh bạc (đã xoá án tích); Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/7/2024 đến ngày 31/7/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

  3. Tạ Hữu T1, sinh năm 1982; STQ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tạ Hữu A, sinh năm: 1956 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm: 1956; Gia đình có 3 anh chị em, bị cáo là thứ ba; Vợ: Phạm Thị N2, sinh năm 1985; Bị cáo có 02, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2018; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 66/QĐ-XPHC ngày 29/01/2021 của Công an huyện Y, tỉnh Hưng Yên xử phạt Tạ Hữu T1 750.000đồng về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản (đã chấp hành xong ngày 31/5/2021); Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/7/2024 đến ngày 31/7/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

  4. Phan Văn T2, sinh năm 1994; STQ: Thôn Y, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phan Văn K1 ( đã chết) và bà Hoàng Thị K2, sinh năm 1964; Gia đình có 5 anh chị em, bị cáo là thứ năm; Vợ: Tạ Thị Y, sinh năm 1992; Bị cáo chưa có con; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/7/2024 đến ngày 31/7/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  5. Trần Văn L2, sinh năm 1991; STQ: Thôn V, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn H3, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị L3, sinh năm 1962; Gia đình có 4 anh chị em, bị cáo là thứ tư; Vợ: Nguyễn Thị Hương L4, sinh năm 1992; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2014, con nhỏ sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/7/2024 đến ngày 31/7/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  6. Nguyễn Phi K3, sinh năm 1987; STQ: Thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Huy P, sinh năm 1952 và bà Phạm Thị X, sinh năm 1952; Gia đình có 4 anh em, bị cáo là thứ tư; Vợ: Trần Thị Thanh T3, sinh năm 1991; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2013; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/7/2024 đến ngày 31/7/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  7. Vy Văn T4, sinh năm 1993; HKTT: Thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Chỗ ở: Thôn L, xã L, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 8/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vy Văn T5, sinh năm 1973 và bà Vy Thị S, sinh năm 1973; Gia đình có 3 anh em, bị cáo là thứ nhất; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/7/2024 đến ngày 31/7/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  8. Tạ Hữu Đ, sinh năm 1980; STQ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Tạ Hữu A, sinh năm 1956 và bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1956; Gia đình có 3 anh chị em, bị cáo là thứ hai; Vợ: Đỗ Thị M, sinh năm 1980; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2005, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/7/2024 đến ngày 31/7/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  9. Nguyễn Viết H4, sinh năm 1982; STQ: Thôn T, xã D, huyện G, TP Hà Nội; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Viết M1 ( đã chết) và bà Quách Thị H5, sinh năm 1961; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ: Tạ Thị Q, sinh năm 1983; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2006, con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/7/2024 đến ngày 31/7/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
  10. Nguyễn Văn B, sinh năm 1987; STQ: Thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hoá: 12/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T6, sinh năm 1959 và bà Phạm Thị S1, sinh năm 1965; Gia đình có 2 anh em, bị cáo là thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị Kim D, sinh năm 1994; Bị cáo có 02 con, con lớn sinh năm 2018, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 22/7/2024 đến ngày 31/7/2024 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.

Tất cả các bị cáo đều có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Công ty TNHH Đ2

Địa chỉ: Số C liền kề A, khu đô thị M, phường P, quận H, TP .. Nguời đại diện theo pháp luật: Ông Dương Văn S2, sinh năm 1965 - Giám đốc. Nguời đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quang T7, sinh năm 1977 - Phó Giám đốc; Địa chỉ: A P, quận T, TP . (Vắng mặt).

* Người làm chứng:

  1. Ông Đỗ Xuân T8, sinh năm 1964.

    HKTT: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

  2. Anh Nguyễn Văn Đ1, sinh năm 1997.

    HKTT: Thôn V, xã V, huyện B, TP .

    Chỗ ở: Thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

  3. Anh Vương Văn N3, sinh năm 1994.

    HKTT: Thôn N, xã Đ, huyện T, tỉnh Quảng Ninh

    Chỗ ở: Thôn B, xã K, huyện G, tỉnh Hưng Yên.

  4. Anh Nguyễn Viết C1, sinh năm 1990.

    HKTT: Thôn T, xã D, huyện G, tỉnh Hưng Yên.

  5. Anh Trương Quốc C2, sinh năm 1981.

    HKTT: Đường C, xã C, TP ., tỉnh Kiên Giang.Chỗ ở: Thôn C, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

Đều vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 22/7/2024, tại thùng xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, BKS: 29H-268.48 đỗ ở bãi đỗ xe của Công ty M2 ở khu công nghiệp Y thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang Phạm Quý H, sinh năm 1983 ở thôn Y, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội; Nguyễn Văn B, sinh năm 1987 ở thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Nguyễn Viết H4, sinh năm 1982 ở thôn T, xã D, huyện G, thành phố Hà Nội; Nguyễn Phi K3, sinh năm 1987 ở thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Hoàng Văn C, sinh năm 1991 ở thôn X, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Vy Văn T4, sinh năm 1993 ở thôn K, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang; Tạ Hữu T1, sinh năm 1982 ở thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên; Phan Văn T2, sinh năm 1994 ở thôn Y, xã V, huyện K, tỉnh Hưng Yên; Tạ Hữu Đ, sinh năm 1980 ở thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên và Trần Văn L2, sinh năm 1991 ở thôn V, xã Đ, huyện H, tỉnh Thái Bình (đều là những lái xe và công nhân của Công ty Đ2 có địa chỉ Số C liền kề A, khu đô thị M, phường P, quận H, TP .) đang đánh bạc bằng hình thức chơi xóc đĩa sát phạt nhau bằng tiền.

Vật chứng thu giữ gồm: Tại vị trí các bị cáo ngồi đánh bạc số tiền 11.650.000đ (mười một triệu sáu trăm năm mươi nghìn đồng); 01 bát sứ màu trắng hình tròn, đường kính miệng bát 12cm; 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn, đường kính 18cm; 04 quân vị hình tròn đều có đường kính 1,5cm, một mặt màu xanh, một mặt màu đỏ có chữ đen và 01 tấm bìa carton màu vàng có kích thước (1x0,8)m. Tại vị trí góc thùng xe, gần cánh cửa thùng xe bên trái (cạnh vị trí các bị cáo ngồi đánh bạc) 01 chiếc kéo kim loại có chuôi bằng nhựa màu vàng; 01 bộ bài chắn gồm 98 quân bài và 01 xe ô tô nhãn hiệu ISUZU màu trắng, treo BKS: 29H-268.48; Thu giữ trên người các đối tượng đánh bạc tổng số tiền 17.700.000 đồng, gồm: của Nguyễn Phi K3 8.000.000 đồng; của Tạ Hữu T1 1.200.000 đồng; của Phạm Quý H 5.000.000 đồng; của Tạ Hữu Đ 1.500.000 đồng; của Hoàng Văn C 500.000 đồng; của Nguyễn Viết H4 1.000.000 đồng và của Nguyễn Văn B 500.000 đồng. Tổng số tiền sử dụng đánh bạc là 29.350.000 đồng.

Quá trình điều tra xác định: Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 22/7/2024 các bị cáo H, T2, L2, C, T1 do chưa nhận được hàng để đi giao nên cùng rủ nhau đánh bạc sát phạt bằng tiền dưới hình thức xóc đĩa. H là người chuẩn bị bát, đĩa. C là người cắt 04 quân vị quân bài chắn, một mặt màu xanh, một mặt màu đỏ có chữ màu đen, sau đó cùng lên thùng xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, loại xe 05 tấn, mang BKS: 29H-268.48 (không khoá cửa thùng) để ngồi đánh bạc. H là người xóc cái cho mọi người chơi và quy định cửa bên tay phải người xóc cái là cửa chẵn, cửa bên trái là cửa lẻ, mức đặt cửa thấp nhất là 50.000 đồng, ai đặt cao hơn tùy ý, quá trình chơi không có ai canh gác, bảo vệ. H cho 04 quân vị lên trên mặt đĩa, rồi úp bát vào đĩa và xóc, sau đó để bát đĩa xuống tấm bìa C3 để cho các người chơi đặt tiền vào các cửa chẵn hoặc lẻ. Khi mở bát ra nếu 02 quân vị màu đỏ và 02 quân vị màu xanh, 04 quân vị đều có màu đỏ hoặc 04 quân vị đều có màu xanh thì gọi là “chẵn”; Nếu 01 quân vị màu đỏ và 03 quân vị màu xanh hoặc 01 quân vị màu xanh và 03 quân vị màu đỏ thì gọi là “lẻ”. Người chơi nếu đặt đúng cửa thì thắng, được nhận số tiền tương đương số tiền đặt cược, nếu đặt sai cửa thì sẽ thua, bị mất số tiền đã đặt cược, người xóc cái sẽ thu tiền bên thua và trả cho bên thắng, thừa tiền thì người xóc cái được cầm về, nếu thiếu tiền thì phải bù. Khoảng 10 phút sau thì có các bị cáo B, H4, K3, T4 và Đ đến cùng tham gia đánh bạc. Quá trình đánh bạc các đối tượng đánh bạc không cắt cử ai canh gác, bảo vệ, không có ai thu tiền hồ. Ngoài các bị cáo tham gia đánh bạc còn có các anh Trương Quốc C2, Nguyễn Viết C1, Nguyễn Văn Đ1, Vương Văn N3 đứng bên dưới sân của Công ty, có mặt ở đó nhưng không tham gia chơi đánh bạc. Đến khoảng 11 giờ 20 phút cùng ngày, Công an huyện Y đến kiểm tra phát hiện bắt quả tang về hành vi đánh bạc và thu giữ các vật chứng liên quan.

Số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc như sau: Phạm Quý H sử dụng số tiền 5.650.000 đồng; Hoàng Văn C sử dụng số tiền 2.000.000 đồng; Nguyễn Văn B sử dụng số tiền 800.000 đồng; Nguyễn Viết H4 sử dụng số tiền 1.750.000 đồng; Nguyễn Phi K3 sử dụng số tiền 8.000.000 đồng; Vy Văn T4 sử dụng số tiền 2.500.000 đồng; Tạ Hữu T1 sử dụng số tiền 2.600.000 đồng; Phan Văn T2 sử dụng số tiền 2.200.000 đồng; Tạ Hữu Đ sử dụng số tiền 2.000.000 đồng; Trần Văn L2 sử dụng số tiền 1.850.000 đồng.

Tổng số tiền các bị cáo Phạm Quý H, Hoàng Văn C, Tạ Hữu T1, Phan Văn T2, Trần Văn L2, Nguyễn Phi K3, Vy Văn T4, Tạ Hữu Đ, Nguyễn Viết H4, Nguyễn Văn B sử dụng để đánh bạc là 29.350.000 đồng (Hai mươi chín triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).

Vật chứng vụ án:

  • 01 bát sứ màu trắng hình tròn, đường kính miệng bát 12cm; 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn, đường kính 18cm; 04 quân vị hình tròn đều có đường kính 1,5cm, một mặt màu xanh, một mặt màu đỏ có chữ đen và 01 tấm bìa carton màu vàng có kích thước (1x0,8)m, 01 chiếc kéo kim loại có chuôi bằng nhựa màu vàng; 01 bộ 98 quân bài chắn hiện đang được bảo quản tại Kho vật chứng công an huyện Y. Số tiền 29.350.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng để đánh bạc, hiện đang tạm gửi tại tài khoản tạm gửi của Công an huyện Y tại K huyện Y.
  • Đối với 01 xe ô tô nhãn hiệu ISUZU màu trắng, treo BKS: 29H-268.48, số máy: 4HK10AM760, số khung: RLEN1R75MKV100798 là tài sản hợp pháp thuộc quyền sở hữu của Công ty TNHH Đ2 có địa chỉ tại: 37LK12, KĐTM V, phường P, quận H, thành phố Hà Nội. Việc các bị cáo sử dụng xe ô tô trên làm nơi thực hiện hành vi Đánh bạc thì Công ty không biết. Quá trình xác minh xác định chiếc xe ô tô trên có đầy đủ giấy tờ hợp lệ, không là vật chứng của vụ án dân sự hay hình sự nào, Công ty đã có Đơn xin trả lại tài sản là chiếc xe ô tô nêu trên. Ngày 30/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định xử lý vật chứng bằng hình thức trả chiếc xe ô tô trên cho Công ty trách nhiệm hữu hạn Đ2.

Đối với anh Vương Văn N3 được Công ty TNHH Đ2 giao xe ô tô nhãn hiệu ISUZU màu trắng, treo BKS: 29H-268.48 không biết các đối tượng chơi đánh bạc tại thùng xe nên không xem xét xử lý.

Đối với anh Trương Quốc C2, Nguyễn Viết C1, Nguyễn Văn Đ1, Vương Văn N3 quá trình điều tra xác định không chơi mà chỉ xem các bị cáo đánh bạc.

Tại cơ quan điều tra tất cả các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn số: 117/QĐ-VKS-YM, ngày 02 tháng 10 năm 2024 của Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Yên Mỹ đã truy tố các bị cáo về tội Đánh bạc theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa hôm nay:

Các bị cáo có mặt và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như tại cơ quan điều tra, đều tỏ thái độ ăn năn hối cải và đều xin được giảm nhẹ hình phạt. Các bị cáo H, C, T1, K3 có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình và xin cải tạo tại địa phương. Các bị cáo T2, L2, Đ, B, T4, H4 có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình và xin hình phạt tiền.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH Đ2 do ông Nguyễn Quang T7, sinh năm 1977 - Phó Giám đốc là người đại diện theo ủy quyền vắng mặt không có lý do.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố cả 10 bị cáo phạm tội “Đánh bạc”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điều luật và mức hình phạt đối với từng bị cáo như sau:

  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS năm 2015; Điều 92 Luật THAHS đối với các bị cáo: Phạm Quý H, Tạ Hữu T1, Nguyễn Phi K3.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS năm 2015; Điều 92 Luật THAHS đối với bị cáo Hoàng Văn C.
  • Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 BLHS năm 2015 đối với các bị cáo Phan Văn T2, Trần Văn L2, Vy Văn T4, Tạ Hữu Đ, Nguyễn Viết H4, Nguyễn Văn B.

Về hình phạt:

Xử phạt:

  • - Phạm Quý H, Hoàng Văn C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 06 tháng tù nhưng cho các bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm.
  • - Tạ Hữu T1, Nguyễn Phi K3 từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù nhưng cho các bị cáo hưởng án treo, thời gian thử thách từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng.
  • - Phan Văn T2 từ 25.000.000đồng đến 30.000.000đồng sung ngân sách Nhà nước.
  • - Trần Văn L2, Vy Văn T4, Tạ Hữu Đ, Nguyễn Viết H4, Nguyễn Văn B từ 20.000.000đồng đến 25.000.000đồng sung ngân sách Nhà nước.

Giao bị cáo Phạm Quý H cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện G, TP . nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Hoàng Văn C cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Tạ Hữu T1 cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Phi K3 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Nếu các bị cáo thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này

Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều có nghề nghiệp là lái xe, công nhân, thu nhập thấp, không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với 10 bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 29.350.000 đồng (Hai mươi chín triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) là số tiền sử dụng vào việc đánh bạc của các bị cáo.
  • - Tịch thu, cho tiêu hủy 01 bát sứ màu trắng hình tròn, đường kính miệng bát 12cm; 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn, đường kính 18cm; 04 quân vị hình tròn đều có đường kính 1,5cm, một mặt màu xanh, một mặt màu đỏ có chữ đen và 01 tấm bìa carton màu vàng có kích thước (1x0,8)m, 01 chiếc kéo kim loại có chuôi bằng nhựa màu vàng; 01 bộ 98 quân bài chắn là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Bộ luật Tố tụng hình sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở xem xét đầy đủ chứng cứ, tài liệu điều tra đã được thẩm tra công khai, kết quả tranh luận, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của các bị cáo tại phiên toà.

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về thủ tục tố tụng: Các bị cáo và đại diện VKSND huyện Yên Mỹ đều đề nghị tiếp tục xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử thấy rằng: Sự vắng mặt của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng tại phiên tòa hôm nay không ảnh hưởng đến việc xét xử các bị cáo. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt những người trên là phù hợp quy định tại Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[2]. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản vụ việc; lời khai của người làm chứng. Như vậy, HĐXX đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 20 phút ngày 22/7/2024, tại thùng xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, BKS: 29H-268.48 đỗ ở bãi đỗ xe của Công ty M2 ở khu công nghiệp Y thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên, Công an huyện Y phát hiện bắt quả tang Phạm Quý H, Hoàng Văn C, Tạ Hữu T1, Phan Văn T2, Trần Văn L2, Nguyễn Phi K3, Vy Văn T4, Tạ Hữu Đ, Nguyễn Viết H4, Nguyễn Văn B cùng tham gia đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “xóc đĩa”, tổng số tiền mà 10 bị cáo sử dụng đánh bạc là 29.350.000 đồng (Hai mươi chín triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng). Hành vi của các bị cáo Phạm Quý H, Hoàng Văn C, Tạ Hữu T1, Phan Văn T2, Trần Văn L2, Nguyễn Phi K3, Vy Văn T4, Tạ Hữu Đ, Nguyễn Viết H4, Nguyễn Văn B bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Mỹ truy tố về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự như Quyết định truy tố theo thủ tục rút gọn là hoàn toàn có căn cứ đúng người, đúng tội.

Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi đánh bạc được thua bằng tiền là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ tư lợi, các bị cáo vẫn bất chấp vi phạm. Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, gây mất trật tự an ninh ở địa phương, xâm phạm trật tự an toàn xã hội. Đánh bạc là một tệ nạn xã hội, là nguyên nhân phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác, làm sa sút kinh tế và làm tha hoá đạo đức con người, ảnh hưởng đến hạnh phúc, kinh tế của nhiều gia đình. Nên cần xét xử các bị cáo nghiêm phải có hình phạt thoả đáng, tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo mới đáp ứng được yêu cầu phòng ngừa tội phạm.

Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử cũng xem xét đến tính chất mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo, số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, xem xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo để quyết định một hình phạt phù hợp đối với từng bị cáo:

Về vai trò của các bị cáo: Trong vụ án này tất cả các bị cáo là người tham gia đánh bạc, việc đánh bạc là bột phát, không có người chủ mưu, khởi xướng. Các bị cáo cùng rủ nhau đánh bạc tại tại thùng xe ô tô tải nhãn hiệu ISUZU, BKS: 29H-268.48 đỗ ở bãi đỗ xe của Công ty M2 ở khu công nghiệp Y thuộc địa phận thôn L, xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

Nhân thân của các bị cáo: Bị cáo Hoàng Văn C đã bị Toà án nhân dân huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo thời gian thử thách 01 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm về tội Đánh bạc tại bản án số 07/2014/HSST ngày 21/01/2014 đã được xoá án tích; Bị cáo Tạ Hữu T1 ngày 29/01/2021 bị Công an huyện Y, tỉnh Hưng Yên xử phạt 750.000đồng về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản đã chấp hành xong ngày 31/5/2021, các bị cáo còn lại đều có nhân thân tốt. Tất cả các bị cáo không có tiền án, tiền sự.

Về việc sử dụng số tiền vào việc đánh bạc của các bị cáo là không lớn và cụ thể như sau: Phạm Quý H 5.650.000 đồng; Hoàng Văn C 2.000.000 đồng; Nguyễn Văn B 800.000 đồng; Nguyễn Viết H4 1.750.000 đồng; Nguyễn Phi K3 8.000.000 đồng; Vy Văn T4 2.500.000 đồng; Tạ Hữu T1 2.600.000 đồng; Phan Văn T2 2.200.000 đồng; Tạ Hữu Đ 2.000.000 đồng; Trần Văn L2 1.850.000 đồng.

Từ hành vi phạm tội, nhân thân và số tiền sử dụng vào việc đánh bạc thì thấy: Bị cáo Phạm Quý H là người xóc cái và chuẩn bị bát, đĩa sứ để cho các bị cáo đánh bạc, bị cáo Hoàng Văn C là người chuẩn bị và cắt 04 quân vị quân bài chắn, một mặt màu xanh, một mặt màu đỏ có chữ màu đen, bị cáo C có nhân thân xấu từng bị xét xử về tội đánh bạc nên hình phạt của các bị cáo này bằng nhau và phải chịu hình phạt cao nhất. Tiếp đến là bị cáo Tạ Hữu T1 tham gia từ đầu có nhân thân xấu từng bị xử phạt về hành vi Cố ý làm hư hỏng tài sản, bị cáo Nguyễn Phi K3 sử dụng số tiền đánh bạc nhiều nhất nên hình phạt của các bị cáo này là bằng nhau và sau bị cáo H và bị cáo C. Tiếp đến là bị cáo Phan Văn T2 tham gia đánh bạc từ đầu nên sẽ bị áp dụng hình phạt cao hơn các bị cáo còn lại. Các bị cáo còn lại là: Tạ Hữu Đ, Nguyễn Viết H4, Nguyễn Văn B, Trần Văn L2, Vy Văn T4 sử dụng số tiền đánh bạc ít hơn nên sẽ bị áp dụng hình phạt bằng nhau.

Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tất cả các bị cáo tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa đều thành khẩn khai báo và tỏ thái độ ăn năn hối cải. Các bị cáo Phạm Quý H, Tạ Hữu T1, Phan Văn T2, Trần Văn L2, Nguyễn Phi K3, Vy Văn T4, Tạ Hữu Đ, Nguyễn Viết H4, Nguyễn Văn B đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Nên sẽ áp dụng những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 cho 09 bị cáo được hưởng. Riêng bị cáo Hoàng Văn C đã từng bị xét xử về tội đánh bạc nên bị cáo C chỉ được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phiên Tòa tất cả các bị cáo đều nộp đơn trình bày hoàn cảnh gia đình, trong đó các bị cáo H, C, T1, K3 xin cải tạo tại địa phương. Các bị cáo T2, L2, Đ, B, T4, H4 xin được áp dụng hình phạt tiền. Bị cáo Phan Văn T2 có ông nội là Phan Văn Q1 được Hội đồng bộ trưởng tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất chống Mỹ cứu nước; Bị cáo Hoàng Văn C có ông nội là liệt sĩ chống Mỹ cứu nước Hoàng Văn B1 và có mẹ đẻ là bà Trần Thị L1 đang được hưởng trợ cấp xã hội là người tàn tật mất khả năng lao động. Nên, Hội đồng xét xử áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xét thấy các bị cáo H, T1, K3 không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu, có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình và xin được cải tạo tại địa phương, đơn có xác nhận của chính quyền địa phương; bị cáo C không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình khó khăn có ông nội là liệt sĩ chống Mỹ cứu nước Hoàng Văn B1 và có mẹ đẻ là bà Trần Thị L1 đang được hưởng trợ cấp xã hội là người tàn tật mất khả năng lao động có xác nhận của chính quyền địa phương nên Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải cách ly các bị cáo H, T1, K3, C khỏi đời sống xã hội mà sẽ áp dụng quy định tại khoản 1, 2 Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 cho các bị cáo được hưởng án treo và phải chịu một thời gian thử thách dưới sự giám sát của chính quyền địa phương thể hiện sự khoan hồng của pháp luật, đồng thời vẫn đảm bảo được mục đích tác dụng của hình phạt.

Đối với các bị cáo T2, L2, Đ, B, T4, H4 không có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, có nơi cư trú rõ ràng, phạm tội lần đầu, số tiền tham gia đánh bạc không lớn và đều có đơn trình bày hoàn cảnh gia đình xin được áp dụng hình phạt tiền nên Hội đồng xét xử xét thấy chỉ cần áp dụng Điều 35 Bộ luật hình sự để áp dụng hình phạt tiền đối với các bị cáo cũng đảm bảo tính răn đe của pháp luật.

[3]. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo nghề nghiệp là lái xe, công nhân thu nhập không ổn định, vì vậy Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[4]. Về vật chứng của vụ án: Số tiền nước 29.350.000 đồng (Hai mươi chín triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng) thu tại vị trí đánh bạc và thu trong người các bị cáo là tiền mà các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước.

Số tiền 29.350.000 đồng hiện gửi tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên tại Kho bạc nhà nước huyện Y, tỉnh Hưng Yên.

Đối với 01 bát sứ màu trắng hình tròn, đường kính miệng bát 12cm; 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn, đường kính 18cm; 04 quân vị hình tròn đều có đường kính 1,5cm, một mặt màu xanh, một mặt màu đỏ có chữ đen và 01 tấm bìa carton màu vàng có kích thước (1x0,8)m, 01 chiếc kéo kim loại có chuôi bằng nhựa màu vàng; 01 bộ 98 quân bài chắn là công cụ các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc nên cần áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, cho tiêu hủy.

Ngày 30/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả cho Công ty TNHH Đ2 01 xe ô tô nhãn hiệu ISUZU màu trắng, treo BKS: 29H-268.48, số máy: 4HK10AM760, số khung: RLEN1R75MKV100798. Công ty TNHH Đ2 không có đề nghị gì nên không đặt giải quyết.

[5]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

[6]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định tại Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn Cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS năm 2015; Điều 92 Luật THAHS; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo: Phạm Quý H, Tạ Hữu T1, Nguyễn Phi K3.

Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; khoản 1, 2, 5 Điều 65 BLHS năm 2015; Điều 92 Luật THAHS; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với bị cáo Hoàng Văn C.

Khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 35 BLHS năm 2015; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án đối với các bị cáo Phan Văn T2, Trần Văn L2, Vy Văn T4, Tạ Hữu Đ, Nguyễn Viết H4, Nguyễn Văn B.

Tuyên bố: Các bị cáo Phạm Quý H, Hoàng Văn C, Tạ Hữu T1, Phan Văn T2, Trần Văn L2, Nguyễn Phi K3, Vy Văn T4, Tạ Hữu Đ, Nguyễn Viết H4, Nguyễn Văn B phạm tội “Đánh bạc”.

Xử phạt:

  • - Phạm Quý H, Hoàng Văn C mỗi bị cáo 01( Một) năm 03 (ba) tháng tù nhưng cho các bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (Hai) năm 06 ( Sáu) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Tạ Hữu T1, Nguyễn Phi K3 mỗi bị cáo 01 ( Một) năm tù nhưng cho các bị cáo hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 ( Hai) năm, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
  • - Phan Văn T2 30.000.000đồng ( Ba mươi triệu đồng) nộp Ngân sách Nhà nước.
  • - Trần Văn L2, Vy Văn T4, Tạ Hữu Đ, Nguyễn Viết H4, Nguyễn Văn B mỗi bị cáo 25.000.000đồng ( Hai mươi lăm triệu đồng) nộp Ngân sách Nhà nước.

Giao bị cáo Phạm Quý H cho Ủy ban nhân dân xã D, huyện G, TP . nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Hoàng Văn C cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Tạ Hữu T1 cho Ủy ban nhân dân xã Y, huyện Y, tỉnh Hưng Yên nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Giao bị cáo Nguyễn Phi K3 cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Hưng Yên nơi cư trú giám sát giáo dục trong thời gian thử thách.

Nếu các bị cáo thay đổi nơi cư trú trong thời gian thử thách thì thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật thi hành án hình sự năm 2019.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này

Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a, b khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, b khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

  • - Tịch thu sung Ngân sách Nhà nước số tiền 29.350.000 đồng (Hai mươi chín triệu ba trăm năm mươi nghìn đồng).
  • (Hiện số tiền này gửi tại tài khoản của Chi cục thi hành án dân sự huyện Yên Mỹ, tỉnh Hưng Yên tại Kho bạc nhà nước huyện Y, tỉnh Hưng Yên).
  • - Tịch thu, cho tiêu hủy: 01 bát sứ màu trắng hình tròn, đường kính miệng bát 12cm; 01 đĩa sứ màu trắng hình tròn, đường kính 18cm; 04 quân vị hình tròn đều có đường kính 1,5cm, một mặt màu xanh, một mặt màu đỏ có chữ đen và 01 tấm bìa carton màu vàng có kích thước (1x0,8)m, 01 chiếc kéo kim loại có chuôi bằng nhựa màu vàng; 01 bộ 98 quân bài chắn.
  • (Tình trạng, đặc điểm vật chứng theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/10/2024 giữa Công an huyện Y, tỉnh Hưng Yên và Chi cục Thi hành dân sự huyên Y, tỉnh Hưng Yên).

Về án phí: Buộc các bị cáo Phạm Quý H, Hoàng Văn C, Tạ Hữu T1, Phan Văn T2, Trần Văn L2, Nguyễn Phi K3, Vy Văn T4, Tạ Hữu Đ, Nguyễn Viết H4, Nguyễn Văn B, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc ngày niêm yết bản sao bản án theo quy định.

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Thị T

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 119/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH H về đánh bạc

  • Số bản án: 119/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Đánh bạc
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN MỸ, TỈNH H
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Phạm Quý H và 9 bị cáo phạm tội đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger